Báo cáo " Các quy phạm Luật Quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc gia" - Pdf 10

Tạp chí Khoa học đhqghn, Kinh tế Luật, T.xxI, Số 2, 2005

Các quy phạm Luật Quốc tế
trong hệ thống pháp luật quốc gia
Lê Văn Bính
Nếu nh trong toán học có khái niệm
về hai đờng thẳng song song, thì trong
luật học có khái niệm về hai hệ thống pháp
luật (HTPL): Luật quốc gia và Luật quốc
tế. Hai đờng thẳng song song đó có cắt
nhau hay không và cắt nhau ở đâu? còn là
vấn đề tranh luận trong toán học, mặc dù
đã có quan điểm chứng minh rằng chúng
sẽ gặp nhau ở điểm vô cùng. Vậy, còn
trong luật học hai HTPL chúng có mối
quan hệ với nhau nh thế nào trong việc
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang
tính quốc gia và quốc tế và trong từng
trờng hợp cụ thể hiệu lực quy phạm pháp
lý của hệ thống nào cao hơn?. Học thuyết
này thì cho rằng đó là hai hệ thống độc lập,
học thuyết khác lại khẳng định cả hai hệ
thống đó là một và theo quan điểm khác
thì đó là hai hệ thống cùng song hành tồn
tại độc lập nhng không phải là tuyệt đối.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ ba
này, nhng vấn đề ở chỗ là cha có học
thuyết nào trong thực tiễn khoa học pháp
lý quốc tế khẳng định luật quốc tế nằm ở vị
trí nào trong hệ thống pháp luật quốc gia
(HTPLQG), mặc dù pháp luật của nhiều

,
.3). Ngoài ra, từ lâu toà án đã áp
dụng tập quán quốc tế, điều đó đã đợc
khẳng định trong các văn bản của toà án
tối cao: Luật quốc tế là một bộ phận của
HTPLQG và nó cần đợc áp dụng trong
việc giải quyết các vụ việc của toà án trong
các trờng hợp khi mà quyền và trách
nhiệm có liên quan đến các quy phạm của
luật quốc tế điều chỉnh [15]
Trong HTPL của Mỹ, luật quốc tế có
một vị trí rất quan trọng đợc áp dụng để
giải quyết các vụ việc ở toà án, các quy
phạm ĐƯQT đợc chia thành hai loại là
quy phạm điều ớc (QPĐƯ) có thể áp dụng
trực tiếp và QPĐƯ không thể áp dụng trực

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T.XXI, Số 2, 2005

tiếp. Trờng hợp thứ nhất, toà án có thể áp
dụng trực tiếp theo các văn bản của các cơ
quan hành pháp và lập pháp, nhng các cơ
quan này không mong muốn đảm bảo sự
phù hợp của các văn bản này với các
QPĐƯ (quan điểm này đã xuất hiện trong
những năm gần đây và đợc thể hiện trong
khi phê chuẩn ĐƯQT, Tổng thống hoặc là
Thợng viện tuyên bố ĐƯQT không đợc
áp dụng) [6, p.515]; Trờng hợp thứ hai,
toà án không áp dụng luật quốc tế dờng

2. áp dụng quy phạm luật quốc tế ở
Liên Xô trớc đây và ở Nga hiện nay
Việc chuyển hoá luật quốc tế vào luật
quốc nội ở mỗi quốc gia có sự khác nhau,
điều đó đợc thể hiện ngay trong các đạo
luật của quốc gia mình nh ở Liên Xô trớc
đây, Nga hiện nay và ở một số quốc gia
khác. Hiến pháp Liên Xô năm 1977 quy
định Quan hệ của Liên Xô với các quốc gia
khác đợc xây dựng trên cơ sở nguyên tắc
cùng tự nguyện thực hiện các cam kết quốc
tế phù hợp với các nguyên tắc và quy phạm
của luật quốc tế và đ
ợc cụ thể hoá trong
các ĐƯQT mà Liên Xô ký kết
( 1977. .29). Nhng
Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp
luật (VBQPPL) khác không quy định việc
toà án Liên Xô đợc quyền trực tiếp áp
dụng luật quốc tế. Hiến pháp năm 1977 và
Luật về ĐƯQT của Liên Xô năm 1978 lại
có điều khoản quy định cho phép Hội đồng
Bộ trởng và các bộ ngành chức năng tuỳ
theo thẩm quyền luật định để áp dụng việc
thực hiện các cam kết quốc tế đã đợc
chuyển hoá vào luật quốc gia (
1977. . 128, 131
6
)[20, Ct.21]. Toà
án Xô Viết không thờng xuyên áp dụng

luật quốc tế thờng đợc u tiên áp dụng
hơn so với luật quốc gia.
Hiến pháp Nga năm 1993 đã khẳng
định: Các nguyên tắc chung, các quy
phạm luật quốc tế và ĐƯQT mà Nga là
một bên ký kết hoặc tham gia là một bộ
phận của HTPLQG. Nếu ĐƯQT có những
quy phạm quy định khác so với luật hiện
hành thì u tiên áp dụng theo quy phạm
ĐƯQT (phần IV Điều 15); quyền tự do
của con ngời và quyền công dân đợc công
nhận và đảm bảo phù hợp với các nguyên
tắc cơ bản và các quy phạm của luật quốc
tế và phù hợp với hiến pháp Nga (Khoản 1
Điều 17). Mặc dù còn rất sớm để đa ra kết
luận về những điều khoản nêu trên có đợc
thực thi trong thực tiễn cuộc sống hay
không và ở mức độ nào vì cuộc sống vẫn
tiếp diễn và các sự kiện xã hội đang diễn ra
thờng xuyên.
Luật về ĐƯQT năm 1995 đã ghi nhận
ĐƯQT mà Nga ký kết, tham gia hoặc gia
nhập hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc
chung và các quy phạm luật quốc tế, phù
hợp với hiến pháp và `là một bộ phận của
HTPLQG. ĐƯQT thực hiện vai trò ổn
định trật tự pháp luật quốc tế, đảm bảo
mối quan hệ giữa Nga với các quốc gia
khác trên thế giới và thực hiện chức năng
của nhà nớc pháp quyền. Việc tuân thủ

và những QPTQ đã thiết lập nên cộng
đồng quốc tế nói chung, tức là đại diện cho
đại đa số các quốc gia và trở thành các quy
phạm bắt buộc chung.
Thực tiễn đã chứng minh việc áp dụng
các nguyên tắc chung trong hoạt động xét
xử ở các toà án, ví dụ, trong Quyết định
của toà án hiến pháp ngày 31/7/1995 [4,
Ct.3224] đã áp dụng những nguyên tắc
chung đợc viện dẫn từ Tuyên ngôn của
Liên hiệp quốc năm 1970. Các nguyên tắc
và các quy phạm luật quốc tế đợc cụ thể

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T.XXI, Số 2, 2005

hoá vào hiến pháp và là một bộ phận của
HTPLQG, nhng việc xác định vị trí của
nó trong HTPLQG là điều cần bàn luận.
Để trả lời cho câu hỏi này cần phân tích
mối quan hệ giữa hai HTPL và quan hệ xã
hội mà chúng cùng điều chỉnh. Hiến pháp
và các VBPL khác quy định nhân dân Nga
là một bộ phận của cộng đồng thế giới;
Luật về ĐƯQT năm 1995 cũng khẳng định
nguyên tắc Pacta Sunt Servanda là
nguyên tắc chủ đạo và yêu cầu các quốc gia
tuân thủ nguyên tắc này trong hoạt động
lập pháp và hành pháp. Hiến pháp đã cụ
thể hoá những quyền cơ bản của con ngời,
những quyền mà ngay cả Quốc hội cũng

ớc cần phê chuẩn. Luật quy định những
điều ớc cần phê chuẩn là điều ớc mà nội
dung của nó trái với luật quốc gia (Tiết a
Khoản 1 Điều 15), việc phê chuẩn điều ớc
đã đợc khẳng định trong hiến pháp
(Khoản 4 Điều 15), trong luật về ĐƯQT
(Ct.15) và trong Quyết định của Hội đồng
thẩm phán toà án tối cao ngày 31/10/1995:
Những quy định khác của điều ớc chỉ
đợc áp dụng trong trờng hợp nếu các
cam kết trong điều ớc đợc thông qua
dới dạng luật liên bang.
Hiến pháp không quy định cụ thể điều
kiện phê chuẩn điều ớc, nhng trên thực
tế điều ớc cần phải phê chuẩn là: Thứ
nhất, việc thực hiện điều ớc sẽ dẫn đến sự
thay đổi trong HTPLQG, tức là phải ban
hành những văn bản mới; Thứ hai, điều
ớc chỉ có hiệu lực đối với những trờng
hợp cụ thể, không ảnh hởng đến quy định
của pháp luật hiện hành; Thứ ba, điều ớc
đó không đợc u tiên áp dụng trớc
luật, mà chỉ u tiên áp dụng trong trờng
hợp cụ thể (Tiết a Khoản 1 Điều 15 Luật
về ĐƯQT). Nh vậy, ĐƯQT phải đợc phê
chuẩn là điều ớc mà khi thực hiện nó phải
thay đổi hoặc phải ban hành đạo luật liên
bang mới, hoặc ban hành những quy phạm
mới so với luật hiện hành. Việc áp dụng
QPĐƯ mà cần phải thay đổi luật quốc nội

khăn về kinh tế, không ổn định về chính
trị, mâu thuẩn sung đột sắc tộc, khủng bố,
vấn đề Chechinha và các phe phái chính
trị đối lập nhau trên chính trờng v.v đã
cảnh báo cho chúng ta thấy rằng không rễ
đặt vấn đề chính sách đối ngoại dới sự
kiểm tra giám sát của luật quốc tế và hiệu
quả của nó đến đâu còn là vấn đề của thời
gian, của mỗi quốc gia và của cộng đồng
quốc tế.
3. áp dụng luật quốc tế ở một số quốc
gia trên thế giới
Pháp luật của các quốc gia Anh, Pháp
thờng áp dụng pháp luật nớc ngoài khi
có sung đột pháp luật và tuân thủ nguyên
tắc Pacta Sunt Servanda và trực tiếp áp
dụng quy phạm luật quốc tế trong giải
quyết các vụ việc ở toà án, nhng trong
những trờng hợp cần thiết, cơ quan t
pháp của các quốc gia đó có thể không áp
dụng khi cho rằng giải quyết vụ việc đó
không cần phải áp dụng pháp luật nớc
ngoài nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng
của đơng sự [14, tr.88].
Các QPTQ còn đợc quy định trong
điều ớc và trong các văn bản quốc tế
không có hiệu lực pháp lý nh trong các
Nghị quyết của tổ chức quốc tế. Ví dụ, hai
Công ớc về quyền con ngời có quy chế
pháp lý nh nhau, nhng Công

luận khác nhau về sự chuyển hoá các quy
phạm luật quốc tế vào HTPLQG: Thứ
nhất, cần chuyển hoá toàn bộ các nguyên
tắc và các quy phạm của luật quốc tế vào

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T.XXI, Số 2, 2005

HTPLQG; Thứ hai, không cần chuyển hoá
toàn bộ vì các nguyên tắc và các quy phạm
đó chỉ điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia.
Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý
quốc tế cho rằng việc chuyển hoá vào
HTPLQG là cần thiết và đã làm cho chúng
có ý nghĩa pháp lý mới. Chẳng hạn nh,
Hiến pháp Nga đã khẳng định rằng các cơ
quan quyền lực nhà nớc đều tuân thủ các
nguyên tắc và các quy phạm này, đồng thời
hiến pháp đảm bảo cho sự tuân thủ các
nguyên tắc và các quy phạm đó.
Luật của Đức quy định Không thể phá
vỡ và tớc đoạt quyền con ngời vì con
ngời là nền tảng của mỗi xã hội, của hoà
bình và công lý (Ct.11). Trong các quốc
gia dân chủ hiến pháp đều quy định các
quyền cơ bản của con ngời, còn những
quyền khác mà không đợc quy định trong
hiến pháp thì đợc áp dụng theo luật quốc
tế [5, p.2]. Ví dụ, Hiến pháp quy định
nguyên tắc chung của pháp luật (non bis in
idem) trong trờng hợp nh: Không ai bị

phạm ĐƯQT không phải có hiệu lực pháp
lý song song với HTPLQG mà nó chỉ đợc
áp dụng phù hợp với mục đích cụ thể trong
một trật tự tố tụng nhất định.
Khoa học pháp lý quốc tế đã chứng
minh rằng có QPĐƯ đợc áp dụng trực
tiếp và có quy phạm không áp dụng trực
tiếp. Ví dụ, ĐƯQT về sự hợp tác trong lĩnh
vực sinh thái học, một trong những điều
khoản của ĐƯQT quy định là hàng tháng
các bên phải báo cáo với nhau về trạng thái
khí quyển - đây là quy phạm quy định các
bên tự thực hiện. Còn quy phạm quy định
các bên tiến hành những biện pháp cần
thiết để bảo vệ môi trờng thì không phải
nh vậy.
Một vấn đề đặt ra là cần xác định mối
quan hệ pháp lý giữa điều ớc với văn bản
mà quốc gia ban hành để thực hiện điều
ớc. Thứ nhất, việc chuyển hoá quy phạm
luật quốc tế vào HTPLQG không phải là
các quy phạm đó sẽ trở thành các quy
phạm của HTPLQG; Thứ hai, QPĐƯ đợc
chuyển hoá vào HTPLQG không có nghĩa
là quy phạm đó sẽ mất đi tính quốc tế của
mình trong HTPL quốc tế; Thứ ba, cần
hiểu trên bình diện là quy phạm quốc tế
trong luật quốc gia đợc giải thích theo
quy định của luật quốc tế và hiệu lực pháp


minh này. ở Trung Quốc - quốc gia đông
dân nhất thế giới đã giảm tội có chế tài tử
hình từ 67 của Luật Hình sự 1997 xuống
còn 29 theo Luật Hình sự 1999 [8, -Tr.6].
Ngày nay, thế giới đang đấu tranh để tiến
tới xoá bỏ án tử hình trên phạm vi toàn cầu.
4. áp dụng luật quốc tế ở Việt Nam
Nớc ta đang trong quá trình công
nghiệp hoá và hiện đại hoá, xây dựng nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế, do đó việc xây dựng,
sửa đổi, bổ sung pháp luật, cơ chế, chính
sách là cần thiết. Cần phải xây dựng
HTPL nớc ta phù hợp với các định chế
quốc tế, các cam kết quốc tế của các tổ chức
quốc tế và khu vực nh: WTO; IMF; WB;
ADB; ASEAN; APEC; ASEM và Hiệp định
thơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ. Để làm
đợc điều đó việc chuyển hoá các quy phạm
luật quốc tế vào HTPLQG và áp dụng luật
quốc tế trong việc giải quyết các vụ việc ở
hệ thống toà án (hình sự, kinh tế, lao động,
hành chính vv ) và các tổ chức trọng tài là
cần thiết và tất yếu nếu chúng ta muốn hội
nhập.
Việc chuyển hoá các quy phạm luật
quốc tế vào HTPL Việt Nam đã đợc ghi
nhận ở một số văn bản quy phạm pháp
luật: Hiến pháp 1992 đã cụ thể hoá các quy
định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công

(Khoản 2); Tập quán quốc tế đợc áp dụng
trong điều kiện Bộ luật Dân sự, các
VBQPPL khác, ĐƯQT không điều chỉnh và
việc áp dụng đó không trái với các quy định
của pháp luật Cộng hoà XHCNVN (Khoản
4). Nh vậy, Bộ luật này đã đi tiên phong
trong vấn đề áp dụng quy phạm luật quốc tế
và u tiên áp dụng chúng trong giải quyết
các vụ việc cụ thể có yếu tố nớc ngoài.
Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
có quy định Trong trờng hợp pháp luật
Việt Nam cha có quy định, các bên có thể
thoả thuận trong hợp đồng việc áp dụng
luật của nớc ngoài nếu việc áp dụng luật
nớc ngoài đó không trái với những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
[10, Khoản 2 Điều 66]
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000,
quy định ở nớc Cộng hoà XHCNVN quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nớc
ngoài đợc tôn trọng và bảo vệ phù hợp với
các quy định của pháp luật Việt Nam và
ĐƯQT mà Cộng hoà XHCNVN ký kết và
tham gia (Khoản 1 Điều 100); Nhà nớc
Cộng hoà XHCNVN bảo hộ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân Việt Nam ở nớc
ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình
phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật
của nớc sở tại, pháp luật và tập quán
quốc tế (Khoản 3); Trong trờng hợp luật

kết với Nớc Cộng hoà XHCNVN (Điều 23).
Các quy phạm luật quốc tế đã đợc nội
luật hoá trong luật hình sự Việt Nam
trong lĩnh vực hợp tác quốc tế nhằm đấu
tranh chống tội phạm, nhiều văn bản quốc
tế đã đợc nội luật hoá vào luật hình sự
bằng việc ký, phê chuẩn, phê duyệt, tham
gia và gia nhập các ĐƯQT [9, tr.370-374].
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Việt Nam là
thành viên của Công ớc Pari về bảo hộ sở
hữu công nghiệp (1883), Hiệp định thơng
mại Việt Nam-Hoa Kỳ đã đề cập gần nh
toàn bộ các lĩnh vực quan hệ kinh tế
thơng mại hiện đại: thơng mại hàng
hoá; sở hữu trí tuệ; thơng mại dịch vụ;
quan hệ đầu t; tạo điều kiện thuận lợi cho
kinh doanh; các quy định về minh bạch
chính sách vv Nh vậy, chúng ta đã công
nhận các quy phạm quốc tế và hiệp định có
hiệu lực và tạo điều kiện để Việt Nam hội
nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong lĩnh
vực t pháp quốc tế Việt Nam đã ký kết

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, T.XXI, Số 2, 2005

khoảng 15 Hiệp định tơng trợ t pháp với
nhiều quốc gia trên thế giới [18, tr.23-25].
Các cam kết quốc tế có hiệu lực trên
lãnh thổ các quốc gia bằng cách chuyển
hoá vào luật quốc gia thông qua việc ban

1986 đến nay thì Việt Nam đã ký kết hơn
1000 ĐƯQT song phơng và đã gia nhập
hơn 180 ĐƯQT đa phơng [12, tr.25]. Nếu
xét riêng về góc độ hợp tác kinh tế, chỉ tính
đến tháng 5/2003 chúng ta đã ký kết
khoảng 250 hiệp định song phơng, trong
đó có khoảng 130 hiệp định ký trong 10
năm gần đây và số lợng hiệp định về các
lĩnh vực hợp tác khác sẽ đợc ký kết ngày
càng nhiều với các nớc trong khu vực,
châu lục và trên thế giới. Do đó, việc làm
quen với luật quốc tế, việc nội luật hoá các
quy phạm quốc tế, việc thực thi áp dụng
luật quốc tế là rất cần thiết, nói nh nhà
Bác học Pháp là ngày nay thế giới đã đại
đồng, chúng ta không thể tự tách mình
khỏi cộng đồng thế giới mà cần phải
nghiên cứu, tìm hiểu để hiểu biết về những
con ngời, phong tục tập quán, luật lệ của
họ nh thế nào ở những phần khác nhau
trên trái đất để từ đó có sự hợp tác quốc tế
với nhau, đơn giản chỉ vì sự cộng tồn.
Muốn vậy, chúng ta cần mở cửa sổ để nhìn
ra thế giới [16,C.6].
Xuất phát từ quan điểm cộng tồn trên
cơ sở hợp tác và hội nhập nên chăng đã đến
lúc hiến pháp của Việt Nam nên có điều
khoản quy định rằng: Các nguyên tắc
chung, các quy phạm điều ớc và các quy
phạm luật quốc tế là một bộ phận của

Add. 7. 1985.
6. Damrosch L.F, The Role of the United States Senates Concerning Self-Executing and Non-
Self-Executing Treaties, Chicago-Kent Law Review, 1992. Vol.67.
7. Danrosch L.F, Internatinal Human Rights Law in Soviet and American conits, Yale law
Journal, 1991.
8. Đời sống và pháp luật, Số 49 (196) từ 2-8/12/2004.
9. Đào Trí úc, Luật Hình sự Việt Nam (Quyển 1) - Những vấn đề chung, Hà Nội, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2000.
10. Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
11. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Sách chuyên
khảo, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2003.
12. Ngô Đức Mạnh, Mối quan hệ giữa ĐƯQT với pháp luật quốc gia, Nghiên cứu lập pháp, Số
12-12/2004.
13. Nguyễn Đăng Dung, Lê Mai Thanh và Nguyễn Hoàng Vân, Tìm hiểu Luật Quốc tế, NXB.
Đồng Nai, 2000.
14. Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Giáo trình T pháp Quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2001.
15. Paquete Habana,175 U.S. 677, 700 (1900)
16. Renhe Đavit and Camila Jaufret-Spinosi, .
M. MO, 1997.
17.
Stanford v. Kentucky, 492 U.S. 361, 369 .1 (1989)
18. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ T pháp, Thông tin khoa học pháp lý, số tháng
2/2002.
19. Whirney v. Robertson, 124 U.S. 190, 194 (1888)
20. ,
1978.
21. / .. .. . .1 .,
1989. .229-300; ..
. ., 1982.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status