Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
TRANG
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
4
I- Lý do chọn đề tài
4
II- Cơ sở lý luận
5
III- Cơ sở thực tiễn
6
IV- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
7
V- Đối tượng nghiên cứu
7
VI- Phạm vi nghiên cứu
V- Một số hình thức tổ chức giúp các em tích cực tham gia
hoạt động nói
12
VI- Những tiến trình cơ bản để dạy bài “ Speak”
13
(Những ví dụ cụ thể)
1- Những phương pháp mới ứng dụng trong “Pre- speaking”
14
2- Những phương pháp mới ứng dụng trong “While- speaking”
20
3- Những phương pháp mới ứng dụng trong “Post- speaking”
23
VII- Áp dụng thực tế
24
C- TỰ ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT LUẬN
32
VIII. Thời gian thực hiện: - Lên kế hoạch
- Viết SKKN
- Thử nghiệm SKKN
Phần B: Triển khai và thực hiện đề tài
Học
Tiếng Anh
4 kĩ năng
Nghe
Viết
Nói
Đọc
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
2
Sáng kiến kinh nghiệm
1. Giới thiệu phương pháp:
Phương pháp dạy nói: - Muc đích của phương pháp
- Mô tả phương pháp
- Cách thực hiện phương pháp
Các phương pháp trên đều được ứng dụng linh hoạt vào từng đơn vị bài học
2. Triển khai phương pháp
Phần C:
thử nghiệm nhiều phơng pháp dạy học mới: Dạy học theo hớng tích cực lấy học
sinh làm trung tâm, nhằm phát huy tích tích cực, t duy sáng tạo, chủ động của
học sinh nâng cao hiệu quả và chất lợng quá trình dạy học.
Ngnh ging dy ngoi ng, ngụn ng th hai luụn cú nhiu dao ng v
bin i theo nhp tin húa chung ca nn vn minh v vn húa th gii. Vic
dy ngoi ng núi chung v ting Anh núi riờng trng THCS ang c
nhiu nh giỏo dc, nhiu d ỏn giỏo dc v ụng o giỏo viờn ging dy mụn
ngoi ng quan tõm v a ra nhiu phng phỏp dy-hc thớch hp. Nhng
im mnh v cha mnh ca tng phng phỏp c thng kờ giỳp ngi
dy cú th so sỏnh, i chiu, iu chnh nhng k thut dy nhm rỳt kinh
V Hi Yn- Trng THCS Chu Vn An- Tõy H- H Ni
4
Sáng kiến kinh nghiệm
nghiệm, từ đó có những quyết định sáng suốt trong việc lựa chọn cho mình
những phương pháp, kĩ thuật phù hợp với nhu cầu và mục đích của người học
trong điều kiện và hoàn cảnh giảng dạy thực tế.
Đối với học sinh THCS hiện nay, Tiếng Anh đã trở nên phổ biến và thầy
cô giáo cũng đã cung cấp cho học sinh một vốn kiến thức mới, biết được các
phương pháp học, các thủ thuật, kĩ năng trong học tập để các em có được một
khối lượng kiến thức sử dụng trong mọi văn cảnh như nghe, nói, đọc và viết.
Hơn nữa là các em được giao tiếp một cách chính xác hơn. Vậy vấn đề đặt ra là
giáo viên phải liên tục đổi mới phương pháp dạy học trong tình hình mới hiện
nay.
Qua thực tế giảng dạy Tiếng Anh tại trường THCS, tôi nhận thấy việc
dạy Tiếng Anh cho học sinh đại trà gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, giáo viên
giúp các em học cân bằng đầy đủ bốn kỹ năng ( nghe- nói- đọc- viết) lại càng
khó khăn hơn. Vậy “nói” Tiếng Anh như thế nào cho đúng, lưu loát và giao tiếp
tin vào giảng dạy. Đó là điều kiện vô cùng thuận lợi cho giáo viên chứng tỏ khả
năng toàn diện của mình. Sách giáo khoa với nhiều hình ảnh đẹp, nội dung
phong phú phần nào hấp dẫn các em. Tuy nhiên , để khuyến khích được các em
giao tiếp bằng Tiếng Anh , tư duy bằng Tiếng Anh lại là chuyện khác.
Qua nhiều năm giảng dạy theo phương pháp đổi mới, tôi được phân công
giảng dạy môn Tiếng Anh các khối 6, 7, 8 và 9. Tôi thấy rõ ở các khối lớp 6 và 7
các em học sinh mới chỉ học những kiến thức đơn giản, nên kĩ năng nói chưa
được nhiều, chưa được thuần thục. Song càng lên lớp trên, lẽ ra với vốn kiến
thức nhiều hơn, các em càng phải có kĩ năng nói tốt hơn, nhưng thực tế không
phải vậy. Giáo viên chúng tôi luôn động viên, khuyến khích các em tự thể hiện
mình, khai thác tốt những kiến đã học , các em có thể viết tốt, đọc hiểu tốt, nghe
tốt nhưng hầu hết các em học sinh, đặc biệt ở các lớp đại trà rất ngại và thậm chí
sợ “nói”. Và bản thân các giáo viên chúng tôi trong bốn kĩ năng dạy và học
ngoại ngữ đều nhận thấy rằng dạy khó nhất là phần “ Speak”.
“Nói” chính là giao tiếp, là truyền những thông tin và ý nghĩ của mình tới
người khác , để từ đó nắm bắt những thông tin trực tiếp của người giao tiếp với
mình. Do đó học phần “ Speak” đòi hỏi học sinh phải được rèn đủ các kỹ năng:
nghe- nói- đọc- viết. Qua giao tiếp các em có thể thực hành sâu, rộng và phát
huy hết khả năng vốn có của mình, nhờ đó các em được khắc sâu thêm các cấu
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
6
Sỏng kin kinh nghim
trỳc ng phỏp trng tõm, c bn ca bi. lm c iu ú, giỏo viờn úng
mt vai trũ ht sc quan trng trong vic hng cỏc em ti cỏc hot ng ca
bi Speak.
Qua thc t lờn lp, qua s i mi vi cu trỳc bi dy, qua nghiờn cu
ti liu v phng phỏp dy v hc ngoi ng bc THCS, tụi mnh dn xin a
“speak” trong môn học này. Vì vậy, trong tôi luôn tồn tại một câu hỏi lớn: “Làm
thế nào để giúp các em nói Tiếng Anh tốt hơn?” và một suy nghĩ là: “Mình
phải nhất định tìm ra được “ phương pháp thích hợp để dạy các em thực
hành nói Tiếng Anh có hiệu quả cao.”
VI- Phạm vi nghiên cứu:
Häc sinh phæ th«ng c¸c khèi líp 8 và 9 ë trêng THCS Chu Văn An
VII- Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài “Những phương pháp giúp học sinh khối 8, khối 9
nói tốt Tiêng Anh”, tôi đã phải mất nhiều năm thực tế giảng dạy trên lớp, thử
nghiệm nhiều hình thức giảng dạy trong từng tiết học, đặc biệt chương trình
sách giáo khoa đổi mới, kèm theo đó là những đổi mới phương pháp dạy học
được áp dụng, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy , thông qua nghiên
cứu tài liệu giáo học pháp của các tác giả nổi tiếng đã giúp tôi rất nhiều trong
công việc giảng dạy hôm nay . Nhờ đó, học sinh của tôi đã tiến bộ rõ rệt so với
những năm học trước.
VIII- Thời gian nghiên cứu
1. Lên kế hoạch: năm học 2010-2011
2. Viết sáng kiến kinh nghiệm: từ 12-2010
3. Thử nghiệm sáng kiến kinh nghiệm: ở lớp 8A6, năm học 2011-2012
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
8
Sáng kiến kinh nghiệm
B- NỘI DUNG VẤN ĐỀ
* Giới thiệu phương pháp
I- Ý NGHĨA CỦA VIỆC “NÓI TIẾNG ANH”:
“ Nói” là nhu cầu tự nhiên và thiết yếu của con người. Ngày nay , các
ngữ pháp và phần liên hệ thực tế sao cho phù hợp với trình độ của các em và
phù hợp với nội dung của bài. Thông qua việc “nói” (giao tiếp) trên lớp, học
sinh được luyện cách phát âm, luyện nghe, luyện viết và đặc biệt giúp các em có
được một môi trường ngoại ngữ sống động và hiệu quả. Từ đó giúp các em có
thể ứng dụng vào thực tế mà không hề bỡ ngỡ, thoát khỏi rào cản bất đồng ngôn
ngữ và tính e dè nhút nhát vốn có của các em .
Tóm lại, để giúp các em có thể hứng thú với tất cả các bài “ Nói” trong
sách giáo khoa Tiếng Anh 8 và 9, theo tôi điều quan trọng nhất đối với giáo viên
là phải chọn đúng phương pháp, cách thức truyền đạt từng đơn vị bài học sao
cho phù hợp với từng đối tượng học sinh , giúp các em không những hiểu bài mà
còn cảm thấy hứng thú với các bài học khác.
II- MỘT SỐ DẠNG BÀI “ SPEAK” THƯỜNG GẶP:
Có thể nói, có vô vàn cách thức mà con người chúng ta giao tiếp với
nhau: giao tiếp tự do thông thường, nói chuyện theo chủ đề, một bài phát biểu
trang trọng hay những bài diễn thuyết trước đám đông, nhưng tất cả đều chung
một mục đích: làm cho người nghe hiểu được những điều mà người nói
(speaker) vừa truyền đạt.
Cụ thể trong khuôn khổ sách giáo khoa Tiếng Anh 8, tôi thấy có một số
dạng bài “speak” sau đây:
1)
Complete the dialogue.
2)
Make similar dialogues.
3)
Describe the position of items.
3. Motivation is high:
Học sinh cảm thấy thực sự háo hức muốn “nói” vì các em rất quan tâm
đến chủ đề và muốn bày tỏ những điều mới mẻ mà các em biết, hơn nữa các em
muốn góp phần làm cho bài học đạt kết quả tốt hơn.
4. Language is of an acceptable level:
Khi có cơ hội được nói, các em được thể hiện mình bằng ngôn ngữ phù
hợp, dễ hiểu.
IV- NHỮNG KHÓ KHĂN HỌC SINH GẶP PHẢI TRONG HOẠT ĐỘNG
NÓI TIẾNG ANH
Có thể nói rằng, đứng trước một tập thể để nói lên những suy nghĩ của
mình bằng tiếng mẹ đẻ đã khó, vậy mà các em lại đứng trước các bạn trong lớp
để bày tỏ những suy nghĩ đó bằng tiếng Anh là điều vô cùng khó khăn. Vậy
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
11
Sáng kiến kinh nghiệm
nguyên nhân ở đây là gì? Giáo viên chúng ta nên hiểu rõ đối tượng học sinh của
mình để có thể giúp các em khắc phục và ngày càng tiến bộ hơn.
1. Sự hạn chế:
Học sinh thường cảm thấy bị hạn chế vì phải cố gắng trình bày suy nghĩ của
mình bằng một ngôn ngữ khác, do đó các em thường lo lắng về những lỗi sai
ngữ pháp có thể mắc phải, e dè hoặc mất tự tin khi nói với bạn mình.
2. Không biết nói gì (Nothing to say)
Các em có thể rơi vào trạng thái “trống rỗng” vì không biết nói gì, các em
không thể bày tỏ những gì mình đang nghĩ.
3. Sự chênh lệch về kiến thức:
Trong một lớp học đại trà sẽ có nhiều em học tốt còn một số em khác thì
cầu học sinh luyện nói với bạn mình (Student – student). Đây là hình thức áp
dụng phổ biến trong các tiết dạy nói, giúp các em có một “ môi trường tiếng” tốt
nhất và tự nhiên nhất.
3. Group work: (luyện nhóm)
Hình thức này phù hợp với kiểu bài thảo luận nhóm với chủ đề bài nói
bao quát và đòi hỏi nhiều thông tin ghép lại. Đây là cơ hội thuận lợi để các em
học tốt giúp các em học yếu hơn, nhờ đó các em còn nhút nhát sẽ tích cực hơn
và tự tin hơn.
Trong một tiết học, giáo viên không nên chỉ áp dụng một trong những
hình thức trên, mà nên kết hợp các hình thức này với nhau để tạo môi trường
“tương tác” kết hợp hài hoà giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên,
góp phần tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học “ lấy học sinh làm
trung tâm”, ví dụ: speaking game, assignment, discussion, play roles, survey….
* Triển khai phương pháp
I. NHỮNG TIẾN TRÌNH CƠ BẢN ĐỂ DẠY BÀI “ SPEAK”.
Tiến trình cơ bản để dạy phần “Speak” vô cùng quan trọng. Nhiều giáo
viên băn khoăn tiến trình của một tiết dạy” Speak” nên triển khai như thế nào
cho phù hợp mà đảm bảo yêu cầu của một tiết dạy nói?
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
13
Sáng kiến kinh nghiệm
1.Những phương pháp mới trong “Pre- speaking”:
a) Giới thiệu chủ đề và mục tiêu của bài nói thông qua các hoạt động
nhóm hoặc trò chơi:
Đây là một trong những bước khá quan trọng mà giáo viên không thể bỏ
qua. Nó như một “khúc dạo đầu của một bản nhạc” đầy ấn tượng để thu hút sự
chú ý của người nghe. Một cuốn truyện hay có gây được sự chú ý ban đầu của
14
Sáng kiến kinh nghiệm
Mặc dù hoạt động này chỉ chiếm khoảng 3 – 4 phút nhưng góp phần tích cực
tạo không khí ngoại ngữ, tinh thần tập thể và khuyến khích tất cả các em đều
được tham gia. Kết thúc trò chơi nên là lời khen ngợi của giáo viên đối với đội
thắng và lời động viên khích lệ đội thua để giúp các em thua mà không hề nhụt
chí (good losers), hơn nữa còn kích thích được các em hào hứng vào các trò chơi
tiếp theo.
b. Giới thiệu từ vựng và ngữ liệu cần thiết:
Nếu như dạy một bài đọc hoặc bài viết, chúng ta có thể dạy những từ cụ thể có
trong bài, nhưng đối với một tiết dạy nói, ngoài một số từ cụ thể, giáo viên hãy
cố gắng giới thiệu những từ liên quan đến chủ đề của bài và ngữ liệu ngữ pháp
được sử dụng trong quá trình các em luyện trong tiết học đó. Tùy từng nội dung
yêu cầu cụ thể của từng bài mà giáo viên có thể lựa chọn giới thiệu ngữ liệu cần
thiết liên quan đến bài.
VD1: Unit 4 : Our Past – Speak. (Work with a partner. Look at the picture.
Talk about the way things used to be and the way they are now).
Mục tiêu tiết dạy:
Thông qua 2 bức tranh trong SGK (P.40- Tiếng Anh 8), học sinh luyện
với bạn cùng lớp để đưa ra những thông tin so sánh sự thay đổi cuộc sống của
một vùng quê ngày càng hiện đại hơn. Qua bài học, học sinh luyện được phần
ngữ pháp trọng tâm: “used to”.
*New words: (Đây là những từ có liên quan đến bài)
- cottage (n)
- traditional clothes (n)
- traffic light (n)
- canned food (n)
Học sinh có thể dễ dàng trả lời :
S1: I can see some farmers working in the field/ It is about life in the
countryside.
S2: I can see many buildings , motorbikes on the street. / It is about life in
the city.
S3: People used to live in many cottages but now they are living in big and
high buildings.
………
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
17
Sáng kiến kinh nghiệm
Như vậy từ những câu hỏi gợi mở này, học sinh tự đặt câu có cấu trúc
“used to” mà vẫn bám sát với nội dung và chủ đề của bài.
VD2: Unit 6: The young pioneer club - Speak. (Look at the phrases in the
boxes. Then practice the dialogues with a partner)
Mục tiêu tiết dạy: Giúp học sinh dựa vào tình huống cụ thể trong bài và các dữ
liệu sẵn có, các em thành lập được các bài hội thoại tương tự, áp dụng các câu đề
nghị (Asking for favors/Offering assistance) và cách đáp lại những câu đề nghị
đó (Responding to favors/Responding to assistance) vào thực tế cuộc sống.
* New words: (Đây là những từ có trong bài)
- do… a favor (v)
- assistance (n) offer assistance.
- hurt (v/n)
- flat tire (n)
* Phần ngữ liệu:
19
Sáng kiến kinh nghiệm
Asking for favors
Responding to favors
-Can you help me, please?
- Certainly/ Of course/ Sure.
- Could you do me a favor?
- No problem.
- I need a favor.
- What can I do for you?
- Can/ Could you…?
- How can I help you?
- I’m sorry. I’m really busy.
Offering assistance
Responding to assistance
20
Sáng kiến kinh nghiệm
- Meaningful practice: Hoạt động này hoàn toàn để học sinh chủ động luyện
với các bạn trong nhóm sau khi đã được luyện theo trình tự trên.
Một số hoạt động có thể được áp dụng trong phần While- speaking:
Hoạt động 1: Pair- work (với dạng bài “Complete the dialogue” hoặc
“make similar dialogues”.
VD: Unit 6: The Young Pioneers Club - Speak.
Sau đây là 2 trong các bài hội thoại mà học sinh thành lập:
Dialogue 1 (giữa hai học sinh)
a) Minh:
May I help you?
Tourist:
Yes. Can you show me the way to the police station? I have lost
money.
Minh:
Sure. Turn left at the end of the street. It’s on your right.
Tourist:
Thank you very much.
Dialogue 2 (giữa hai học sinh)
lời về các môn học ở trường, có thể chia sẻ với các bạn về những môn học mình
yêu thích hay những môn mình cần cố gắng hơn nữa. Qua đó, các em có thể áp
dụng vào thực tế .
Thực hiện:
Giáo viên có thể chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm gồm ba hoặc bốn
học sinh
Example exchange:
Nam:
When do you do your homework?
Mai:
I often do homework after dinner.
Huong: Who helps you with your homework?
Mai:
Sometimes my father helps me and sometimes I do it myself. What
about you?
Nam:
Me? Oh, I do it myself or I can ask my teacher.
Huong: Which subject do you need to improve?
Mai:
Oh, I need to improve my English. What about you, Nam?
những câu hội thoại hay. Chúng ta hãy động viên, khuyến khích các em ,giúp
các em tự tin, cảm thấy vui mừng vì những điều mình vừa nói được cô giáo và
các bạn lắng nghe và thấu hiểu.
3 - Những phương pháp mới trong “ Post – speaking”:
Đây cũng là phần rất quan trọng của một bài dạy nói. Đó là phần phối hợp
cơ bản giữa các kĩ năng nghe-nói-đọc-viết. Trước đây giáo viên thường coi nhẹ
phần này vì nghĩ rằng chỉ cần các em làm hết yêu cầu trong SGK là đủ. Với
chương trình SGK Tiếng Anh đang sử dụng , giáo viên nên coi trọng bước này
nhằm củng cố nội dung và nâng cao hơn khả năng giao tiếp của các em. Tùy
thuộc vào từng dạng bài mà giáo viên có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau.
a) Retell:
Đối với dạng bài kể lại, chúng ta không nên bắt các em phải kể chính xác
từng từ, từng chữ so với bài mà các em vừa luyện, mà chúng ta nên khuyến
khích các em kể theo ý hiểu của mình.
VD: Unit 4 - Our Past:
Tôi gọi học sinh lên bảng kể lại hoặc trình bày tóm tắt những gì em thấy
được qua các bức tranh, hoặc nói lại những gì em hiểu và nhớ lại qua bạn của
mình, nhưng vẫn phải đảm bảo diễn biến hoặc sự biến đổi của vùng quê này.
b) Write-it-up:
Vũ Hải Yến- Trường THCS Chu Văn An- Tây Hồ- Hà Nội
23
Sáng kiến kinh nghiệm
Đây là dạng bài học sinh dựa vào thông tin đã biết hay cụ thể hơn là dựa
vào đoạn hội thoại các em vừa triển khai. Qua hoạt động này các em có thể nhớ
thông tin được lâu hơn và luyện ngữ pháp được tốt hơn.
VD: Unit 6: The young pioneer club – Speak.
Chủ đề của bài: Bài nói nằm trong chủ đề chung “At home”.
Nội dung bài nói : Các em biết miêu tả vị trí của đồ vật trong phòng bếp, sắp
xếp đồ đạc trong phòng khách của bà Vui.
Mục tiêu tiết dạy: Qua bài nói này học sinh được ôn lại cách miêu tả vị trí của
đồ vật dựa vào cấu trúc đã học và giới từ chỉ vị trí. Như vậy, chúng ta thấy chủ
đề chung của bài, nội dung của bài khá gần gũi và quen thuộc đối với các em.
Từ đây các em có thể tự phát triển chủ đề rộng hơn, có thể miêu tả vị trí của đồ
vật ở nhà mình. Hơn thế nữa, từ bài học, các em có được kĩ năng sống, biết dọn
dẹp và sắp xếp đồ đạc một cách ngăn nắp, hợp lí và hiệu quả.
“Pre- speaking”:
Để giới thiệu bài, tôi chia lớp thành 2 đội và khởi động trò chơi: Net-work
in front of
on
Prepositions of
place
between
Prepositions of
place
behind
* Hai đội chơi rất hào hứng vì ai cũng muốn đội của mình tìm được nhiều
từ hơn và giành chiến thắng. Hết 2 phút các em sẽ được ôn rất nhiều giới từ mà
các em đã được học: in, on, at, behind, between, in front (of), next to, above,
under, …