Trường TH Thị Trấn Thới Bình A
Dư Thị Liễu Nho
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở TIỂU HỌC
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Môn Toán có một vị trí rất quan trọng:
1.1/ Ngôn ngữ toán học, kiến thức toán học là cần thiết cho đời sống, cho việc
học các môn khác như khoa học, lịch sử, địa lí, mĩ thuật, thủ công,… và là cơ sở
cho việc tiếp tục học lên THCS.
1.2/ Tư duy toán học, phương pháp toán học là cần thiết cho đời sống, cho học
tập, vì nó giúp học sinh tiểu học:
-Biết cách đặt vấn đề, phân tích vấn đề, biết tìm cách hay nhất, gọn nhất để
giải quyết vấn đề, biết kiểm tra cách giải quyết vấn đề, phát triển khả năng phê
phán, biết đánh giá các ảnh hưởng của điều kiện đến kết quả,…
-Biết nhận ra cái bản chất, bỏ qua những cái thứ yếu, không bản chất; biết
nghiên cứu các trường hợp chung và riêng; biết phân loại các trường hợp, không
bỏ sót trường hợp nào, biết từ những vấn đề cụ thể rút ra kết luận chung, biết áp
dụng lí luận chung vào những vấn đề cụ thể.
-Biết suy luận ngắn gọn, có căn cứ đầy đủ, chính xác, nhất quán, không mâu
thuẫn, biết trình bày, diễn đạt ý nghĩ của mình một cách ngắn gọn, rõ ràng, mạch
lạc.
-Biết sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu một cách chính xác,…
1.3/ Môn Toán ở tiểu học góp phần làm cho học sinh phát triển toàn diện, góp
phần hình thành ở các em những cơ sở của thế giới quan khoa học, góp phần rèn
luyện trí thông minh, góp phần xây dựng tình cảm, thói quen, đức tính tốt đẹp
của con người mới,…
1.4/ Các bài toán có lời văn mà học sinh tiểu học được giải có nội dung là những
vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng
cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành
cần thiết trong đời sống hằng ngày, giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó
trong cuộc sống.
Trường TH Thị Trấn Thới Bình A
Dư Thị Liễu Nho
-Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học; các
số, các phép tính, các đại lượng… đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực,
trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng
giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm…
-Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng
lực tư duy và những đức tính tốt đẹp của con người lao động mới. Giáo dục các
em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, thói quen
xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc, óc độc lập suy nghĩ,
óc sáng tạo…
3.Cơ sở thực tiễn:
Nhận thức của học sinh tiểu học nói chung, qua thực tế của lớp đang trực
tiếp giảng dạy nói riêng thì việc giải bài toán có lời văn quả là khó khăn đối với
các em, bởi nhiều nguyên nhân:
-Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi: các em thường vội vàng, hấp tấp, đơn giản
hóa vấn đề, dẫn đến kết quả sai hoặc thiếu hoặc giải đúng nhưng chưa đủ.
-Học sinh chưa hiểu đề bài: các em chưa hiểu đề bài tức là chưa hiểu các
thành phần của nó:
+ Những cái đã cho.
+ Những cái cần tìm.
+ Mối liên hệ giữa những cái đã cho và cái cần tìm.
-Học sinh chưa biết phân biệt, phân loại bài toán
1.4/Thử lại:
Sau khi giải bài toán xong, cho học sinh thử lại kết quả - giúp các em có cơ
sở lí luận, tin tưởng vào cách làm bài của mình.
Dạy và học tốt về giải toán có lời văn có ý nghĩa quyết định thành công của
dạy và học môn toán. Do đó, người giáo viên phải xác định rõ mục tiêu của việc
dạy giải các bài toán có lời văn cần phải đạt được các kiến thức và kĩ năng sau:
2. Kiến thức và kĩ năng
2.1/Học sinh nhận biết “ cái đã cho” và “ cái phải tìm” trong mỗi bài toán, mối
quan hệ giữa các đại lượng có trong mỗi bài toán, chẳng hạn: Khi dạy toán
Trường TH Thị Trấn Thới Bình A
Dư Thị Liễu Nho
chuyển động đều thì mối quan hệ đó thể hiện ở quãng đường đi bằng tích của vận
tốc với thời gian đi đường.
2.2/Học sinh giải được các bài toán hợp với một số quan hệ thường gặp giữa các
đại lượng thông dụng.
2.3/Học sinh giải được một số loại toán điển hình như:
- Tìm số trung bình cộng của hai số hoặc nhiều số.
- Tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó.
- Tìm hai số biết tổng và tỉ số của hai số đó.
- Tìm hai số biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
- Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
- Bài toán về tỉ số phần trăm.
- Bài toán về chuyển động đều.
- Bài toán có nội dung hình học ( chu vi, diện tích, thể tích ).
2.4/Biết trình bày bài giải đúng quy định
Để đạt được những mục tiêu trên cần thông qua quá trình phát triển từng
đáy lớn” cũng có nghĩa là “ Đáy lớn gấp
rưỡi đáy bé”
3.3/Phân loại theo đại lượng:
Với mỗi loại đại lượng có một loạt bài toán có lời văn về đại lượng đó như:
-Các bài toán về số lượng.
-Các bài toán về khối lượng của vật.
-Các bài toán về các đại lượng trong chuyển động đều.
-Các bài toán về các đại lượng trong hình học.
3.4/Phân loại theo số phép tính:
Bài toán đơn: Là bài toán mà khi giải chỉ cần 1 phép tính. Ở lớp 5, loại này
thường dùng để nêu ý nghĩa thực tế của phép tính, nó phù hợp với quá trình nhận
thức.
Ví dụ: Để dạy phép trừ số đo thời gian, có bài toán “ Một ô tô đi từ Huế lúc
13 giờ 10 phút và đến Đà Nẵng lúc 15 giờ 55 phút. Hỏi ô tô đó đi từ Huế đến Đà
Nẵng hết bao nhiêu thời gian” ( ví dụ 1, trang 132 SGK ). Từ bản chất bài toán
học sinh hình thành phép trừ:
15 giờ 55 phút – 13 giờ 10 phút = 2 giờ 45 phút
Bài toán hợp: Là bài toán mà khi giải cần ít nhất 2 phép tính. Loại bài toán
này thường dùng để luyện tập, củng cố kiến thức đã học. Ở lớp 5, bài toán có mặt
ở hầu hết các tiết học.
3.5/Phân loại theo phương pháp giải:
Trong thực tế, nhiều bài toán có nội dung khác nhau nhưng có thể sử dụng
cùng một phương pháp suy luận để giải và vì thế có thể coi “ Có cùng phương
pháp giải” là một tiêu chí để phân loại bài toán có lời văn. Các bài toán có cùng
Trường TH Thị Trấn Thới Bình A
Trường TH Thị Trấn Thới Bình A
Dư Thị Liễu Nho
3.7/Hình thành và phát triển những phẩm chất cần thiết để học sinh có phương
pháp học tập, làm việc khoa học, sáng tạo:
Các phẩm chất đó là:
-Hình thành nếp học tập, làm việc có kế hoạch.
- Rèn luyện tính cẩn thận, chu đáo trong học tập.
- Rèn luyện tính chính xác trong diễn đạt.
- Rèn luyện ý thức vượt khó trong học tập.
Để có được những phẩm chất nói trên, học sinh cần phải lập ra thời gian
biểu học tập, sinh hoạt ở nhà. Giáo viên ra bài tập ở nhà phải vừa đủ với thời gian
để học sinh hoàn thành bài tập. Khi học toán ở nhà, học sinh cần xem lại lí thuyết
qua các ví dụ, các bài tập. Phải làm ra nháp trước, soát lại, thử lại đúng mới viết
vào vở. Đối với bài khó, giáo viên cần động viên, khuyến khích các em tự lực
vượt khó, không nản, không chép bài của bạn.
4.Một số điểm cần lưu ý
4.1/Khi giải toán đơn:
-Việc giải các bài toán đơn có tác dụng làm cho học sinh hiểu kĩ hơn ý nghĩa
của các phép tính số học, đồng thời làm cho học sinh bước đầu làm quen với các
bộ phận hợp thành của một bài toán, với nhiệm vụ giải toán. Có nắm chắc được
cách giải các bài toán đơn cơ bản nói trên, học sinh mới có thể giải được các bài
toán hợp đa dạng. Do đó các bài toán đơn có vai trò cực kì quan trọng.
-Sau khi cho học sinh giải từng loại toán đơn, cần cho các em so sánh các
loại toán ngược lẫn nhau, nhằm làm cho các em nắm vững hơn nữa cách giải của
mỗi loại toán
-Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán đơn để các em có thể chọn đúng
phép tính trong một vài trường hợp cần có minh họa trực quan
4.2/Khi giải các bài toán về chuyển động đều:
4 x60
12
phút = 20 phút
Trên thực tiễn, ta lấy 4 x 60, được bao nhiêu chia cho 12.
Ví dụ 2: Tính quãng đường, biết vận tốc là 12km/giờ và thời gian là 2 giờ 20
phút.
-2 giờ 20 phút = 2,333...
1
-2 giờ 20 phút = 2 3 giờ hay
S = 12 x 2,333... = 27,996... ( km )
7
3
giờ
s = 12 x
7
3
= 28 ( km )
Rõ ràng trường hợp này, đổi số đo thời gian dưới dạng phân số với đơn vị đo
là giờ thì thích hợp hơn.
III/ KẾT QUẢ CỦA VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG
1.Tác dụng
bình
Toán
4
20
8
2
17
15
2
0
Trên đây là một số biện pháp mà bản thân đã suy nghĩ, học hỏi và đã thể
hiện trong quá trình giảng dạy. Rất mong được sự góp ý của lãnh đạo và đồng
nghiệp.
Ý kiến xác nhận
Thới Bình, ngày 09 tháng 04 năm
2013
của Thủ trưởng đơn vị
Người thực hiện
Dư Thị Liễu Nho