CAM
ĐOAN
BỘ LỜI
GIÁO
DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
BÙI MINH ĐỨC
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn, các thông tin trích
dẫn trong Luận
văn đều đã được
chỉ rõ
nguồn gốc.
ĐÁNH
GIÁ
VIỆC
THỰC
HIỆN
PHƯƠNG
bè đồng nghiệp. Nhân dịp này, trước hết tôi xin chân trành cảm ơn PGS.TS.
Nguyễn Như Hà, Trưởng Bộ môn Nông hoá - Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô
giáo khoa Tài nguyên và Môi trường, Viện đào tạo sau Đại học - Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn, sự nhiệt tình giúp đỡ của các cơ quan, ban
ngành của quận Đồ Sơn mà trực tiếp là Phòng Tài nguyên - Môi trường,
Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, Phòng Văn hoá-TT và Du lịch quận đã giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành Luận văn.
Một lần nữa xin cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Minh Đức
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cám ơn
Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
14
2.3.
Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở trong và nước ngoài 27
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.
32
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
32
3.2.
Nội dung nghiên cứu
32
3.3.
Phương pháp nghiên cứu
32
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1.
33
38
4.3.
Đánh giá việc thực
hiện
phương
án quy hoạch sử
dụng đất đai
giai đoạn 2001- 2010 của quận đồ sơn, thành phố Hải Phòng 41
4.3.1.
Tình hình
quản
lý và
sử
quận Đồ
Sơn,
(2001- 2007) và quận Đồ Sơn (2008- 2010)
4.3.3.
42
Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 theo hạng mục công trình của quận Đồ Sơn, thành phố
Hải Phòng
52
4.3.4.
Đánh giá tác động của các
chỉ tiêu kinh tế
- xã hội đến
sử
việc
dụng đất tại quận Đồ Sơn trong giai đoạn 2001- 2010
4.3.5.
Hải Phòng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
60
iv
4.5.1.
về chủ trương, chính sách
75
4.5.2.
Những giải pháp huy động vốn đầu tư
76
4.5.3.
Giải pháp về qản lý, hành chính
80
4.5.4.
Các giải pháp tổ chức khác
81
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
47
So sánh diện tích phi nông nghiệp theo kế hoạch sử dụng đất đến
năm 2007 của thị xã Đồ Sơn
49
So sánh diện tích đất phi nông nghiệp theo kế hoạch và diện tích
đã thực hiện đến năm 2010 của quận Đồ Sơn
50
So sánh diện tích đất chưa sử dụng theo kế hoạch sử dụng đất
đến năm 2007 của thị xã Đồ Sơn
51
So sánh diện tích đất chưa sử dụng theo kế hoạch và diện tích đã
thực hiện đến năm 2010 của quận Đồ Sơn
51
Danh mục các công trình sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đã
thực hiện trong giai đoạn 2001- 2010
53
Chỉ tiêu kinh tế các ngành giai đoạn 2005- 2010, định hướng đến
2015 (theo giá cố định năm 1994)
ngành và lĩnh vực trên địa bàn Quận
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp..............vii
77
1. MỞ ĐẦU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô giá đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ.
Do nguồn tài nguyên này có hạn mà nhu cầu sử dụng cho phát triển kinh tế xã
hội ngày càng tăng. Vì vậy quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung
rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, có ý nghĩa đặc biệt không chỉ
trước mắt mà còn lâu dài cho việc phát triển kinh tế xã hội nâng cao thu nhập
quốc dân tại mỗi địa phương.
Tuy nhiên trong thực tế việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất ở các
địa phương còn những hạn chế bất cập. Việc tổ chức thực hiện phương án quy
hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế kiểm
tra, giám sát dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo” hay "điều chỉnh quy hoạch”.
Do phương án quy hoạch chưa bố trí quỹ đất phù hợp với nhu cầu thực tế sử
dụng đất của các thành phần kinh tế; chưa dự báo được hết những thay đổi về
tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đều gây lãng phí và ảnh
hưởng không nhỏ tới ổn định và phát triển kinh tế xã hội của địa phương và
đất nước. Do đó yêu cầu xây dựng được phương án quy hoạch khả thi đóng
vai trò quyết định đối với hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất. Xây dựng quy
2
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.
Cơ sở khoa học, lý luận của quy hoạch sử dụng đất
2.1.1.
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định có vị trí, hình thể, diện tích với
những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện
địa hình, điạ chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật,
các tính
chất lý hoá tính...) tạo
ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo
các mục đích khác nhau. Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạchđây là quá trình nghiên
cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục
đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
-
nguồn tài nguyên cho tương lai. Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do
nhu cầu
của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải
nâng cao kỹ năng sử dụng đất”.
Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất,
giao đất,
cho thuê đất,
thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất đặc biệt
là
chuyển diện tích trồng lúa có hiệu quả cao sang các mục đích phi nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản hoặc trồng cây lâu năm. Như vậy, mục đích của
quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúc
đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để
Nhà nước
thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.
quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu
sản xuất đặc
biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo
vệ đất và môi trường.
Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng
đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập
quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; xác
lập sự ổn định về
mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở tiến hành
cấp đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ
các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà
nước nhằm
tổ
chức
lại việc sử
đích,
một phương thức sản xuất xã hội thể hiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất
(mối quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất)
và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất).
Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất
đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ...) cũng như
quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bằng về sở hữu và quyền
sử dụng đất giữa người với chủ sử dụng đất - GCN QSDĐ). Quy hoạch sử
dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,
vừa là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận
của phương thức sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất
mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về pháp lý
(là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập
trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô...). Ở nước ta, quy hoạch sử dụng
đất phục vụ nhu cầu sử dụng đất và quyền lợi của xã hội; góp phần tích cực
thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao
hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử
dụng đất đã góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh
tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu
thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở
hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ tài
nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Quy hoạch sử dụng
đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
6
*
Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn,
quy
hoạch sử dụng
mục tiêu,
đất đai chỉ dự kiến được các xu thế
cơ cấu và phân
bố sử dụng đất (mang tính
thay đổi phương hướng,
đại thể, không dự kiến
được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi). Vì vậy, quy
hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy
hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng
đất của các ngành như:
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
7
đất trong vùng;
* Tính khả
biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó
dự đoán
trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một
trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới
thích hợp cho việc phát triển kinh tế trong thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát
triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế
thay đổi, các
dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù
hợp. Việc
chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là
cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch sử dụng
đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
8
2.1.3.
Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
Với những
Theo quy định tại điều 5 của Luật Đất đai năm 2003: đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Quyền quản lý tập trung thống
nhất của Nhà nước được thể hiện theo luật pháp và thể hiện ở nhiều mặt như
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
9
đại diện chủ quyền quốc gia về lãnh thổ; quyền giao đất sử dụng ổn định lâu
dài cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân; quyền cho các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước thuê đất; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quyền
xác định khung giá đất; quyền giám sát, xử lý các vi phạm pháp luật về đất
đai. Để
thực hiện quyền quản lý tập trung, thống nhất của mình, Nhà nước
phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản về quy hoạch sử dụng
đất, công cụ tài chính, pháp luật và các chính sách kinh tế khác.
Quy hoạch sử dụng đất còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa
các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất. Khi
quy hoạch sử dụng đất, người ta đã thiết lập nên đường ranh giới giữa các đơn
vị sử
dụng đất, giữa sản xuất nông nghiệp
với khu dân cư, giữa các chủ sử
dụng đất với nhau, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng
đất. Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất,
chế tối đa việc chuyển đất canh tác có hiệu quả cao sang sử dụng và các mục
đích phi nông nghiệp, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, thoả mãn nhu
cầu nông sản cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân
đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích.
Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và
dập tắt các quá trình xói mòn do gió và nước gây nên. Đặc biệt đối với nước
ta với đặc điểm địa hình đồi núi chiếm tới 3/4 lãnh thổ, lại nằm ở vùng nhiệt
đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá
diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất
dinh dưỡng dẫn đến suy thoái; quan trọng hơn nữa trong thời gian qua do nạn
chặt phá, đốt rừng diễn ra bừa bãi, sử dụng đất không bền vững làm cho nhiều
vùng đất bị thoái hoá ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản
xuất và xu hướng hoang mạc hoá ngày càng tăng. Những điều này có tác hại
rất lớn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, nếu chúng ta không có biện
pháp chống xói mòn một cách có hệ thống thì hậu quả ngày càng lớn. Xói
mòn sẽ làm mất đi lớp đất mặt mầu mỡ nhất. Khi tổ chức các biện pháp chống
xói mòn cần tính đến các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn của từng
vùng. Tổ hợp các biện pháp chống xói mòn sẽ được giải quyết trong một đồ
án quy hoạch có luận chứng khoa học.
Nhưng trong lĩnh vực bảo vệ đất, quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm
nhiệm vụ chống xói mòn, mà còn phải chống các quá trình ô nhiễm đất, bảo
vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên.
Ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội. Đất có
thể bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, nước thải ra từ
các nhà máy và nước thải sinh hoạt từ các đô thị lớn, ô nhiễm bởi các chất
phóng xạ, bởi việc sử dụng quá mức các hoá chất bảo vệ thực vật độc hại và
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
kém hiệu quả trong nông nghiệp.
Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng
làm thay đổi
cơ cấu sử dụng đất của đơn vị bị mất đất. Do đó, khi xây dựng
dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của các cơ sở đó không bị hoặc
ít bị ảnh
hưởng nhất. Trong trường hợp, nếu việc giao đất cho nhu cầu
phi
nông nghiệp làm cho cơ cấu sử dụng đất bị thay đổi nhiều, tổ chức lãnh thổ
bên trong bị đảo lộn thì phải quy hoạch lại toàn bộ hoặc một phần hoặc từng
bộ phận cho đơn vị sử dụng đất đó.
Khi đánh giá về mặt kinh tế những hậu quả do việc giao đất gây ra. Chủ
sử dụng đất bị mất đất có quyền đòi hỏi chủ được giao đất phải bồi thường
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
12
những chi phí để quy hoạch lại. Việc bồi thường những khoản chi phí trên cho
chủ bị mất đất là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ được giao đất.
Bốn là, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh
thổ hợp lý.
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà
nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể. Trên cơ sở đó có thể
thực tiễn việc sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
13
nhằm đạt hiệu ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong số
các điều kiện kinh tế - xã hội phải kê
đến các yếu tố như
chế
độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát
triên của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện
về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải... Căn cứ vào
yêu cầu của thị trường và xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt
chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên thiên nhiên đất đai đê đạt tới cơ
cấu tổng thê hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững.
2.2.
Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
2.2.1.
Đất đai và chức năng của đất đai
là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ
sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân.”
Theo FAO (1993), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản
xuất và tồn
tại của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt như sau: sản
xuất, môi trường sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và
cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu, khoáng sản trong lòng đất);
không gian sự sống, bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân vị lãnh thổ.
Như vậy, có thể khái quát. Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi
ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho
môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm
đất...), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo
trồng, nuôi gia súc...). Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá
thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng
ta. Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ
tiếp nhau của loài người. Vì vậy trong sử dụng đất cần làm cho đất tốt hơn
cho các thế hệ mai sau (Tổng cục Địa chính 1996).
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng
nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất ngày càng căng
thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có
ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số chức năng
nào đó
của đất bị yếu đi. Vấn đề sử dụng đất đai ngày càng trở
nên quan
trọng và mang tính toàn cầu. Với sự phát triển không ngừng của sức sản
sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và
nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, và vi sinh vật, ở trên và bên dưới
bề mặt đất.
-
Chức năng điều hoà khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và
nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một sự cân bằng năng lượng toàn
cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và
của chu kỳ thuỷ văn của toàn cầu.
- Chức năng trữ nước: Đất đai điều hoà sự tồn trữ và lưu thông
của
nguồn tài nguyên
nước mặt và nước ngầm, và những
ảnh hưởng của chất
lượng nước.
-
Chức năng tồn trữ: Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng
thô cho việc sử dụng của con người.
-
chức năng phải được chú ý, các mong ước điều lợi trước mắt ngắn hạn được
thau thế bằng các mong ước lợi nhuận lâu dài và bền vững ở các cấp từ toàn
cầu cho đến quốc gia và địa phương.
Sự suy thoái Đất đai đã và đang trầm trọng hơn ở những nơi sử dụng
đất đai không có quy hoạch, hay những lý do khác về pháp chế và tài chính
làm cho các quyết định sử dụng đất đai sai hay chỉ có quy hoạch một chiều từ
Trung ương xuống mà không có tham khảo ý kiến thực tế của địa phương đưa
đến việc khai thác quá độ nguồn tài nguyên. Hậu quả của các hành động này
là làm cho một số lớn người dân địa phương ngày càng gặp khó khăn trong
cuộc sống và đồng thời
cũng phá huỷ dần hệ sinh thái có giá
trị. Như thế,
những phương pháp hạn hẹp cần phải được thay thế bằng một kỹ thuật mới
trong quy hoạch và quản lý nguồn tài nguyên đất đai, đó là tổng hợp hay tổng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
17
thể và đặt người sử dụng đất đai là trung tâm. Điều này sẽ bảo đảm chất lượng
lâu dài của đất đai cho con người sử dụng, hạn chế hay có những giải pháp
cho các mẫu chuẩn về mặt xã hội liên quan đến sử dụng đất đai và bảo vệ hệ
sinh thái có các giá trị đa dạng sinh học cao.
2.2.2.
18