:ỉf
BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VINH
LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
- Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường đã giao đề tài, tận tình hướng
dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
- Thầy giáo PGS.TS. Cao Cự Giác và Cô giáo TS Nguyễn Thị Bích Hiền
đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn.
- Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy
giáo, cô giáo thuộc Bộ môn
Lí luận vàCHỌN
phương pháp
dạy họcDựNG
hoá học khoa Hoá học
TUYỂN
- XÂY
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
VÀ SỬ DỤNG HỆ THÓNG BÀI TẬP HỎ TRỌ
1.1. Tống quan về vấn đề nghiên cứu..................................................................................4
1.2. Bài tập hóa học...............................................................................................................8
1.3. Tự học...........................................................................................................................12
1.4. Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở
trường trung học phổ thông.........................................................................................22
Tiểu kết chương 1..................................................................................................................35
Chương 2. TUYỀN CHỌN - XÂY DựNG VÀ sử DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP HỖ TRỢ VIỆC Tự HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON
HÓA HỌC 11 NÂNG CAO TRƯỜNG TRUNG HỌC PIIỎ THÔNG
..................................................................................................................................
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
36
Nguyên tắc xây dựng...................................................................................................36
Quy trình xây dựng......................................................................................................38
Giới thiệu về hệ thống bài tập.....................................................................................39
Các dạng bài tập và hướng dẫn giải............................................................................40
2.5. Hệ thống bài tập...........................................................................................................94
2.6. Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa
học 11 nâng cao..........................................................................................................136
Tiểu kết chương 2................................................................................................................138
Chương 3. THựC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................................139
3.1. Mục đích thực nghiệm..............................................................................................139
3.2. Dối tượng thực nghiệm.............................................................................................139
liên tục đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy học. Mục đích cuối
cùng là để từng cá nhân, mỗi cá thể, mỗi công dân tự mình có ý thức tạo được một
cuộc cách mạng học tập trong bản thân mỗi người.
Nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương
pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại - thời đại mà mỗi người phải học tập
suốt đời. Đe học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự
học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân. Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt
lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại.
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với
cộng đồng quốc tế. Trong sự nghiệp đôi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền
giáo dục là trọng tâm của sự phát triển. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người. Công cuộc đổi mới
này đòi hỏi nhà ừường phải tạo ra nhũng con người có năng lực, đầy tự tin, có tính
độc lập, sáng tạo, những người có khả năng tự học, tự đánh giá, có khả năng hòa
nhập và thích nghi với cuộc sống luôn biến đổi. Nghị quyết trung ương Đảng lần
thứ 4 (khóa VII) đã xác định: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những
1
chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu
quả nhất. BTHH không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn
là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới.
Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn hoá học trên lóp còn hạn hẹp, thời
gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết về phần dẫn xuất hiđrocacbon Iióa học 11 nâng
cao và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu
hiểu, ghi nhớ và vận dụng nhũng kiến thức mà GV truyền thụ ở trên lóp. Vì vậy
việc tự học ở nhà của IIS là rất quan trọng và cần thiết.
5.3. Xử lí kết quả TN sư phạm bằng các phương pháp thống kê toán học.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức được giới hạn trong 2 chương: “Dan xuất halogenAncol-Phenol” và “Anđehit-Xeton-Axit cacboxylic ” hóa học lóp 11 chương trình
nâng cao ở trường THPT.
7. Giả thuyết khoa học
3
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN VÈ Tự HỌC
VÀ BÀI TẠP HÓA HỌC
1.1. TỎNG QUAN VÈ VÁN ĐÈ NGHIÊN cửu
Vấn đề tự học của IIS - s V đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở
nhiều góc độ khác nhau.
1.1.1. Quan điêm và tư tưởng về tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên
thế giới. Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại
và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công
trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo
dục, đào tạo.
Khoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản. Với cuốn
sách này, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tiềm ấn và sự thông minh
sáng tạo của con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được
nghe tới.
1.1.2. Quan diêm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến. Truyền thống tự học là một bộ
phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân tA vấn đề tự học được phát động,
nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chủ tịch IIỒ chí Minh vừa là
người khởi xướng vừa là tấm gương đế mọi người noi theo. Người từng nói “còn
sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Sau đó, truyền thống tự
học vẫn tiếp tục phát huy nhung vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đó chưa có
chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm
khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS. Nhung thực tiễn chúng minh rằng
khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội
5
•
Trần Anh Tuấn có bài viết: “Vấn đề tự học của HS từ góc độ đảnh giá chất
lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5
năm 1996.
•
PGS.TSKIi. Thái Duy Tuyên và Trần Thị Trúc có bài viết: “Tổ chức dạy học
trên lớp đế giúp sinh viên tự học” đãng trên Tạp chí Giáo dục số 123 năm 2005.
TS. Nguyễn Gia cầu có bài viết: “Bồi dưỡng cho IIS tính tích cực, chủ động
trong quá trình tự học văn” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 237 năm 2009.
6
cách giải quyết nhiều loại khó khăn trong quá trình tự học. Hai cuốn sách
này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và
học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học.
Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất
cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học.
1.1.3. Quan điêm và tư tưởng về tự học đoi với môn hóa
Iióa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học
phải có tư duy thích họp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng TN,
năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập
sáng tạo.
Theo PGS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập
thông tin. Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng. Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ
hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn. Trong thực tế một người có thể học theo
nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá
trình học. Tự học đóng một vai trò quan ừọng trong quá trình tiếp thu tri thức và
hoàn thiện nhân cách của con người.
Theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường: Đe việc học đáp ứng 4 trụ cột mà
Unesco đề ra: Học để học cách học, học để làm, học để sáng tạo và học để chung
sống với người khác thì người học phải tuân theo công thức 411: Học- Hỏi- IiiểuHành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học trong mọi hoàn
1.2. BÀI TẬP HÓA HỌC
8
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản.
+ Viết PTHH của các pư có thể xảy ra.
b) Xây dụng tiến trình luận giải
Thực chất là đi tìm con đường đi tư cái cần tìm đến cái đã cho. Bằng cách xét
một vài các bài toán phụ liên quan. Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là
ở giai đoạn này. Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dụng cho mình một tiến trình
luận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập. Thông qua đó HS không chỉ
nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận
để giải bất kỳ một bài tập nào khác. Điều này được thông qua một số dạng câu hỏi
như sau (GV gợi ý sau đó tập dần cho HS tự đặt câu hỏi).
c) Thực hiện tiến trình giải
Quá trình này ngược với quá trình giải, mà thực chất là trình bày lời giải một
cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm. Với các bài tập định lượng, phần lớn là
đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ấn số để lập phương trình, giải phương
trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần).
d) Đánh giá việc giải
9
hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho
mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi. Mặt khác, trong khi
vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được
hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao.
- Đe đảm bảo cho IIS nam vững được kiến thức hoá học một cách chắc chan
cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều
hình thức tập luyện khác nhau. Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ
dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất. Theo
nghĩa rộng, quá trình học tập là quá ừình liên tiếp giải các bài tập. Vì vậy, kiến thức
sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng
Nắm vững kiến thức
1.2.2.
Vận dụng kiến thức
Xu hướng phát triển của BTHH
Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách
giải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hóa học thì ít và không gắn với thực
tế. Khi giải những bài toán này thì mất rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về
hóa học lĩnh hội được từ bài toán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả
năng vận dụng các kiến thức hóa học mà HS được học vào đó. Những bài tập này
nhiều khi làm cho các HS học trung bình dễ chán nản, thậm chí là cả những HS khá,
giỏi nhiều khi cũng như vậy. Vì bài tập này đòi hỏi quá nhiều thời gian, đôi khi nó
quá khó so với trình độ hiện có của HS.
Theo định hướng xây dụng SGK mói của Bộ giáo dục và đào tạo (2002),
quan điểm thực tiễn và đặc thù của bộ môn hóa học cần được hiểu nhu■ sau:
12
-Tự học có hưởng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
băng các phương tiện thông tin khác.
-Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học.
Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, hoạt
động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không
có sách và sự hướng dẫn của GV
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Ket quả của quá
trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây
thể hiện đinh cao của hoạt động tự học. Dạng tự học này phải được dựa trên nền
tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một
vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu. Tới trình độ tự học này người học không thầy,
không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động
của mình.
- Hình thức 2: Tự học có sách nhimg không có GV bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
14
cảnh giác với việc làm thay trò (những việc mà trò tự làm được) và trò không cảnh
giác với việc ỷ lại vào thầy (gặp khó khăn 1 chút là hỏi thầy ngay).
Theo , tự học có các hình thức sau:
- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,
học kinh nghiệm của người khác. IIS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến
thức, IIS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự
học của mình... Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay
làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ
thông. Đe giúp IIS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết
quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ.
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng
giải minh họa, nhung không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không
nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS cũng không
đánh giá được kết quả học tập của mình.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách
xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn
cách tra cứu, bô sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm
trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và
không biết hỏi ai.
16
* Tự học có hướng dẫn
Tự học là một hình thức học. Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,
nội dung và phương pháp phù hợp. Ilình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm
bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận
thức của IIS.
Cần hiếu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên
ngoài và hoạt động bên trong. Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự
phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản
thân HS. Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học. Trong tự học
có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và
trực tiếp từ GV.
Nguồn hướng dân qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày
kiến thức mà không có nhũng chỉ dẫn về phương pháp hoạt động đế dẫn đến kiến
thức, để hình thành kĩ năng. Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK
thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau
khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc đê vận
dụng cho các bài sau. Đe khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài
việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát
hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá
kết quả...
Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lóp: Hiện nay theo quy
đinh của Bộ Giáo dục đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ
Tự
kiểm tra,
Tư điểu chữih
- Tự thể hiện
(2) cứu
Tư ti lê hiên
Chu trình tư hoc
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định
hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.
18
của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và
thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lóp học.
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sụ hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi
thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đau của mình, tự sửa
sai, tự điều chỉnh thành sản phấm khoa học (tri thức).
1.3.4.
quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng, GV luôn giữ một vai trò
quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ
đạo hoạt động học tập của IIS. Nhung thực tế cho thấy rằng, dù GV có kiến thức
uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng lis không chịu đầu
tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức,
không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập họp lý,
không tự giác tích cực trong học tập... thì việc học tập không đạt kết quả cao được.
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất
quan trọng trong quá trình học tập của người học. Tự học là yếu tố quyết định chất
lượng và hiệu quả của hoạt động học tập.
- Thứ nhất, tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề
nghiệp trong tương lai. Chính trong quá trình tự học HS đã từng bước biến vốn kinh
nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân. Hoạt động tự học đã
20
tuệ và rèn luyện nhân cách của mình. Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học,
rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng
say mê nghiên cứu khoa học.
- Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí
và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở IIS tiềm năng to lớn vốn có của
họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở
ngại bên ngoài. Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất
lượng đào tạo.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tập thể