21
Xuất phát từ những lý do MỞ
trên,ĐẦU
chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện
pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ỏ các
Lí donon
chọn
đề tàiThạch Thành, Tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận
trường1.mầm
Huyện
văn Thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cúu
Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm
non có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành
và phátTrên
triểncơnhân
cách con
điềutrạng
22, chương
mụclý1,bồi
Luật
giáo
sở nghiên
cứungười.
lý luậnTheo
và thực
công tácII,quản
dưỡng
dục
tàituệ,
đề thẩm
xuất một
số biện
pháp
quảnyếu
lý tố
công
cách
chuẩn
trẻviên
em mầm
vào học
chuyên
môn bị
chocho
giáo
non.lớp một” [12]. Muốn đạt được mục tiêu
giáo dục
vấnthể
đề đầu
tiêntượng
là phải
quan tâm
3. trên,
Khách
và đối
nghiên
cúu đến năng lực sư phạm của đội
ngũ nhà giáo, bởi vì đây là người trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát
quannhững
đến đềnăng
tài đê
phụ huynh,
đồng
cộng
được
lựchình
sư thành
phạm
cơ sởngười
lý luận.giáo viên mầm non phải không ngừng học tập, rèn luyện tại
này,
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
3
- Nhóm các phưưng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp toán học
7. Phạm vi nghiên cứu
Đe tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên ở các trường mầm non Huyện Thạch Thành Thanh Hóa.
8. Dóng góp của đề tài
8.1. về mặt lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận các giải pháp quản lý
trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều
kiện nhà trường mà tác giả đang công tác đê từng bước củng cố, đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong
giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Thực trạng quản
lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở các trường mầm non
huyện Thạch Thành”. Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, tác
giả đã chọn đề tài trên làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cúu
1.2.1. Khái niệm về quản lý, Quản lý giáo dục
1.2.1.1. Khải niệm về quản ỉỷ
Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa
con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với
5
xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo.
Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Quản lý là một thuộc tính gắn
liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Ngay từ thuở bình minh của
xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì
sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải lao động chung, kết hợp
thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp
tác trong lao động, tức là phải có quản lý.
c. Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo
đẻ điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí
quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy
quản lý đê đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện xem xét
tình hình thực hiện công việc so với yêu cầu đê từ đó đánh giá đúng đắn.
1.2.1.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là hoạt
động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đấy sự
phát triển xã hội. Đe hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được
tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất. Điều này dẫn đến
một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong
giáo dục, đó là hoạt động quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục được xem như là
một hoạt động chuyên biệt để quản lý các cơ sở giáo dục.
* Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Trần Kiểm cho rằng: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thẻ quản lý ở các cấp khác nhau
nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy
luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thê lực của trẻ em. [8]
Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường (quản lý giáo dục nói
7
chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm
của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục
tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh. [6]
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo
dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm
vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành
- Cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường.
- Quan hệ của nhà trường- gia đình và xã hội.
Người đứng đầu một nhà trường có chức danh "Hiệu trưởng”. Hiệu
trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bố nhiệm hoặc công nhận.
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động bên trong
nhà trường và phối hợp quản lý giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục xã
hội, trong đó cốt lõi là quản lý quá trình dạy học và giáo dục. Quản lý nhà
trường vừa mang tính Nhà nước vừa mang tính xã hội. Cho nên quản lý nhà
trường phải biết phối hợp với các lực lượng xã hội đế cùng thực hiện mục tiêu
GD- ĐT.
Đẻ hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu
quả cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà
trường. Quá trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động
sư phạm của thầy giáo, quản lý hoạt động học tập- tự học tập của học sinh và
quản lý cơ sở vật chất- thiết bị phục vụ dạy và học. Trong đó, người cán bộ
quản lý phải trực tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian đê quản lý hoạt động
lực lượng trực tiếp đào tạo. Tất cả các hoạt động quản lý khác đều nhằm mục
đích nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học.
1.2.3. Khái niệm quản lý trường mầm non
Trường mầm non là một tố chức xã hội được xây dựng trên cơ sở tự
nguyện, với sự hỗ trợ của nhà nước và nhân dân về vật chất cũng như tinh
thần. Đây là một môi trường đặc biệt, vừa mang tính chất của một trường học
9
vừa mang tính chất của một gia đình, giữa cô và trẻ vừa có mối quan hệ xã
10
* Nhiệm vụ
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi.
- Tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em theo chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ mầm non do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật.
- Chủ động kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng
chăm sóc giáo dục trẻ em, kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã
hội nhằm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em
cho gia đình và cộng đồng.
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của trường tham gia các
hoạt động trong phạm vi cộng đồng.
- Giúp đỡ các cơ sở giáo dục mầm non khác trong địa bàn.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
Tóm lại, công tác quản lý trường mầm non là quản lý quá trình chăm
sóc giáo dục trẻ, đảm bảo cho quá trình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả.
Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ gồm các nhân tố tạo thành sau: mục tiêu,
nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo
viên (Lực lượng giáo dục), trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi (Đối
tượng giáo dục), kết quả chăm sóc giáo dục trẻ.
1.2.4. Khái niệm về chuyên môn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
* Theo từ điển giáo dục, bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm những
kiến thức, thái độ, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực
hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
Bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành
nhân cách và những phâm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục
đích đã chọn. [7]
Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thế giáo dục đến đối tượng
được giáo dục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm
12
chất và phát triển theo chiều hướng tốt hưn [10].
Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến
thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ GV đê tăng thêm năng lực, phẩm
chất theo yêu cầu của ngành học. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền
tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng
là việc làm thường xuyên, hên tục cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không
ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ đê thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế
xã hội. Nội dung bồi dưỡng được triến khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp
cho tìmg đối tượng cụ thể. [9]
Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị cho con
người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý
thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm
nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc. Sau khi
được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển
nguồn nhân lực trong hiện tại và trong tương lai của tố chức. [9].
1.3 Một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Mầm non
chuân theo quy định. Trên cơ sở những kiến thức chuyên môn chắc chắn mới
thể hiện kỹ năng sư phạm nhuần nhuyễn. Có nghĩa là người GV có một trình
độ chuyên môn vững vàng, kiến thức sâu sắc, toàn diện là cơ sở cho việc cải
tiến phương pháp dạy học và hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm. Việc bồi dưỡng
để hoàn thiện kỹ năng sư phạm là cần thiết và phù hợp với khả năng của các
trường, là hình thức phố biến thường làm ở các trường.
Bao gồm:
* Bồi dưỡng kiến thức
Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về giáo dục MN, về chăm sóc sức khỏe lứa
tuổi MN; Các kiến thức cơ sở chuyên ngành: Các kiến thức phố thông về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục MN.
* Bồi dưỡng những kỹ năng về chăm sóc - giáo dục trẻ:
Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc - giáo dục trẻ theo năm
14
học, tháng, tuần; lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục
tiêu chăm sóc - giáo dục trẻ.
Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe
cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ
chức bữa ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng
tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối vói trẻ.
Bồi dưỡng kỹ năng tố chức hoạt động giáo dục trẻ: tổ chức các hoạt
động giáo dục theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ,
môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lóp; sử dụng hiệu quả
đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào
việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và có phương pháp
công tác, thông qua sinh hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo
từng trường hoặc cụm trường... Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng
GV theo hướng này:
- Tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn nhau.
- Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ.
- Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học.
- Các GV trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc
theo tổ. GV giỏi giúp GV còn yếu về chuyên môn, GV có kinh nghiệm giảng
dạy giúp GV mới ra trường.
- Tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
- Tạo điều kiện cho GV tham dự các hội thảo, seminar.
* Bồi dưỡng thường xuyên: Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để
họ được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ
trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục
trẻ. Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi GV phải có ý thức tự bồi
dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thê dạy tốt
chương trình mói.
* Bồi dưỡng thay sách: Là hình thức bồi dưỡng được tiến hành khi có
những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ. Loại
bồi dưỡng này chủ yếu giúp GV có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới
16
trong chưưng trình về nội dung cũng nhu phương pháp giáo dục, kỹ’ năng sư
phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới. Các đợt bồi
dưỡng thay sách này thường diễn ra trong hè trước khi năm học mới bắt đầu.
lớn, là những người đã có phương pháp sư phạm nên phương pháp bồi
dưỡng phải linh hoạt, phù hợp, nghiêng về phương pháp tự học, tự nghiên
cứu trên cơ sở hướng dẫn khai thác nhiều kênh thông tin. Hiện nay, khai
thác những tiến bộ của khoa học công nghệ trong hoạt động bồi dưỡng
đang được khuyến khích.
1.4. Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
mầm non
1.4.1. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự
các công việc của quá trình quản lý. Mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể,
là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện.
Chức năng của quản lý là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ
thể quản lý nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu. Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng của
quản lý, nhưng về cơ bản thì quản lý có 4 chức năng: Lập kế hoạch, tố chức,
lãnh đạo - chỉ đạo, kiếm tra - đánh giá.
- Lập kế hoạch: Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng lập kế
hoạch đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các
chức năng khác, đây được coi là chức năng hạt nhân, quan trọng của quá trình
quản lý.
Lập kế hoạch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thê
để đạt mục tiêu. Muốn có được bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính
khả thi phải thực hiện tốt chức năng dự báo. Khi dự báo phải biết rõ thực lực
của mình, đó là việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường cần đạt
tới trên cơ sở phân tích sư phạm và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về chỉ
thị và nhiệm vụ năm học mới đê suy ra những định hướng cơ bản trong năm
đề ra. Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi
thành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu đề ra.
Bản chất của chức năng lãnh đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người,
19
khơi dậy động lực, tiềm năng của nhân tố con người trong hệ thống quản lý,
thực hiện mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết
những mối liên hệ đó đê họ tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.
Chức năng này có tính chất tác nghiệp điều chỉnh, điều hành hoạt động
của hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định, để biến mục tiêu trong
dự kiến thành kết quả thực hiện.
Điều khiến bộ máy thực chất là điều khiển con người, điều khiển phải
căn cứ vào kế hoạch. Đẻ điều khiến được con người thì phải có quyền lực,
phải có sự phân công rạch ròi (danh có chính, ngôn mới thuận), không những
vậy, mà còn phải có các công cụ khác (lợi ích về vật chất và tinh thần). Đẻ chỉ
đạo và điều hành có hiệu quả chủ thể, ngoài việc khuyến khích vật chất, phải
biết khuyến khích, động viên tinh thần đối tượng...
- Chức năng kiểm tra: Là thu thập những thông tin ngược từ phía bộ
máy, tức là nắm tình hình từ dưới bộ máy lên để biết được:
I Thực trạng của bộ máy: Bộ máy đang được hoạt động như thế nào để
có kế hoạch điều chỉnh, nhằm đạt được tới mục tiêu đã định.
+ Thực trạng các quyết định quản lý: Việc thực hiện quyết định đến
đâu, ở mức độ nào đê kịp thời điều chỉnh, sửa chữa.
Thông qua việc kiểm tra một cá nhân, một nhóm, hoặc một tổ chức
theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động
sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với
những chi phí bỏ ra. Nếu không tưong xứng, thì phải tiến hành những hoạt
động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có
viên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, góp
phần khẳng định vị thế trường mầm non đạt chuân quốc gia, giữ vị trí nòng
cốt của các sơ sở giáo dục mầm non, khăng định thương hiệu của nhà trường.
1.4.3. Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
Với mục tiêu như trên, nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên
môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non bao gồm:
21
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên: Đội ngũ
cán bộ, giáo viên là nguồn nhân lực sư phạm có vai trò quyết định đến
chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường. Đế đáp ứng kịp thời với
yêu cầu ngày càng cao của xã hội về chất lượng giáo dục, hiệu trưởng cần
phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thường
xuyên, liên tục, cập nhật với chương trình giáo dục mầm non mới, phương
pháp giáo dục mới,...
- Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên:
Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên là một yêu cầu cấp bách
trong nhà trường. Hiệu trưởng trường mầm non cần tạo điều kiện cho đội ngũ
cán bộ, giáo viên vận dụng lý luận đã học vào thực tiễn, tích lũy và tổng kết
được những kinh nghiệm thực tiễn, rút ra những lý luận mới. Qua đó, nâng
cao trình độ về mọi mặt. Muốn đạt được nội dung trên, hiệu trưởng cần phải:
+ Củng cố thêm nhận thức về vị trí và trách nhiệm cho cán bộ,
giáo viên.
+ Xây dựng được khối đoàn kết, nhất trí trong nhà trường.
+ Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ,
+ Tham quan học hỏi các trường bạn.
Từ đó có kế hoạch tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên
phù hợp với đặc điểm tình hình của trường mình mà vẫn đạt hiệu quả.
- Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Hiệu trưởng chỉ đạo cụ thê hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên về mục tiêu, nội dung bồi dưỡng, thời gian bồi dưỡng, thời điểm bồi
dưỡng, hình thức bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng, địa điểm bồi dưỡng,
phân công trách nhiệm cho từng thành viên, yêu cầu cần đạt sau bồi dưỡng.
Hiệu trưởng sẽ nắm được kết quả chuyên môn mà giáo viên đạt được đế từ đó
có những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn hiệu quả.
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
- Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
- Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
- Kiếm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
23
1.5.
Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên
Hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của hiệu trưởng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
1.5.1. Các yếu tổ khách quan
- Cơ sở vật chất của trường lớp mầm non, đặc biệt là trang thiết bị đáp
nói chung, đặc biệt là trường mầm non đạt chuấn quốc gia có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đế nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, giúp
giáo viên mầm non thực sự là người có tay nghề, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, có
khả năng chủ động cải tiến, sáng tạo trong mọi hoạt động chăm sóc - giáo dục
trẻ, kịp thời tiếp cận với chương trình giáo dục mầm non mới.
Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức đế đáp ứng yêu cầu đòi hỏi
ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Làm
tốt công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm
non, chắc chắn đội ngũ giáo viên mầm non sẽ có một trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình.
Cơ sở lý luận về các biện pháp chỉ đạo chuyên môn của hiệu trưởng là
căn cứ để nghiên cứu thực trạng quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên ở một số trường mầm non tại Huyện Thạch Thành, vấn đề này tôi tập
trung nghiên cứu ở chương 2 và chương 3.
25
Chương 2
THựC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỌNG BÒI DƯỠNG CHUYÊN
MÔN CHO GIÁO VIÊN ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN THẠCH THÀNH
2.1. Khái quát chung về sự phát triến kinh tế- xã hội- giáo dục
Thạch Thành
2.1.1. Khái quát về sự phát triến kinh tế- xã hội Thạch Thành
Thạch Thành là một trong 11 huyện miền núi cúa Tỉnh Thanh Hóa
gồm 28 xã, thị trấn; có 7 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn theo qui định của
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, HĐND, ƯBND
huyện, sự nghiệp GD&ĐT đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào
sự ổn định và phát triển KT - XH của huyện, cụ thể:
- Qui mô, mạng lưới trường lớp cơ bản hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu
học tập. Số lượng học sinh ở các cấp học, ngành học ổn định, ít biến động.
Địa phương đã tạo điều kiện thu hút con em đến trường.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt động
dạy học. Một số trường được chuẩn hoá, khang trang. Nhiều trường Tiểu học
có đủ các điều kiện tổ chức được các lớp tăng buổi và 2 buổi/ngày, số phòng
học kiên cố tăng, phòng học tranh tre, phòng học tạm, học nhờ giảm do thực
hiện tốt nhiệm vụ kiên cố hoá trường lớp học từ nguồn đóng góp của nhân
dân, các dự án và ngân sách Nhà nước.
- về đội ngũ, với tổng số CBGV, nhân viên toàn ngành hiện có 1625
người, trong đó CBQL: 153, giáo viên văn hoá: 1408, hành chính: 60: tỷ lệ
giáo viên đạt trình độ đào tạo chuẩn bình quân toàn huyện là 98,9%, trong đó
có trình độ trên chuấn chiếm tỷ lệ 23,2%. Đội ngũ nhà giáo và CBQL toàn
ngành có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập, rèn luyện nâng cao trình độ