Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐĂT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của
Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng thuận lợicho sự
phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màn. Do vậy việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dòch bệnh bảo vệ mùa màng,
giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ
yếu. Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo
đảm an ninh lương thực cho loài người
Ngoài mặt tích cực là tiêu diệt các sinh vật gây hại mùa màng, thuốc BVTV
còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như: phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng
ruộng, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sống và ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe người tiêu dùng và cả cho người sản xuất.
Vì vậy, việc tìm hiểu mức độ sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam,
ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường sống nhằm bổ sung những
kiến thức đã học và nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ môi trường sống cho
cộng đồng là rất cần thiết đối với những sinh viên ngành môi trường.
1.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và vấn đề ô
nhiễm các chế phẩm hóa học sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam.
Đề xuất và biện pháp khắc phục.
1.3 NỘI DUNG KHÓA LUẬN
- Giới thiệu chung về thuốc BVTV và phân hóa học.
- nh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học.
- Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 1
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
- Một số kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học
Năm 1500 BC, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.
Năm 1200 BC, Trung Quốc đã có thuốc xử lý hạt giống.
Năm 900 AD (sau Công nguyên), người ta dùng arsenic sulfides để trừ côn
trùng trong vườn.
Thế kỷ thứ IV, người ta đã biết xử lý hạt lúa bằng Arsen trắng.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 3
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX là thời kỳ cách mạng nông nghiệp
ở châu Âu. Sản xuất nông nghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình
hình dòch hại càng nhiều hơn xảy ra trong phạm vi toàn thế giới. Một số thuốc trừ
sâu, dòch hại, diệt hại phổ biến ở cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chủ yếu là chất
vô cơ như Arsen, Selenium, Antimony, Sulfur… hoặc một số chất thảo mộc vốn có
chất độc. Song thời bay giờ chưa ai biết được đến độc hại của nó.
Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện một biện pháp trừ sâu hại tích cực hơn và hiêu
quả hơn. Đó là sự ra đời củ DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ vào năm 1939, và liên
tục sau đó ra đời nhiều các hợp chất hóa học khác. Đây là hợp chất đầu tiên trong
chuỗi thuốc trừ sâu được khám phá, nó tiêu diệt được một số lượng lớn côn trùng.
Trong suốt 25 năm sau đó, nó được xem như là vò cứu tinh của nhân loại, giúp
diệt trừ côn trùng và tăng sản lượng nông sản. Chu trình sản xuất cũng tương đối
rẻ nên nó được áp dụng phổ biến rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới.
- Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất có hốc lân hữu cơ.
- Năm 1947, người ta tổng hợp nên hóa chát Carbamate.
- Năm 1970 phát triện được các loại thuốc Pyrethroide.
Hiện nay, thuốc trừ sâu tồn tại 3 thế hệ, tính độc hại của thế hệ sau thường
thấp hơn thế hệ trước.
Thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất thường là thuốc chiết từ chất Nicotin, hay
Pyrethrum chiết từ một loại cúc khô, những chất vô cơ như phèn xanh, thạch tín…
Thuốc trừ sâu thế hệ thứ 2 là tổng hợp các chất hữu cơ: DDT, 666, Wofatox…
(xuất hiện vào thập niên 40).
Trong những năm qua, sự tiêu thụ PBHH trên thế giới tăng rất nhanh. Trong
đó, tăng nhiều nhất là đạm, kế đến là phân lân, phân kali tăng chậm hơn so với
các loại khác.
Năm 1973 mức tiêu thụ phân đạm là 38,9 triêu tấn/năm, đến năm 1981 tăng
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
60,3 triệu tấn/năm (bình quân hằng năm tăng 5,6%)
Năm 1973, mức tiêu thụ phân lân trên toàn thế giới là 24,2 triệu tấn; năm
1983 là 31,9 triệu tấn (bình quân mức tiêu thụ hằng năm tăng 2,8%)
Mức tiêu thụ phân kali trong những năm gần nay tăng chậm, năm 1973 tiêu
thụ 120,75 triệu tấn (bình quân hằng năm tăng 2,2%).
Tổng lượng PBHH tiêu thụ tăng từ khoảng 69 triệu tấn năm 1970 lên khoảng
146 triệu tấn năm 1990, nghóa là tăng gấp 2 lần. Tỷ lệ tiêu thụ ở các nước đang
phát triển cao hơn nhiều (360%) so với nước phát triển (61%), thế nhưng lượng
phân bón sử dụng cho 1 ha ở các nước phát triển lại cao hơn so với nước đang
phát triển.
Trong sử dụng phân bón thì số lượng và tỷ lệ N, P, K giữa các khu vực có sự
khác nhau rõ rệt. Các nước phát triển năm 1982 sử dụng bình quân 51 kg N; 31 kg
P
2
O
5
, 28 kg K
2
O (tổng số là 110 kg phân bón nguyên chất cho 1 ha đất canh tác).
Tỉ lệ N: P: K sử dụng là 1: 0,6: 0,54. các nước đang phát triển bình quân bón 33
kg N, 12 Kg P
2
O
1976 17,6
1980 15,6
1985 51,5
1990 65,3
1991 75,3
1992 68,9
1993 74,3
1994 99,2
1995 87,0
1995 so với năm 1976 494,3
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
2.2. PHÂN LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN
2.2.1. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về cả chủng loại và số lượng,
tuy nhiên có thể phân loại thuốc BVTV theo các hướng sau
2.2.1.1. Phân loại theo nhóm chất hóa học
- Gốc Clor hữu cơ:
Thành phần hóa học có chất clo là những dẫn xuất Clorobenzen (DDT),
Cyclohexan (BHC) hoặc dẫn xuất đa vòng (Aldrin, Dieldrin). Các loại thuốc
thuộc nhóm này đã đưa vào danh mục các loại bò cấm sử dụng ở Việt Nam vì tính
độc hại của nó rất cao.
- Gốc phosphor hữu cơ (lân hữu cơ):
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 8
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Từ những năm 40 và 50 các thuốc BVTV có gốc lân hữu cơ bắt đầu được
sử dụng. Dẫn xuất từ các acid phosphoric, trong công thức có chứa P, C, H, O, S…
có khả năng diệt trừ các loại sâu bệnh và một số thiên đòch.
- Carbamate:
và tổ chức Nông Lương Thế Giới
Loại độc
LD50 (chuột)(mg/kg thể trọng)
Đường miệng Đường da
Chất rắn Chất lỏng Chất rắn Chất lỏng
Ia: Cực độc ≥5 ≥20 ≥10 ≥40
Ib: Rất độc 5-50 20-200 10-100 40-400
II: Độc vừa 50-500 200-2.000 100-1.000 400-4.000
III: Độc nhẹ >500 >2.000 >1.000 >4.000
IV Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụng bình thường
(Nguồn: Asian Development Bank,1987)
2.2.1.5. Đặc tính sinh, hóa học của một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật
a. Nhóm Clo hữu cơ
Nhóm Clo hữu cơ bao gồm những hợp chất hóa học rất bền vững trong môi
trường tự nhiên đất và nước, với thời gian bán phân hủy rất dài, được xếp vào loại
độc tính loại I và loại II. Các chất này tích lũy trong chuỗi thức ăn của hệ sinh
thái, trong các mô dự trữ của sinh vật và rất ít được đào thải ra ngoài. Hợp chất
này rất bền vững trong tự nhiên như kim loại nặng. Trong nhóm Clo hữu cơ có
các nhóm thuốc sau:
- Nhóm DDT và các chất liên quan
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 10
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Nhóm này có các đại diện như DDT, DDD (TDE), Methoxychlor, Ethylen,
Dicofol, Chorobenzilate. Hai đặc tính cơ bản của DDT và chất chuyển hóa của nó
DDE là:
Bền vững trong môi trường, không bò phân hủy bởi vi sinh vật, men, nhiệt, và
UV.
Tích lũy và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm, chủ yếu tích lũy trong
mô mỡ động vật.
Dieldrin còn tiếp tục dùng trừ mối thì đến năm 1984 cũng đưa vào danh mục cấm,
riêng Chlordane và Heptaclor cũng bò cấm từ năm 1998.
Các thuốc cyclodien gay độc thần kinh tương tự DDT và HCH, chúng cũng
làm rối loạn sự cân bằng muối và kali trong các nơ-ron nhưng theo một cách khác
so với DDT và HCH. Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sử dụng
Aldrin, Dieldrin, Endrin. Chlordane, Heptachlor, Isodrin, và hạn chế Endosulfan
vào tháng 5 năm 1996.
- Các Polycholorterpene
Nhóm Polychlorterpene chỉ có 2 chất là Toxaphene (1947) và Strobane 1951).
Trong nông nghiệp, Toxaphene được dùng rất nhiều, dùng ở dạng đơn độc hoặc
phối hợp với DDT hoặc Metul Parathion. Toxapehe là hỗn hợp gồm 177 chất dẫn
xuất clohoa1 của hợp chất 10 cardbon. Thành phần cực độc của hỗn hợp
Toxaphene này là Toxacant A, chỉ chiếm 3% trong hỗn hợp kỹ thuật. Chất này
độc gấp 18 lần trên chuột, 6 lần trên ruồi và 36 lần trên cá vàng so với hỗn hợp
Toxaphene kỹ thuật.
Các loại thuốc này lưu lại trong đất nhưng không bằng Cyclodiene, và thường
biến mất khỏi bề mặt thực vật sau khi phun thuốc hai hay ba tuần. Sự mất đi chủ
yếu là do bay hơi hơn là do biến dưỡng hoặc quang phân giải. Thuốc dễ bò biến
đổi trong cơ thể động vật hoặc loài chim, không tồn lưu trong mô mỡ. Tuy ít độc
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 12
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
cho côn trùng, động vật có vú và chim, thuốc lại rất độc đối với cá (tương tự như
Toxaphene). Cơ chế gay độc cũng tương tự như Cylodiene.
Ở Mỹ, Toxanphen đã bi cấm vào năm 1993. Trong nhóm này, Việt Nam đã
cấm sử dụng Toxphene và Strobane vào tháng 5 năm 1996.
b. Nhóm Phospho hữu cơ
Nhóm thuốc trừ sâu này gây tác động đến hệ thần kinh và ngộ độc cấp tính rất
mạnh mẽ, làm ngăn cản sự hình thành của các men cholinestera làm thần kinh
hoạt động kém, teo cơ, gây choáng váng và tử vong. Phosphor hữu cơ có độ phân
lưu dẫn, có độc tính cao đối với động vật máu nóng. Thuốc này hiện vẫn nằm
trong danh mục hạn chế sử dụng của Việt Nam.
Trong số các dẫn xuất aliphatic có nhiều chất khác lưu dẫn trong cây như:
dimethoate, dicrotophos, oxydemetonmethyl và disulfoton. Các loại này, ngoại
trừ dicrotophos bò hạn chế sử dụng, đều có thể dùng trong vườn nhà với dạng
loãng thích hợp.
Dichlorvos là dẫn xuất aliphatic có áp suất hơi lớn, hiện bò hạn chế sử dụng.
Mevinphos là một phospho hữu cơ rất độc nhưng rất mau phân hủy, dùng tốt
cho sản xuất rau thương phẩm. Thuốc này có thể dùng một ngày trước khi thu
hoạch mà không để lại dư lượng trên rau thu hoạch ngày sau.
Methamidophos (hiện đã bò cấm sử dụng) và Acephate là hai phospho hữu cơ
được dùng nhiều trong nông nghiệp, đặc biệt là côn trùng trên rau. Ngoài ra, còn
có các thuốc khác cùng loại là Phosphamidon (Dimecron), Naled (Dibrom) và
Propretamphos (Saprotin).
Sebutos (Apache, Rugby) là loại diệt côn trùng và tuyến trùng hiệu quả trên
bắp, đậu phòng, mía và khoai tây.
Nhìn chung, các dẫn xuất aliphatic đều có cấu trúc đơn giản, độ độc thay đổi
rất nhiều, khả năng hòa tan trong nước cao, có tính dẫn lưu tốt. Một số trong
nhóm này hiện bò hạn chế hoặc cấm sử dụng ở Việt Nam.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 14
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
- Các dẫn xuất Phenyl
Các thuốc nhóm này có một phenyl gắn vào phân tử acid phosphoric, các vò trí
còn lại của phân tử acid phosphoric thường mang các nhóm Cl, NO
2
,CH
3
,CN hoặc
S. các phospho phenyl thường bean hơn các phosphor hữu cơ Aliphatic, do đó dư
Nhóm này có tác động trực tiếp vào men cholimestera của hệ thần kinh.
Trong đó, có metyl izoxianat (CH
2
NCO) là chất gây ô nhiễm có thể gây chết
người (đã làm cho toàn thế giới chú ý).
Carbaryl lần đầu tiên được sử dụng thành công vào năm 1956. Thuốc có hại
đặc tính tốt là ít độc (qua miệng và qua da) đối với động vật có vú và tiêu diệt
côn trùng rộng rãi. Nhiều carbamate là chất lưu dẫn dễ hấp thu qua lá và rễ, mức
độ phân giải trong cây thấp. Các thuốc Methomyl, Oxamyl, Aldicarb và
Carbofuran (Carbofuran hiện bò hạn chế sử dụng ở Việt Nam) có đăïc tính lưu dẫn
rất tốt, do đó chúng có khả năng tiêu diệt tuyến trùng mạnh mẽ.Một số
carbamate là: Methiocarb, Trimethacarb (Broot), soprocarb (MIPC,Hytox),
Cloethocarb, Carbosulfan (Avantage), Aldoxycarb (Standak), Promecarb
(Carbamult), Mexacarbate và Fenoxycarb (Logic).
d. Nhóm Pyrethrum và Pyrethroids
Pyrethrum được ly trích từ hoa cây thủy cúc trồng ờ Phi Châu và Nam Mỹ.
Thuốc có độc tính đường miệng LD
50
khoảng 1500 mg/kg và là thuốc diệt côn
trùng xưa nhất. Pyrethrum nhanh chóng làm côn trùng tê liệt, tuy nhiên nếu
không trộn với các thuốc hợp lực thì côn trùng sẽ hợp lực nhanh chóng. Rau và
trái cây sau khi phun Pyrethrum xong có thể ăn được liền ngay ngày hôm sau.
Pyrethrum ít được dùng trong sản xuất nông nghiệp bởi vì giá đắt và không
bean với ánh sáng. Gần nay nhiều chất lượng tương tự Pyrethrum đã được tổng
hợp và gọi là Pyrethroid. Các Pyrethroid bean với ánh sáng và phổ tiêu diệt côn
trùng rộng, sử dụng với liều thấp. Các pyrethroid có 4 thế hệ:
- Thế hệ thứ nhất:
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 16
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
(Mavrik, Spur), Tefluthrin, Praleethrin (Eto), và Tralomethrin (Scout). Tất cả
những chất trên đều bền với ánh sáng, rất ít bay hơi nên tồn lưu có thể đến 10
ngày trong điều kiện môi trường thuận lợi.
Các Pyrethroid có tác dụng tương tự DDT là làm hở các kênh muối ở màng tế
bào thần kinh. Các Pyrethroid có hai loại tác dụng: loại I có hoạt tính độc mạnh ở
nhiệt độ thấp, loại II có hoạt tính độc mạnh ở nhiệt độ cao.
e. Nhóm các thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ khác
- Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ
Các thuốc lưu huỳnh hữu cơ có phân tử lưu huỳnh trong trung tâm của phân tử.
Chúng tương tự như như DDT ở chỗ có vòng phenyl. Bột rắc lưu huỳnh có tác
dụng trừ nhện, nhấ là vào lúc trời nóng. Các lưu huỳnh hữu cơ có ưu thế hơn, vì
lưu huỳnh kết hợp với phenyl có độc tính rất cao với côn trùng.
- Các thuốc Formamidine
Các thuốc Formamidine là những thuốc mới, có nhiều triển vọng. Ba loại
thuốc tiêu biểu là Chlordimeform, Formetanate và Amitraz. Thuốc có hiệu lực
chống lại sâu non và trứng của nhiều loại sâu hại trong nông nghiệp. Năm 1976,
Công ty Ciba Geigy đã thôi không sản xuất Chlordimeform vì khả năng gây ung
thư trên chuột thí nghiệm của thuốc. Loại thuốc này có giá trò trong việc tiêu diệt
các loại côn trùng đã kháng với thuốc phosphor hữu cơ và Carbamate. Thuốc ức
ch61 men monoamine oxidase làm tích tụ các hợp chất Amine, nay là một cơ chế
tác động mới khác với các thuốc cổ điển.
- Các thuốc Thiocyanates
Các thuốc Thiocyanates chứa gốc SCN trong cấu trúc phân tử (S = thio; CN =
cyanate). Thuốc có cơ chế tác động là cản trở sự hô hấp và biến dưỡng tế bào,
tiêu biểu là Lathane 384 và Thanite.
- Các thuốc Dinitrophenol
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 18
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Các thuốc gốc Dinitophenol chứa một đến hai phenol. Các thuốc chứa hai
ăn được. Ở một số loài bào tử nảy mầm trong ống tiêu hóa và gây độc, sau cùng
là làm cho sâu chết vì nhiễm độc máu.
Nhiều dòng Bacillus thuringienses tiết ra một loại nucleotide adenine là beta-
toxin, trong thời kỳ tăng trưởng mạnh, tuy nhiên các dòng này không được thong
mại hóa. Tại Việt Nam chuốc chủ yếu được dùng để trừ sâu sơ trên bắp cải. Sản
xuất thuốc này trong nước gặp khó khăn do trực khuẩn thường làm hư các mẻ sản
xuất.
Bacillus thuringiensis là một thuốc diệt côn trùng gốc vi sinh chỉ có hiệu lực
đối với nhiều sâu non bộ Lepidoptera (cánh vảy). Vì thuốc có tác dụng chuyên
biệt trên sâu non Lepidoptera và an toàn đối với người và thiên đòch của nhiều
loại côn trùng gây hại, cho nên nay là loại thuốc lý tưởng để quản lý tổng hợp
dòch hại. Thuốc không độc đối với cây trồng, không có triệu chứng độc cấp tính
trên chuột, chó và các loại động vật có vú khác, kể cả người. Trên động vật thí
nghiệm thường có phản ứng ngứa nhẹ do hít phải hoặc tiếp xúc với thuốc.
2.2.2 Phân loại phân bón hóa học
Khái niệm: phân bón là chất hữu cơ hay vô cơ có nguồn gốc tự nhiên hay nhân
tạo dùn để bón vào đất làm thức ăn cho cây và cải thiện độ phì nhiêu của đất.
Chúng ta có thể phân loại thành 3 dạng:
2.2.2.1 Phân hữu cơ
Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu
cơ gồm: phân chuồng (phân heo, trâu, bò, gà), phân xanh, phân than bùn, phụ chế
phẩm nông nghiệp, rác… Tác dụng của phân hữu cơ là giúp tăng năng suất cây
trồng đồng thời chúng nâng cao độ ẩm, độ xốp và độ phì nhiêu trong đất.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 20
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Phân chuồng: Đây là phân hữu cơ chính, được dùng phổ biến ở các nước trồng
luau và những nước công nghiệp hóa học vẫn xem phân chuồng là loại phân quý,
không chỉ làm tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng hiệu lực phân hóa học,
đặc biệt là cải tạo đất vì phân chuồng chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cho cây
2
SO
4
, đạm clorua NH
4
Cl.
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 21
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Phân lân: Đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng vì nó có trong
thành phần của protit tạo nên nhân tế bào, can cho việc tạo nên một bộ phận mới
của cây. Tham gia vào thành phần các men, tham gia tổng hợp acid amin, kích
thích phát triển rễ, giúp cây đẻ nhiều chồi, ra hoa kết quả và tăng khả năng
chống chòu của cây như chống rét, hạn, nóng, chua đất. Có 2 loại phân lân là
phân lân tự nhiên (Apatire, boat phosphorit (Ca
3
(PO
4
)
2
) ) và phân lân chế biến
(super lân, phân lân nung chảy còn được gọi là lân Phosphat canxi magie,
Tecmophotphat, cao ôn lân).
Kali: là tên gọi chung của các phân đơn cung cấp kali cho cây. Kali đóng vai
trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa của cây.
Phân Kali giúp tăng khả năng đề kháng của cây, tăng khả năng chòu úng, chòu
han, chòu rét cho cây, tăng phẩm chất và tăng năng suất nông sản khi thu hoạch
cũng như làm giàu đường trong quả, màu sắc đẹp hơn, thơm, dễ bảo quản. Một số
loại phân kali đang được người ta sử dụng như Kali Clorua (KCl), Kali Sunfat
(K
Hình 2.1: Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 23
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
Các thuốc trừ sâu khi phun rải lên nông sản, lúa, hoa màu, cây ăn trái… chòu
tác động của nhiều yếu tố môi trường làm giảm hiệu lực và thất thoát. Một phần
thuốc bò phân hủy do tác động của các yếu tố vô sinh ( độ ẩm, ánh sáng, oxy...)
Và yếu tố sinh học như tác động của của vi sinh vật trong đất, thực vật và đi vào
môi trường, một phần bò tồn lưu trong cơ thể sinh vật, sâu hại. Con đường phát tán
thuốc BVTV trong môi trường được trình bày theo hình 2.1.
Thuốc trừ sâu có thể khuếch tán bằng nhiều con đường khác nhau. Khi di
chuyển đi xa, các nhóm clo hữu cơ không dễ tan trong nước nên tích tụ nhanh
chóng ở lớp trầm tích dưới đáy các vũng nước, ao hồ… Do thuốc trừ sâu có chứa
trong khí quyển nên ta thấy trong nước mưa có nồng độ bằng hoặc cao hơn nồng
độ cao nhất tìm thấy trong nước sông.
Thuốc trừ sâu có thể khuếch tán bằng nhiều con đường khác nhau.
Trong môi trường không khí: khi phun thuốc trừ sâu vào môi trường không khí
bò ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi. Dưới tác dụng của ánh sáng, nhiệt độ, gió… và tính
SVTH: Lưu Nguyễn Thành Công Trang 24
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thò Hai
chất hóa học, thuốc trừ sâu có thể lan truyền trong không khí. Lượng tồn lưu trong
không khí sẽ khuếch tán và có thể di chuyển xa đến nơi khác.
Trong môi trường nước: Ô nhiễm môi trường đất dẫn đến ô nhiễm nguồn
nước. Thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác động của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy, lắng
đọng trong lớp bùn đáy ở sông, hồ, ao… sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. thuốc trừ sâu
có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vài
km.
Thuốc trừ sâu phun lên cây trồng thì trong đó có đến khoảng 50% rơi xuống
đất, sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt, một lớp lắng gọi là dư lượng gây hại