nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước tại cơ quan hành chính sự nghiệp - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN ĐỨC THỌ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH - SỰ NGHIỆP THUỘC BỘ TÀI CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI – 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
==============

NGUYỄN ĐỨC THỌ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH - SỰ NGHIỆP THUỘC BỘ TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:
603101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

1.1.2 Những đặc điểm của ngân sách nhà nước

15

1.1.3 Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước

17

1.2. Một số vấn đề cơ bản về quản lý kinh phí ngân sách nhà nước tại các cơ

20

quan hành chính - sự nghiệp
1.2.1 Cơ quan hành chính - sự nghiệp và vai trò của chúng

20

1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý kinh phí ngân sách nhà nước tại các cơ quan

22

hành chính - sự nghiệp
1.2.3 Nội dung quản lý kinh phí ngân sách nhà nước tại các cơ quan hành

23

chính - sự nghiệp
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý kinh phí ngân sách nhà nước tại các

27

41

sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
2.1.1 Khái quát về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính

41

2.1.2 Đặc điểm công tác quản lý, sử dụng kinh phí tại các cơ quan hành chính -

43

sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính


2.2. Tình hình quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước tại các cơ

44

quan hành chính - sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
2.2.1 Tổ chức bộ máy làm nhiệm vụ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà

44

nước tại các cơ quan hành chính - sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
2.2.2 Định mức phân bổ kinh phí ngân sách nhà nước cho các cơ quan hành

48

chính - sự nghiệp hiện nay
2.2.3 Công tác hướng dẫn, cụ thể hoá các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định


QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH - SỰ NGHIỆP

3.1. Mục tiêu chiến lược tài chính, định hướng phát triển công tác quản lý và

78

sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2015
3.1.1 Hướng dẫn, cụ thể hoá các chính sách, chế độ, định mức trong quản lý và

79

sử dụng kinh phí đảm bảo đồng bộ, đầy đủ và phù hợp với các cơ quan
hành chính-sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
3.1.2 Đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính theo hướng mở rộng phân cấp,

80

giao quyền chủ động cho các đơn vị trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ
trên cơ sở xây dựng quy trình quản lý tài chính, đầu tư và quản lý tài sản
đảm bảo tính minh bạch, công khai
3.1.3 Hoạch định và phát triển một cách mạnh mẽ và toàn diện việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong công tác quản lý và sử dụng kinh phí nhằm hỗ
trợ có hiệu quả nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các

82



hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan hành chính
- sự nghiệp
3.2.3 Quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước tại các cơ quan hành

86

chính - sự nghiệp phải quán triệt quan điểm tiết kiệm và đánh giá hiệu
quả thông qua kết quả đầu ra
3.3. Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách

87

nhà nước tại các cơ quan hành chính - sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính cũng
như tại các cơ quan hành chính - sự nghiệp của nước ta
3.3.1 Các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước

87

3.3.2 Các giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, tự kiểm tra nội bộ

94

3.3.3 Xây dựng kế hoạch từ 3 - 5 năm về sử dụng kinh phí của các cơ quan

97

hành chính sự nghiệp
3.3.4

Thu gọn số lượng các đơn vị dự toán của các Bộ, ngành

không phải chỉ đối với Việt Nam do NSNN còn hạn hẹp, mà nhiều nước, kể
các các nước phát triển cũng phải đối mặt với nó. Để giải quyết mâu thuẫn
này không thể chỉ thực hiện bằng biện pháp tăng chi NSNN cho lĩnh vực
HCSN, mà vấn đề đặt ra là phải xây dựng được cơ chế quản lý và sử dụng
hợp lý, có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN dành cho lĩnh vực HCSN để đảm
bảo mục tiêu, yêu cầu tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ
quan HCSN, đồng thời thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu
NSNN.
Hiện nay Việt Nam đã có Luật NSNN. Đây một đạo Luật tương đối
hoàn chỉnh để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực NSNN. Đặc biệt
trong công tác quản lý chi NSNN, Luật NSNN và các văn bản quy phạm pháp
luật quy định chi tiết, hướng dẫn Luật đã quy định cụ thể toàn bộ quy trình
lập, chấp hành, kế toán và quyết toán NSNN. Tuy nhiên trong quá trình triển
khai thực hiện Luật NSNN tại các cơ quan HCSN đã phát sinh, bộc lộ một số

1


điểm tồn tại làm hạn chế hiệu quả quản lý của các cơ quan chức năng, ảnh
hưởng không tốt đến công tác quản lý và sử dụng NSNN.
Bộ Tài chính là một cơ quan HCSN đa ngành, đa lĩnh vực với các
đơn vị trực thuộc trải rộng từ Trung ương đến các huyện trong phạm vi toàn
quốc, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính hoạt động bao trùm trong hầu hết các sự
nghiệp thuộc lĩnh vực HCSN. Với số lượng cán bộ, công chức, viên chức
đông đảo nhất và hàng năm Bộ Tài chính sử dụng một lượng kinh phí NSNN
lớn nhất so với các cơ quan HCSN ở Trung ương. Do đó, hầu hết những điểm
tồn tại, những vấn đề phát sinh từ thực tiễn chi kinh phí NSNN trong lĩnh vực
HCSN đều được thể hiện tại các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Vì vậy, tôi đã
chọn Bộ Tài chính là một cơ quan điển hình trong lĩnh vực HCSN.
Từ thực tế khách quan nêu trên, từng bước hoàn thiện công tác quản lý

dân cử trong lĩnh vực NSNN ở Việt Nam (Vũ Văn Hóa, Tạp chí Tài chính
tháng 6/2004).
- Đổi mới quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, gắn với tầm nhìn
trung hạn (Bùi Đường Nghêu, Tạp chí Tài chính tháng 7/2004).
- Phân cấp trong lĩnh vực quản lý tài chính – ngân sách ở Việt Nam
(Phạm Đình Cường, Tạp chí Tài chính tháng 7/2004).
- Nhìn lại 2 năm mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý
hành chính (Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu, Tạp chí Tài chính tháng 10/2004).
- Sau một năm thực hiện Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi) (Nguyễn
Công Điều, Tạp chí Tài chính tháng 12/2004).
- Chống lãng phí, thất thoát vốn NSNN - vấn đề hết sức quan trọng
hiện nay (Lý Hoàng Ánh – Chu Nguyên Khương, Tạp chí Tài chính tháng
12/2004).
- Đổi mới chính sách tài chính giai đoạn 2001 – 2005 và định hướng
đổi mới giai đoạn 2006 - 2010 (Nguyễn Công Nghiệp, Tạp chí Tài chính
tháng 1/2005).

3


- Cải cách hành chính trong công tác tài chính: nhanh hơn, mạnh hơn,
toàn diện hơn... (Trần Văn Tá, Tạp chí Tài chính tháng 1/2005).
- “Thêm tai, thêm mắt” cho giám sát (Quỳnh Mai, Tạp chí Tài chính
tháng 2/2005).
- Quyết toán NSNN năm 2003, những vấn đề về quản lý (Trần Văn
Hiền, Tạp chí Tài chính tháng 7/2005).
- Nhiệm vụ NSNN những tháng cuối năm 2005 (Trần Văn Hiền, Tạp
chí Tài chính tháng 8/2005).
- Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí
quản lý hành chính trong các cơ quan Nhà nước (Nguyễn Trường Giang, Tạp

HCSN thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan HCSN nói chung.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động quản lý và sử dụng kinh
phí NSNN tại các cơ quan HCSN thuộc Bộ Tài chính dưới góc độ Kinh tế
chính trị.
- Phạm vi nghiên cứu: chi kinh phí trong các cơ quan HCSN có phạm
vi rất rộng. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình,
số liệu quản lý và sử dụng kinh phí NSNN trong phạm vi các cơ quan HCSN
thuộc Bộ Tài chính đối với các nội dung chi thường xuyên; các số liệu và tình
hình thực tế tập trung ở giai đoạn 2001 - 2007.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận để nghiên cứu là duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phân tích và tổng hợp, lô gic và
lịch sử, diễn dịch và quy nạp.... trên cơ sở tình hình, số liệu khảo sát thực tế
tại Bộ Tài chính. Luận văn còn sử dụng phương pháp đối chiếu và so sánh
trong một số vấn đề.

6. Dự kiến những đóng góp mới về khoa học của luận văn

5


- Từ việc nghiên cứu quản lý và sử dụng kinh phí NSNN trong lĩnh vực
HCSN ở một số nước, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý và sử dụng kinh phí NSNN
trong lĩnh vực HCSN tại các cơ quan HCSN thuộc Bộ Tài chính để chỉ ra

Nhà nước là một tổ chức công quyền thống nhất quản lý toàn xã hội về mọi
mặt. Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ quản lý của mình, Nhà nước cần
có đảm bảo vật chất và nguồn lực tài chính nhất định hay nói cách khác Nhà
nước cần phải có ngân sách để hoạt động. Như vậy, NSNN được hình thành
để đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động của Nhà nước.
Luật ngân sách Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 12
năm 2002 đã quy định: ”Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước”.
Nhà nước trong mọi hình thái xã hội đều mang tính chất giai cấp. Nhà
nước sử dụng quyền lực của Nhà nước để nắm kinh tế và dùng kinh tế để duy
trì quyền lực của giai cấp mình. Do NSNN gắn với một Nhà nước cụ thể, gắn
với một chế độ chính trị nhất định và là công cụ cơ bản để thực hiện các chức
năng của Nhà nước nên NSNN cũng mang tính giai cấp. Bản chất của NSNN
gắn liền với bản chất của Nhà nước sinh ra ngân sách đồng thời cũng là đối
tượng để ngân sách phục vụ.
7


NSNN là nền tảng vật chất có vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển
của Nhà nước. NSNN đảm bảo nguồn lực tài chính để Nhà nước duy trì bộ
máy cai trị bảo vệ quyền lực Nhà nước gồm các cơ quan hành chính, quân
đội, cảnh sát, toà án... Đồng thời, NSNN cũng là nguồn lực cơ bản để Nhà
nước thực hiện vai trò quản lý kinh tế xã hội, đầu tư thúc đẩy phát triển các
lĩnh vực kinh tế - xã hội như: nông nghiệp, thuỷ lợi, công nghiệp, giao thông,
thương mại, y tế, giáo dục...
Trong thực tế luôn luôn tồn tại mâu thuẫn giữa Nhà nước với các chủ
thể kinh tế trong xã hội trong việc huy động một phần nguồn thu nhập của họ
vào NSNN. Để giải quyết mâu thuẫn này, đáp ứng yêu cầu về chi tiêu của

nghèo, chính sách phát triển con người, thực hiện bảo trợ xã hội...
Hoạt động thu, chi NSNN được tiến hành rất đa dạng và phong phú
trên hầu hết các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh... và
tác động đến mọi chủ thể xã hội. Thu, chi NSNN bên cạnh việc đem lại các
kết quả trực tiếp như đã trình bày ở trên còn có tác dụng trong việc điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế. Hoạt động thu, chi ngân sách vừa tác động trực tiếp vừa
gián tiếp tới một số cân đối lớn của nền kinh tế như: cân đối tích luỹ và tiêu
dùng, cơ cấu chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, đồng thời tạo lập môi
trường kinh tế ổn định làm tiền đề khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham
gia vào hoạt động kinh tế của đất nước.
Hoạt động thu, chi của NSNN được hiểu là hoạt động phân phối các
nguồn tài chính, là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước và xã
hội, với kết quả là các nguồn tài chính được chia thành hai phần: phần nộp
vào NSNN và phần để lại cho các thành viên của xã hội. Phần nộp vào NSNN
sẽ tiếp tục được phân phối lại, thể hiện qua các khoản chi từ ngân sách cho
các mục đích tiêu dùng và đầu tư. Sự tham gia của NSNN vào quá trình phân
phối các nguồn tài chính làm xuất hiện các quan hệ tài chính. Hệ thống các

9


quan hệ tài chính là sự thể hiện bản chất của NSNN; dưới các hình thức cụ
thể, đó là các mối quan hệ như sau:
Thứ nhất, quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, trong
đó Nhà nước ban hành chính sách huy động một phần thu nhập tài chính của
doanh nghiệp vào NSNN; nhà nước tái đầu tư lại cho doanh nghiệp dưới hình
thức trực tiếp và gián tiếp và tạo dựng môi trường tài chính cần thiết để doanh
nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.
Thứ hai, quan hệ giữa NSNN với các cơ quan quản lý nhà nước trong
các lĩnh vực hành chính, sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế và thực hiện

Nhà nước, là một trong những công cụ để điều chỉnh kinh tế vĩ mô và vi mô
của nền kinh tế trên tất cả các lĩnh vực, xã hội và thị trường... Do đó NSNN
có một số đặc trưng chủ yếu như sau:
Về mặt kinh tế: NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo điều
kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước
đã vạch ra, ngoài ra nó còn có tác dụng khắc phục những khuyết tật vốn có
của kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng công cụ ngân sách để định hướng và
hình thành một cơ cấu kinh tế mới đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế phát triển
cân đối, bền vững, chống độc quyền, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và
các nguồn lực khác...
Thông qua chính sách thu NSNN, Nhà nước tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế mũi nhọn phát triển, thực hiện các chính sách tài chính hỗ trợ
phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng, khu vực, ngành nghề, lĩnh vực cần
khuyến khích đầu tư ... Thông qua chính sách chi NSNN, Nhà nước đầu tư cơ
sở hạ tầng kinh tế như: giao thông, công nghệ thông tin, cải tạo môi trường...
để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp ra đời và phát triển. Bên cạnh đó, Nhà
nước sử dụng chức năng thu, chi NSNN là một công cụ để thiết lập một cơ

11


cấu kinh tế ổn định, cân bằng và hợp lý phù hợp với đặc điểm và điều kiện
chung của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
Về mặt xã hội: thông qua chính sách thu, chi NSNN, Nhà nước thực
hiện phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Bằng chính sách thu
ngân sách, Nhà nước thực hiện điều tiết một phần thu nhập của những người
có thu nhập cao, tạo nên một sự công bằng hợp lý trong xã hội, thu hẹp
khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Bằng chính
sách chi ngân sách, Nhà nước thực hiện các chính sách về việc làm, chính
sách bảo trợ xã hội, chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân... Với chính sách

của Nhà nước vào quá trình kinh tế. Từ đó đến nay, nhiều nhà kinh tế đều cho
rằng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, không thể không có sự can
thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên cách thức, mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà
nước vào hoạt động của nền kinh tế thị trường là vấn đề cần cân nhắc và có sự
nhìn nhận khác nhau.
Thực tế, nền kinh tế thị trường trong quá trình vận hành sẽ nảy sinh các
khiếm khuyết, đó là những nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến việc sử dụng
không hiệu quả các nguồn lực xã hội, dẫn đến phân phối không công bằng,
mất ổn định và khủng hoảng kinh tế. Do đó vai trò Nhà nước trong nền kinh
tế thị trường là hết sức cần thiết, thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô,
Nhà nước thực hiện can thiệp kịp thời, khắc phục các khiếm khuyết nảy sinh
từ sự phát triển tự phát của thị trường, giúp thị trường vận hành suôn sẻ và
khắc phục được các tồn tại mang tính chất chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế
thị trường.
Để Nhà nước thực hiện được chức năng của mình trong nền kinh tế thị
trường, đòi hỏi Nhà nước phải có sức mạnh về kinh tế, trong đó NSNN được
sử dụng như một công cụ chủ yếu của Nhà nước để thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước, can thiệp và tác động vào thị trường theo định hướng của Nhà

13


nước. Trên phương diện lý luận, cũng như thực tiễn, NSNN ngày càng đóng
vai trò quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước, đồng thời thực hiện cân đối giữa các khoản thu và chi của Nhà
nước. Đây là một trong những vai trò quan trọng của NSNN, vai trò này bắt
nguồn từ nhu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy quản lý Nhà nước, để tồn
tại và phát triển, Nhà nước phải tập trung được một nguồn lực tài chính nhất
định và NSNN là một trong những công cụ thực hiện yêu cầu đó.

địa lý... tạo lập môi trường thuận lợi để khuyến khích hay hạn chế các nguồn
đầu tư ngoài ngân sách. Ngoài việc NSNN có tác động trực tiếp tới hoạt động
kinh tế của các chủ thể kinh tế, nó còn tạo ra các động lực gián tiếp thông qua
việc tạo lập môi trường đầu tư, thu hút, thúc đẩy luân chuyển các nguồn vốn,
tư liệu sản xuất và lao động là các nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, thúc
đẩy phát triển các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất mới theo yêu cầu phát triển
của Nhà nước trong từng thời kỳ. Nhà nước sử dụng chính sách động viên thu
ngân sách một cách linh hoạt hợp với yêu cầu của Nhà nước trong từng giải
đoạn phát triển của nền kinh tế.
Chi NSNN là điều kiện vật chất cơ bản để Nhà nước thực hiện vai trò
của mình đối với nền kinh tế - xã hội. Thông qua chi NSNN để thực hiện vai
trò đảm bảo an ninh, quốc phòng, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý hành
chính Nhà nước, thực hiện đảm bảo cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo, y tế,
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, định hướng hình thành các cơ cấu kinh tế.
Mặt khác chính sách thu, chi ngân sách góp phần vào việc phân phối lại sản
phẩm xã hội từ người có thu nhập cao sang người có thu nhập thấp, thu hẹp
sự phân phối không bình đẳng trong xã hội, thực hiện chức năng bảo trợ xã
hội đối với những người già, trẻ em không nơi nương tựa, người tàn tật...
1.1.2. Những đặc điểm của ngân sách nhà nước

15


Đặc điểm của NSNN được biểu hiện thông qua hoạt động tài chính, đây
vừa là công cụ trọng yếu để Nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô có hiệu quả,
vừa là lĩnh vực hoạt động theo các yêu cầu của nền kinh tế, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường càng
phát triển, các đặc điểm của NSNN càng thể hiện rõ thông qua vai trò quan
trọng và có mối liên hệ chặt chẽ của NSNN với các hoạt động của nền kinh tế
quốc dân, đặc biệt trong việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài

quản lý ngân sách trong nền kinh tế trị trường phải xuất phát từ đặc điểm của
nền kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Mặt khác cơ chế quản lý ngân sách còn phải phù hợp với đặc điểm hoạt động
của NSNN trong nền kinh tế thị trường.
NSNN tác động vào nền kinh tế thị trường thông qua hai phương thức
khác nhau. Thứ nhất NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước, Nhà nước
thông qua các chính sách thu, chi cân đối ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi
tiêu và tác động điều tiết vĩ mô nền kinh tế, với phương thức này chính sách
ngân sách mang tính chất pháp lý và bắt buộc phải thực hiện. Phương thức
thứ hai xuất phát từ đặc điểm NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung lớn của Nhà
nước, NSNN tham gia đầu tư vào thị trường với vai trò là một chủ thể kinh tế
độc lập, bình đẳng với các chủ thể kinh tế khác trong thị trường; trong trường
hợp này, với tư cách một chủ thể kinh tế có tiềm lực lớn, sự tham gia của
NSNN có ý nghĩa định hướng thị trường, làm phong phú thêm hoạt động của
thị trường, tạo thêm tiềm lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế theo định
hướng của Nhà nước.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước tham gia trực tiếp
vào mọi hoạt động kinh tế, nên NSNN cũng phải đi theo để phục vụ hoạt
động của Nhà nước dẫn đến NSNN bị dàn trải, manh mún, nhỏ bé, đầu tư
không có trọng tâm, trọng điểm, yêu cầu chi luôn quá sức động viên của ngân
sách. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước hạn chế việc tham gia vào các

17


hoạt động điều hành trực tiếp nền kinh tế, vai trò quản lý điều hành của Nhà
nước là ở tầm vĩ mô, thông qua các công cụ tài chính, ngân sách mà tác động
tới thị trường. Do vậy NSNN cần phải trở thành một nguồn vốn tiền tệ tập
trung đủ mạnh của Nhà nước, tác động tới thị trường, vận động thị trường
phát triển theo định hướng của Nhà nước.

Cân đối NSNN phải trên nguyên tắc tích cực: Nhà nước phải chủ động
trong điều hành cân đối ngân sách, chi tiêu dùng chỉ sắp xếp trong khả năng
thu, không thực hiện bội chi ngân sách cho chi tiêu dùng, chỉ thực hiện bội chi
ngân sách cho chi đầu tư phát triển, khống chế tỷ lệ bội chi ngân sách trong
một khuôn khổ cho phép, tính toán mức bội chi ngân sách không được ảnh
hưởng tiêu cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế, gây lạm phát. Chỉ thực
hiện bội chi ngân sách khi đã có phương án tìm nguồn bù đắp cho bội chi.
Nhà nước không phát hành tiền, thực hiện đi vay để bù đắp bội chi NSNN.
Ngoài ra, cơ chế quản lý điều hành NSNN phải thực hiện được yêu cầu
tiết kiệm, vì thực hiện tiết kiệm sẽ dành được nguồn lực đáng kể của ngân
sách cho đầu tư phát triển. Tiết kiệm ở đây phải thể hiện nay từ khâu lập dự
toán ngân sách, xác định phương án chi tiêu và trong quá trình sử dụng ngân
sách. Để thực hiện tiết kiệm trong sử dụng ngân sách, đòi hỏi Nhà nước phải
ban hành thống nhất các chế độ chi tiêu, hệ thống quy định về các định mức
chi ngân sách, tiêu chuẩn chi ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ
dự toán ngân sách và thực hiện và giám sát, kiểm tra sử dụng ngân sách. Hơn
nữa phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý ngân sách, thực
hiện công khai ngân sách ngân sách đối với mọi cấp ngân sách để nhân dân
được tham gia giám sát quá trình sử dụng NSNN.
Tiết kiệm trong sử dụng NSNN phải đi liền với sử dụng đúng mục đích
và hiệu quả. Do vậy bên cạnh việc đánh giá kết quả sử dụng NSNN theo dự
toán, đánh giá việc chấp hành chế độ chi tiêu tài chính trong sử dụng ngân
sách như hiện nay, cần phải nghiên cứu thực hiện cơ chế đánh giá kết quả sử

19


dụng ngân sách theo mục tiêu, theo kết quả mang lại. Hay nói cách khác cần
phải chuyển dần việc đánh giá kết quả sử dụng NSNN còn thiên về các yếu tố
đầu vào như hiện nay sang thực hiện việc đánh giá kết quả sử dụng ngân sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status