Một sổ giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phô thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp - Pdf 33

MỞ ĐẦU
dục của chúng ta là “giáo dục cho mọi người” và mọi người phải tự giáo dục,
việc xây dựng “cả nước thành một xã hội học tập” trở thành nhu cầu khách
quan,1.thực
phươngĐÈ
châm
LÝ hiện
DO CHỌN
TÀI“học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Chúng ta đang ở những năm đầu thế kỷ XXI - thế kỷ dự báo có sự bùng
giáo
nước
giaithuật,
đoạncông
từ năm
2010
- 2020
đã
nố vàChiến
phát lược
triển phát
như triển
vũ bão
củadục
khoa
họctakỹ
nghệ
thông
tin. Sự
nhấn

nhưng
mặt khác
dẫn
đến
tạo đắc
khoảng
cáchnước
ngàytacàng
lớn
tình
kém phát
phát triển
triển, và
tạocác
nềnnước
tảng đang
đến năm
ta cơcác
bảnnước
trở thành
giữa trạng
các nước
phát 2020
triển,nước
làm cho
đang
một
côngtụt
nghiệp
hiệnphát

phát
trién
là phải
trọng
và tụt
tiếphậu.
tục về
đấyphương
mạnh đê
tiếnlýtớiluận
xâyđược
dựngthực
một tiễn
xã hội
khỏi sự
diện
củahọc
cáctập.
nước phát triển
chứng minh, có thể khẳng định chỉ có đầu tư mạnh mẽ vào chiến lược con
người,
tạo ra
nhânthời
lực kỳ
chấtcông
lượng
cao thì
có đại
thếhoá
giảiđòi

hết xã
sứchội
quan
mọi
hoạt
động
dục
nhất
là đổicoi
mới
quảnnhiệm
lý công
hóatrọng
giáo trong
dục để
góp
phần
hỗ giáo
trợ giáo
theovà
hướng
toànđáp
diện.
dục
đào tạo
ứng yêu cầu nguồn lực, nguồn lao động hiện nay.
Giáo
và đào
tạolý làcông
mộttác

qua tìmg
đạt
tác xãnhững
hội hóathành
giáo tựu
dục nhất
ở nhàđịnh
trường
là một
thenmặt
chốt,
bản,yếu

được
tuy THPT
nhiên vẫn
cònkhâu
những
hạncơchế,
tính chất
quyết
phần
nângtrường
cao chất
dục năm
học sinh.
thế xã
kém.
Thực
tiễnđịnh


đào
tạo,
để
nâng
cao
chất
lượng
giáo
dục
thì
điều
quan
trọng

phải
nâng
nguồn nhân lực tiếp sức cho việc quản lý và giáo dục học sinh, nguồn tài lực
cao quản
tác lực
xã hội
mọinhư
hoạtxây
động
củacơmỗi
góp
phần lý
hỗcông
trợ đắc
chohóa

học trong
hệ thống
giáo
một
số quan
trườngtrọng
trungcủa
học
phốdục
thông
huyện
CaolàLãnh
thờitạo
gian
quakiện
chưa
dân rất
giáo
phổ ởthông.
cấp học
điều
cơ xem
bản
21 Đây


“Một sổ giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phô
thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ” với hy vọng góp phần nhỏ của mình
phục vụ cho yêu cầu đổi mới công tác xã hội hóa giáo dục, nâng cao chất lượng
giáo dục của địa phương.


- Xây dựng, đề xuất được một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa
giáo dục ở trường trung học phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn bản của

Đảng và Nhà nước các cấp liên quan đến đề tài. Nghiên cứu các công trình khoa
học, các đề án đã công bố liên quan đến đề tài. Tống hợp và phân tích các kết
quả nghiên cứu.

6.1. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phưcmg pháp điều tra

(bảng hỏi Anket); phương pháp quan sát: quan sát, tống kết kinh nghiệm;
phương pháp điều tra xã hội học.

6.3. Các phương pháp khác:

Phương pháp sử dụng toán thống kê,

phương pháp phỏng vấn,...

4


Chương 1.
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG TRƯNG HỌC PHỎ THÔNG
1.1. Sơ lược lịch sử quá trình nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục

mù chữ trong toàn quốc với phương châm: Những người đã biết chữ hãy dạy
cho những người chưa biết chữ... Những người chưa biết chữ hay gắng sức mà
học cho biết, vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ chưa
biết thì con cái bảo, người ăn người làm không biết chữ thì chủ nhà bảo; các
người giàu có thì mở lóp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ...
Người nhấn mạnh: Giảo dục là sự nghiệp của quần chủng, không phân biệt già,
trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xóa nạn
mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cương lĩnh hành động cho phong trào
Bình dân học vụ, là cơ sở để tạo lập và xây dựng một nền giáo dục toàn dân
ngay sau khi đất nước giành được độc lập.

Từ năm 1946, đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ7
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng nền giáo dục Việt Nam
vẫn duy trì và phát triển, góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ dân trí,
làm nền móng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.

Mùa xuân năm 1975, khi đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, chúng ta
có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục. Giai đoạn
này, giáo dục Việt Nam đạt được một số kết quả nhất định trong việc thống
nhất hệ thống giáo dục hai miền Nam - Bắc. Song do cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, nền giáo dục của chúng ta chưa phát huy được tiềm năng sẵn có đê
phát triển mạnh mẽ và bền vững, csvc của giáo dục bị xuống cấp và lạc hậu,
động lực của người dạy và người học giảm sút kéo theo sự kém phát triển cúa
nền giáo dục cả về số lượng và chất lượng. Đảng và Nhà nước đã thực hiện các
đợt cải cách giáo dục nhưng còn chắp vá, chất lượng giáo dục chưa đáp ímg
6


Với đường lối đổi mới của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng VI (năm

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: Giáo dục và đào
tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động
lực thúc đẩy CNH - HĐH đất nước; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", chấn hưng nền giáo dục Việt
Nam; đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội... đối mới mạnh mẽ
giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; thực hiện xã hội hóa giáo dục. Huy
động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo
dục. [1]

Để thực hiện chủ trương xã hội hóa, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
90/CP ngày 21/08/1997 về "Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hóa"; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về Chính sách
XHHGD nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong
các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế đẻ phát triển các hoạt động xã hội hóa
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Ngày 18/04/2005 Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 05/NQ-CP về đấy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn
hóa, thẻ dục thế thao.

Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục - đào tạo trong
thời kỳ đổi mới; trước xu thế phát triển tất yếu của thời đại, các nhà khoa học,
các nhà quản lý giáo dục đã nghiên cứu và đưa ra các luận diêm về vấn đề xã
hội hóa giáo dục. Trong cuốn "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
XXL"
Giáo sư Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư
tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát
triển giáo dục nước ta... Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà
là của toàn xã hội; mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung
ương và địa phương cùng làm giáo dục [11].
8




- Xã hội hỏa giáo dục bậc trung học phô thông ở các nước trong khu vực
và trên thế giỏi. Từ lâu, giáo dục đã được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều
quốc gia trên thế giới. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy xã hội
hóa sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công
nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao.

Có thế khăng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có
khác nhau nhưng đều có điếm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều
kiện cho phát triên giáo dục. ở những nước tiên tiến, việc quan tâm đầu tư cho
giáo dục qua quá trình huy động sức mạnh của nhà nước và các tầng lớp xã hội,
nâng cao mặt bằng tri thức, đưa dân trí ngang tầm thời đại đế con người làm
chủ nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp, ở những nước đang phát
triển, việc huy động mọi nguồn lực cho giáo dục là phương thức tốt nhất nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm phong phú tài năng trí tuệ để phục vụ
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc đầu tư đúng mức cho con người sẽ
tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển bền vững ở những nước có nền kinh tế
đang phát triển. Và chỉ có bằng cách ấy, các quốc gia này mói có thể "đi tắt",
"đón đầu" góp phần phát triển kinh tế - xã hội đạt đến trình độ hiện đại, hội
nhập với các nước tiên tiến.

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang thực hiện khá rộng rãi sự phân
quyền, giao trách nhiệm từ cấp trung ương sang cấp cơ sở, mở rộng quyền lực
của cấp cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề và ra quyết định. Trong bối cảnh
đó, "quản lý dựa vào nhà trường" xuất hiện như một tất yếu nhằm thu hút và tạo
điều kiện cho mọi người, trong đó có giáo viên và học sinh được tham gia một
cách dân chủ vào việc quản lý và quyết định những vấn đề liên quan đến nhà
trường. Theo xu hướng này, ở nhiều nước như: Mĩ, Anh, Australia, New
Dealand, Canada,... SBM xuất hiện theo các cách gọi khác nhau và có hai tỉnh

Thực chất của quản lý dựa vào nhà trường là sự phân quyền, tạo điều
kiện cho các thành viên trong nhà trường và cộng đồng tự quyết định vận mệnh
11


Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi:
"Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công
việc của Nhà nước và xã hội...", do đó khi bàn đến vấn đề dân chủ trong giáo
dục, không thể không bàn đến một số vấn đề thuộc về quản lý, đó là xã hội hóa
công tác giáo dục, tương tự vấn đề nhà trường tự quản.
- Xã hội hóa giáo dục bậc trung học phô thông ở nước ta

Xã hội hóa bậc học trung học phổ thông là một hoạt động mang tính xã
hội với sự tác động, chi phối và có mối liên hệ mật thiết với bậc học THPT
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của bậc học ở mọi loại hình công lập
cũng như tư thục dưới sự quản lý, chỉ đạo chung của Nhà nước. Thực hiện phân
luồng làm co sở cho đào tạo nghề, là tiền đề cho quá trình hình thành một lực
lượng lao động sau khi đào tạo chuyên nghiệp.

Đánh giá thực trạng giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục bậc trung
học phổ thông nói riêng là một công việc đầu tiên rất quan trọng, là điều kiện
tiên quyết để xác định đúng các mục tiêu chiến lược và các giải pháp khả thi.
Nhưng đó là một việc khó khăn và phức tạp, bởi lẽ "sản phấm" của hoạt động
giáo dục là nhân cách được hình thành trong một quá trình qua nhiều giai đoạn,
chịu sự chi phối của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài hệ thống giáo dục, do
đó không thế dễ dàng thấy được, đo lường được như sản phấm của các quá trình
sản xuất vật chất khác. Chẳng hạn như ở nước ta hiện nay, đế có được một học
vấn THPT đầy đủ cần 12 năm, đào tạo đại học - chuyên nghiệp cần từ 2 đến 6
năm, còn đào tạo và bồi dưỡng sau đại học thường diễn ra trong suốt thời gian
hoạt động nghề nghiệp. Như vậy những gì được tiến hành trong nhà trường hôm

thức, kế hoạch mềm dẻo. Người tốt nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm.

- Mở rộng cơ hội học tập đế mọi người có thể cập nhật, đổi mới kiến

thức
và rèn luyện các kỹ năng làm việc.

- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, thực hiện chính

13


tế quốc tế. Bên cạnh các trường THPT công lập đã có các trường THPT dân lập,
tư thục được hình thành đi vào hoạt động và đã huy động được nhiều thành
phần xã hội tham gia vào hoạt động này. Hoạt động giáo dục XHH bậc học
THPT đã đa dạng và phong phú hơn về loại hình, đáp ứng nhu cầu học tập của
thanh thiếu niên trong độ tuổi và bước đầu tạo ra môi trường cạnh tranh lành
mạnh trong giáo dục, từng bước thúc đấy chất lượng giáo dục bậc THPT nâng
lên.

Tuy nhiên, công tác XHHGD bậc THPT vẫn chưa đáp ứng được các nhu
cầu của người học và yêu cầu chuẩn bị cung cấp nguồn nhân lực sau bậc học
trung học phố thông. Do khả năng học tập, làm việc phù hợp với năng lực nhận
thức và định hướng nghề nghiệp, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh THPT học
lên đại học, đại đa số học sinh bậc học THPT mong muốn được học nghề và có
nhu cầu được đi làm sau khi tốt nghiệp. Trong khi đó, hệ thống trường THPT
của nước ta chưa có các trường THPT phân luồng và học nghề như giáo dục
phố thông của một số nước tiên tiến khác, một vấn đề mấu chốt của "đầu ra cho
sản phẩm giáo dục" chưa được giải quyết nên những tác động tích cực của khía
cạnh xã hội hóa giáo dục chưa thực sự có hiệu quả.

là một quá trình biện chứng, trong đó, mỗi người, với tư cách là thành viên của
xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua
quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội.

Đen năm 1994, F.W.Kron phát biểu: Quá trình xã hội hóa được hiểu
chung như là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi người, với tư cách là
thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt
khác, thông qua quá trình này, duy trì và tái sản xuất xã hội.

Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH, Nhà
nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh
15


trên tất cả lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong mối quan
hệ tương hỗ lẫn nhau; có thể hiểu xã hội hóa một cách đầy đủ nhất theo định
nghĩa sau:

XHH là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giáo lý... mà
học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển
được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thế vừa là
một thành viên của xã hội.

Khái niệm "xã hội hóa" nói trên không đồng nghĩa với khái niệm "xã hội
hóa" một hoạt động nào đó (như XHHGD, văn hóa, y tế, thể dục thể thao) mà
chúng ta đặt ra. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn vận dụng
và phát triến chủ trương XHH, coi trọng việc phát huy lực lượng toàn xã hội
vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị như một đường lối vận động quần
chúng trong từng thời kỳ cách mạng, nó chứa đựng tư tưởng chiến lược, quan
điểm chỉ đạo của Đảng ta đối với công cuộc phát triển đất nước.

Theo giác độ thứ hai, đó là những tác động về mọi mặt của xã hội có tác
động trở lại đối vói hoạt động giáo dục vì giáo dục được coi là sự nghiệp của
quần chúng, đó là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng
lớp
nhân dân, các lực lượng xã hội đóng góp các nguồn lực cho giáo dục, góp phần
XHH nền giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước. Như vậy, việc phát triển sự
nghiệp giáo dục không thể lệ thuộc vào một số quan điểm chủ quan của những
người làm công tác giáo dục mà còn phụ thuộc vào quan điếm và tác động của
toàn xã hội. Trong hai giác độ có tác động qua lẫn nhau trong hoạt động giáo
dục
mang tính chất xã hội hóa thì tác động của xã hội đối với giáo dục là quan trọng
hơn cả. Và đế XHHGD được thực hiện một cách có hiệu quả, đúng với bản chất
và ý nghĩa của nó, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại cần phải hết sức
chú ý thực hiện triệt để một nguyên tắc, một cơ sở của hoạt động XHHGD, đó
17


Giáo dục trung học phổ thông là cấp học rất quan trọng trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là cấp học tiền đề tạo nền móng khẳng định cho sự phát
triển nhân cách, khả năng năng lực nghề nghiệp đế các em bước vào cuộc sống
và trở thành một nguồn lực cho xã hội. Việc chú trọng đầu tư, tác động tích
cực cho bậc học THPT phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội, cụ thẻ là của
các cấp chính quyền, của ngành giáo dục và các ngành hên quan, mọi gia
đình, phụ huynh học sinh thực hiện XHH bậc học THPT dưới sự lãnh đạo cúa
Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Đặc trimg của XHHGD bậc THPT là các
cấp chính quyền phải có chủ trương thể hiện trong chương trình hành động
cùng với cơ chế chính sách tạo điều kiện cho XHHGD bậc học phát triển. Nói
một cách hình tượng là có một "cơ chế mở" đẻ cho bậc học THPT đa dạng hóa
các loại hình, tăng cường quyền tự chú, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo
dục bậc Trung học. Tuy nhiên "cơ chế mở" đó phải được đặt dưới sự quản lý

thác được tối ưu tiềm năng của các LLXH tham gia vào việc hỗ trợ cho bậc học
phát triển. Quá trình đó phải thể hiện được bản chất cúa hoạt động XHH là thực
hiện công bằng dân chủ và huy động sức mạnh tống hợp của các LLXH trong
việc hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng bậc THPT.

Như vậy, bản chất của XHHGD bậc THPT là việc thể hiện tính cộng
đồng trách nhiệm trong hoạt động giáo dục với những đặc thù riêng của nó
mang tính quy luật và mang tính xu thế phát triển tất yếu của xã hội trong quá
trình đối mói, cải cách và hội nhập.
1.2.2.3. Moi quan hệ giữa xã hội hóa và dãn chủ ở trường THPT

Khái niệm dân chủ nói chung là quyền của người dân được tham gia vào
các hoạt động xã hội để góp phần xây dựng đất nước và đảm bảo quyền lợi của
mình. Dân chủ được hiểu như một nguyên tắc đảm bảo cho sự phát triển một
cách bền vững mọi hoạt động mang tính xã hội trong đó có sự đảm bảo cho nhu
cầu, nguyện vọng của cá nhân trong thế chế chính trị, xã hội đó.

19


chiến lược con người là tạo ra những chủ thể đích thực của đời sống nhân tính.
Đó là những cá thể đang sống cuộc sống người và đang trở thành động lực cúa
sự phát triển xã hội. Hiệu quả của XHHGD phản ánh mức độ dân chủ trong
giáo dục. Noi nào giáo dục càng gắn với xã hội, càng được xã hội chăm sóc
nhiều bao nhiêu thì nơi đó nhân dân và con em họ càng được hưởng nhiều bấy
nhiêu quyền về giáo dục. về vấn đề này, giáo dục ở một số nơi đã cho thấy
nhiều bài học quý báu. Người dân coi giáo dục và nhà trường là của mình. Ket
quả là dân trí nâng cao, đó là chìa khóa mở cửa cho sản xuất và đời sống phát
triển. Nếu dân chủ hàm chứa tự do thì XHHGD được thực hiện trên cơ sở tự
nguyên của quần chúng. Do đó XHHGD chỉ trở thành đích thực khi nó được

quyền công dân; nhừ sự vận hành của cơ chế mà những quy định được thực
hiện.

Là một hiện tượng xã hội, giáo dục được coi vừa là phương thức phát
triển xã hội vừa là phương thức hình thành và phát triển nhân cách, tạo điều
kiện cho mỗi người có trình độ và năng lực làm chủ. Đó cũng là nội dung cơ
bản của khái niệm dân chủ làm chủ. đó cũng là nội dung cơ bản của khái niệm
dân chủ tham gia như đã nói ở trên. Do đó, thực hiện dân chủ trong giáo dục là
thực hiện quyền được học của thế hệ trẻ và người lao động. Biện pháp trước
mắt và lâu dài là củng cố, phát triển thành quả của phổ cập giáo dục tiểu học,
tiến tói phố cập trung học cơ sở, THPT khuyến khích phát triển các ngành học,
các hình thức học nhằm đáp ímg nguyện vọng của nhân dân.

Quyền "được học" phải gắn liền với "khả năng học được". Không tạo
điều kiện cho người học học thì quyền được học chỉ là khâu hiệu suông về dân
chủ. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có hệ thống những biện pháp đổi mới
đồng bộ tất cả các yếu tố từ mục tiêu giáo dục đến nội dung, phương pháp giáo
dục và cả đánh giá thi cử. Việc đổi mới những yếu tố trên, đặc biệt là đổi mới
phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, nhằm đề cao vai trò chủ thể
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình giáo dục nhằm kích
thích tiềm năng trí tuệ của con người.

21


trao quyền đế tham gia xây dựng giáo dục. Tuy nhiên, dân chủ thể hiện trirớc
tiên trong quá trình giáo dục. Chang hạn, trước đây giáo dục và dạy học diễn ra
theo kiểu áp đặt, một chiều từ người dạy đến người học (mất dân chủ). Nhưng
bây giờ, xu thế chung coi giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là quá trình
vận động của các chủ thể (người được giáo dục và người giáo dục) trong mối

1.2.3.1. Khái niệm quản lý

Quản lý nói chung là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính
chất xã hội, đó là sự tác động có tổ chức có định hướng và mục đích của chủ thê
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy và học nói riêng là
những hoạt động cơ bản trong nhà trường phổ thông. Lãnh đạo Sở, Hiệu trưởng
các trường là các chủ thể quản lý, các phòng ban của Sở, giáo viên các trường,
học sinh và các LLXH ngoài nhà trường là các đối tượng quản lý. Như vậy,
quản lý các hoạt động dạy học nói riêng và QLGD nói chung là những tác động
có mục đích, có kế hoạch của những nhà QLGD đến các đối tượng trực tiếp
giáo dục được giáo dục hoặc tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm
huy động các đối tượng, các lực lượng đó thực hiện, tham gia, cộng tác, phối
hợp trong mọi hoạt động giáo dục đê đạt được các mục tiêu đã đề ra. cần phải
chú ý quy luật của quản lý là sự tác động chủ quan nhưng đế đạt được hiệu quả
phải phù hợp vói quy luật khách quan của đối tượng quản lý. Có thế nói khái
quát rằng, quản lý giáo dục có đối tượng là hoạt động giáo dục mà hoạt động
giáo dục có bản chất là một quá trình nên khi thực hiện công tác QLGD phải
đảm bảo quy luật biện chứng thống nhất với mỗi yêu cầu và điều kiện xã hội.
Hiệu quả của quản lý giáo dục phụ thuộc vào việc tổ chức hợp lý những hoạt
động và giao lưu với người được giáo dục, đảm bảo tính quy luật thống nhất
biện chứng giữa hoạt động giáo dục của nhà giáo dục và hoạt động tự giáo dục
của người được giáo dục. Hiệu quả của quản lý giáo dục phụ thuộc vào sự phù
hợp của mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đối với các đặc điểm của đối
tượng được giáo dục. Quá trình giáo dục diễn ra vói những tác động qua lại
phức tạp, nhiều tình huống, nhiều mâu thuẫn nên phải sử dụng các hình thức tổ
23



24


đến tình trạng thừa thầy - thiếu thợ. Không đáp ứng được nhu cầu về nhận thức
trong tiến trình CHH - HĐH đất nước. Các hoạt động QLGD không thể thờ ơ
với "bệnh thành tích" trong giáo dục giờ đây đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân
dân, cho rằng các cho các cháu một cái bằng tốt nghiệp lóp 12 bởi vì có nó cũng
không giải quyết được vấn đề gì đê dẫn tới các tiêu cực trầm trọng trong thi cử.
QLGD đứng trước một tiến trình hội nhập với yêu cầu cấp thiết là phải tạo ra
nguồn nhân lực lao động có tính chất lượng về trình độ và kỹ năng sống, kỹ
năng làm việc hiện đại, khoa học và hiệu quả cao.

QLGD với vai trò định hướng phải tham mưu với chính quyền địa
phương tăng cường vận động nhân dân, các tố chức tham gia tích cực vào hoạt
động XHHGD, đóng góp nhân lực, vật lực, tài chính, thúc đẩy sự nghiệp giáo
dục phát triển.

QLGD trong phạm vi quản lý các loại hình giáo dục đa dạng phong phú
phải tạo ra một "sân chơi" công bằng, giáo dục công lập cũng như giáo dục giáo
dục ngoài công lập, tạo thế cạnh tranh lành mạnh, phát huy tối đa khả năng tài
chính, trí tuệ, tâm huyết cho giáo dục, đào tạo ra nguồn nhân lực có văn hóa, có
đạo đức, có trình độ chuyên môn cao, đáp ímg "Chiến lược con người" của
Đảng.

Ngược lại, các hoạt động mang tính XHHGD phải có mối liên hệ mật
thiết và tác động trực tiếp với quản lý giáo dục thì mới tạo được tiền đề thuận
lợi đê hình thành chủ trương giải pháp thực hiện. Các hoạt động giáo dục đáp
ứng các nhu cầu mà XHHGD đặt ra; XHHGD có vai trò làm cho QLGD buộc
phải vừa năng động hơn, uyển chuyên hơn đê tiếp cận và giải quyết các nhiệm
vụ liên quan đến phạm vi hoạt động của mình. Nói chung XHHGD như một

nơi thí nghiệm thực hành. Họ có thể tham gia vận động mở lóp, tham gia giáo
dục trẻ trong gia đình và ngoài xã hội. ở mức độ cao, những người có kinh
nghiệm, có năng lực có thế trực tiếp tham gia xây dựng mục tiêu, nội dung,
26


Trích đoạn Đấy mạnh việc huy động cácnguồn lực, tăng cường cơ sở vật cliẩt, phương tiện dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục trong trường trung KÉT LUẬN VÀ KI ÉN NGHI 1 Kết luận về việc nhận thức tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status