giải pháp quản lý giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiêu học tại Thành Phổ Hồ Chí Minh - Pdf 33

LỜI
CẢM
ƠN
MỤC
LỤC
MỞ ĐẦU
Tôi xin chân thành cảm on Ban Giám hiện và quỳ Thầy Cô Phòng Đào tạo
sau1. đại học,
Khoa
Lý do
chọnGiảo
đề tàidục (Trường Đại học Vinh), Phòng Tô chức — Cản 1 bộ
(Trường
Đại
Gòn)cứu
đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình
2.
Mụchọc
đíchSài
nghiên
3
học3.tập và nghiên
cứu.
Khách thế và đối tượng nghiên cứu
3

4.
Giả thuyết khoa học
3
5. Tôi Nhiệm
phạm

6
pho1.1.1.
Hồ Chí
Minh
cũng
như
các
to
chức
đoàn
thế

hội,
các
bậc
phụ
huynh
Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu
về giáo dục TKT Ở thé
6 đã
giúp đỡ, tạogiới
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu
vềgiáodục TKT ơ Việt
8
XinNam
cảm tạ Sư Ong Thích Như Niệm đã động viên, cô vũ bản thân học tập,
1.2.
Một
số khái


Man Thanh Hiển

21

27


lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
1.3.1.
n lý việc thực hiện mục tiêu của giáo dục hòa nhập
1.3.2.
n lý việc xây dựng, thực hiện nội dung GDHN TKT
1.3.3.

Quả
28
Quả
30

Quản lý việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên và những 31
người làm công tác giáo dục TKT ở bậc tiểu học

1.3.4.

Quản lý việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc 34
GDHN TKT ở bậc tiểu học

1.3.5.


3

40
40
40
41
49
49
55
58

61
63


2.3.1.

Thực trạng quản lý việc quán triệt chủ trương, chính sách của

63

chính quyền địa phương và ngành giáo dục - đào tạo về GDHN
TKT bậc tiểu học
2.3.2.

Thực trạng việc tổ chức bộ máy quản lý GDHN TKT ở bậc 66
tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.3.3.



74

3.2.

Một số giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

77

ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh
3.2.1.

Hoàn thiện chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương

77

và ngành giáo dục - đào tạo
3.2.2.

Tố chức tuyên truyền, quán triệt nhằm nâng cao nhận thức về

80

3.2.3.

công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại địa phương
Tăng cường nâng cao chất lượng công tác ké hoạch, tố chức chỉ
đạo và giám sát công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

83

dục
trẻdục
khuyết
tật

NCGDTKT

-ĐT

HNTKT

TĐBNĐC

3.2.6. Giáo
Huydục
động
và tạo
quản lý các nguồn lực tham gia công tác giáo dục
- đào
trẻ khuyết
tậtnhập trẻ khuyết tật
Giáo
dục hòa
3.3.

94

Mối quan
giữađặc
cácbiệt


CTS

XH

Trung tâm can thiệp sớm
1.

Kinh tế - xã hội
Kết luận
Vận động
Trẻ khuyết tật

MTTQ

ủy ban mặt trận tổ quốc
Quản lý giáo dục

ND

Úy ban nhân dân

HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

GV, CNV

Cán bộ, giáo viên, công nhân viên


ghi rõ: “Việc học tập của trẻ em tàn tật được tô chức thực hiện bằng các hình thức
học hòa nhập trong các trường chuyên biệt dành cho người tàn tật, cơ sở nuôi
dưỡng người tàn tật và tại gia đình. Học sinh tàn tật có năng khiếu được ưu tiên
tiếp nhận vào học tại các trường năng khiếu tương ừng. Học sinh là ngirời tàn tật
trong các cơ sở giảo dục, nuôi dưỡng nội trú dược hưởng các chế độ, chính sách
7


theo

quy

định của Chính Phủ. Nhà nước tạo điều kiện
nhân mở trường, ỉởp dành riêng cho ngirời tàn tật... ”

thuận

lợi

đê



chức,

cả

Theo số liệu thống kê năm 1997 của Uỷ Ban bảo vệ Chăm sóc Trẻ em Việt
Nam (ƯBBVCSTEVN), ở nước ta hiện có 1,5 triệu trẻ cm bị khuyết tật. Riêng
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có khoảng 6.000 trẻ khuyết tật các loại; chiếm tỉ

Chí Minh vẫn đang còn là thử thách về nhiều phương diện: nhận thức đối

VỚI

giáo

dục trẻ khuyết tật; nội dung chương trình giáo dục trẻ khuyết tật; phương pháp giáo
dục đối với trẻ khuyết tật; đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục trẻ
khuyết tật; kinh phí tố chức các hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật;...
Đây là những vấn đề mà các cấp lãnh đạo chính quyền và ngành giáo dục và
đào tạo TP. Hồ Chí Minh đang quan tâm. Xác định được tầm quan trọng của công
tác giáo dục trẻ khuyết tật trong giai đoạn hiện nay của đất nước nói chung và TP.
Hồ Chí Minh nói riêng, sau khi nghiên cứu lí luận về công tác giáo dục trẻ khuyết
tật và thực tiễn công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại một số địa phương trong cả
nước, trên cơ sở tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tại TP. Hồ Chí Minh, bản thân
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một so giải pháp quản lí giảo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật ơ bậc tiếu học tại TP. Hồ Chí Minh ” nhằm góp phần nhỏ bé vào việc
giải quyết những vấn đề nói trên.
2. Mục đích nghiên cún

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục và thực trạng công tác giáo
dục và quản lý giáo dục trẻ khuyết tật, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý giáo
dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh, nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cún

Khách thế nghiên cửu: Công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật bậc tiểu học
tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh.


6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiên
+ Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu, quan sát thực tế quản lý giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học.
+ Phương pháp điều tra: để điều tra, phỏng vấn, tư vấn, thăm dò để điều tra,
10


trong và ngoài ngành giáo dục,... về việc quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở
bậc tiểu học.
6.3. Phương pháp thong kê: nhằm thống kê, đo đạc, xử lý các kết quả, số
liệu liên quan đến thực trạng và tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp.
7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở

11


Chương 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN
CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYÉT TẬT
1.1. LỊCH Sử VẮN ĐỀ NGHIÊN cứu
1.1.1. Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu về giáo dục trẻ khuyết tật ở
thế giới

Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, do nhiều nguyên
nhân khác nhau nên ở bất cứ quốc gia nào trong mọi giai đoạn cũng đều tồn tại một

[30]. “Tất cả mọi trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt phải đen trường học chính
quy và những trường này có trách nhiệm phải trang bị kiến thức cho các em thông
qua phương pháp sư phạm lấy trẻ em làm trung tâm ..........................” [30]. Hội nghị đã cung
cấp cơ hội cho những người tham gia hội nghị xem xét làm thế nào để bảo vệ tốt
nhất Quyền của trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chương trình “ Giáo dục cho tất cả
mọi người”. Tuyên bố này được nhìn nhận như là nền tảng của giáo dục hòa nhập
hiện đại.
Vào những năm 70 đen nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, quan điểm mới về
trường lớp xuất hiện ở châu Âu có tên là “sáng kiến giáo dục phổ thông” đã mang
lại một chiến dịch quyền học tập cho học sinh khuyết tật và đòi hỏi giáo dục phải
có trách nhiệm hơn trong việc tạo ra những hoạt động phù hợp hơn theo khả năng
của người học , từ đây bắt đầu xuất hiện xu hướng giáo dục hòa nhập. Hòa nhập là
một phong trào đổi mới trong giáo dục chuyên biệt, xu hướng này đòi hỏi nhiều sự
thay đối trong nhà trường. Các vấn đề trong giáo dục như: nội dung, phương pháp,
thể chế, hệ thống ngân sách, tái xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng
giáo viên, cải tồ chương trình... đang dần thay đối. Các quốc gia đều xây dựng và
phát triển chính sách của Nhà nước quy định về nội dung, phương án cụ thé nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục hòa nhập. Việc áp dụng quy định đó là rất
phức tạp và phải tiến hành theo nhiều bước. Một số nước đang nỗ lực và bắt đầu
chấp nhận giáo dục hòa nhập theo các phương thức khác nhau và cũng thu được
những kết quả khác nhau.
Khi phân tích định hướng trong giáo dục đặc biệt của mỗi nước người ta chia
nó ra làm 3 nhóm:

13


Nhỏm thứ nhất là giáo dục hòa nhập, hình thức này nhấn mạnh đến xu hướng
không tách biệt và chỉ còn duy nhất một hình thức giáo dục chính quy bình thường
như của Italia và Thụy Điến. Hình thức giáo dục này lựa chọn các chủ trương


sinh câm là Nguyễn Văn Trường sang Pháp học tại Roder. Sau 5 năm, Nguyễn Văn
Trường trở về dạy theo phương pháp kí hiệu cử chỉ điệu bộ, đến năm 1902 thì
trường đã có đến 20 học sinh. Từ năm 1903 trường được đặt dưới sự quản lý của
nữ tu dòng thánh PhaoLo. Nhiệm vụ chủ yếu của trường cũng chỉ chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ như ở gia đình. Đến năm 1934 nữ tu người Pháp Simon PhiLíp và
Monica được cử sang Pháp học ở Nogentel - Rotrou. Đen năm 1937 họ trở về
nước và bắt đầu tổ chức hoạt động sư phạm của nhà trường. Cho học sinh học văn
hóa và học nghề, trong giai đoạn này số lượng đã lên đén 20 học sinh. Mãi đến
năm 1972 trường đã đổi tên thành Viện điếc câm Lái Thiêu với ban điều hành mới.
Viện đã có những định hướng mới trong công tác phục hồi chức năng nghe, nói,
giao tiếp, dạy văn hóa đồng thời tiến hành hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ với số
lượng học sinh lên đến 600 em.
ơ Hà Nội sau năm 1954 tại phố Hàng Lượt cũng có một cơ sở dạy cho một số
ít trẻ điếc. Vào cuối năm 60 đầu thập niên 70 Viện Tai - Mũi - Họng trung ương
Bạch Mai đã mở các lớp thí điém dạy trẻ điếc, do Giáo sư Bác sĩ Trần Hữu Tước
chủ trì.
Vào năm 1970, Bộ Giáo dục cũng đã cử các giáo viên đi đào tạo dài hạn ở
nước ngoài. Đây cũng là những cán bộ nòng cốt đầu tiên của ngành tật học nước ta
nhằm giúp cho các địa phương mở rộng các trường dạy trẻ khuyết tật trong cả
nước sau này.
Đối với trẻ khiếm thị ở nước ta cũng đã có trường chuyên biệt giảng dạy từ
đầu thế kỷ XX. Vào năm 1903 ông Nguyễn Văn Chí (người mù ở Pháp về) là
người đã có công thay chữ Braille từ Pháp di nhập vào nước ta. Ống thành lập
trường mù đặt trong bệnh viện Chợ Ray - Sài gòn. Sau đó trường bị đóng cửa bởi
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển
đến năm 1973 trường được chuyển về 184 đường Nguyễn Chí Thanh và hoạt động
dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bên cạnh đó, ở Sài Gòn năm 1963 còn mở một trường dạy trẻ khiếm thị đó là
trường La San Hiền Vương đặt tại 252 Hiền Vương nay là trường Võ Thị Sáu.

càng nhiều, chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao. Nếu như trong 25 năm thực
hiện giáo dục chuyên biệt, đến nay các trường chuyên biệt cũng chỉ thu hút được
hơn 7 nghìn trẻ khuyết tật đi học thì chỉ sau 10 năm tiến hành giáo dục hòa nhập đã
thu hút được hơn 70 nghìn trẻ đến trường (theo số liệu thống kê trung tâm tật học
trường ĐHSP Hà Nội), đây là con số đáng so sánh trong quá trình tìm hướng đi và
giải pháp đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật hiện nay.
16


Định hướng chiến lược để giải quyết vần đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam có thể
được khẳng định là giáo dục hòa nhập. Đây là xu thế chung của thế giới, đồng thời
là mô hình giáo dục tiến bộ đế trẻ khuyết tật được bình đẳng, hòa nhập cộng đồng
một cách tốt nhất, là động lực đế trẻ khuyết tật vươn lên phát triển tối đa tiềm năng
của mình. Điều đó đã được thé nghiệm khắng định trong điều kiện Việt Nam. Hiệu
quả giáo dục hòa nhập xét về cả số lượng cũng như chất lượng giáo dục đã cho
thấy đây thực sự là một giải pháp cho vấn đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung
cũng như quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiếu học TP. Hồ Chí Minh
đang còn có nhiều vấn đề vẫn phải tiếp tục triển khai. Thành phố Hồ Chí Minh là
một trung tâm chính trị, văn hóa - kinh tế lớn của cả nước. Sự phát triển nhanh về
kinh tế cần phải được gắn liền với những điều kiện về xã hội, về an sinh, về việc
giải quyết những vấn đề liên quan đcn cuộc sống của con người. Sự hoan hỉ của
cuộc sống trong xã hội hôm nay phải có sự công bằng hợp lý, chính đáng cho tất cả
mọi người, trong đó có người khuyết tật và trẻ em khuyết tật. Cho nên, sự phát
triển kinh tế - xã hội một cách nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh phụ
thuộc vào việc giải quyết những vấn đề xã hội, an sinh hiện nay. vấn đề đó chưa
được nghiên cứu nhiều và chưa được nhìn nhận ở tất cả các phương diện, góc độ
khác nhau, từ quan điểm của nhà nước, của các mạnh thường quân, của các tố chức
tôn giáo... Hơn nữa, nhìn nhận vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật phải được nhìn nhận
từ góc độ quản lý giáo dục.

thực tiễn quản lý một xí nghiệp hoàn chỉnh cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới
đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) của
nó.[Harold Koontz, Cyrit Odonnell, Heinz Wethirith, Những vấn đề cốt yếu của
quản lý, NXB KHKT Hà Nội năm 1993].
Quan điếm của tác giả trong nước về quản ìý.
“Quản lý” là một từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”. “Quản”
là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ốn định. “Lý” là sự sửa sang,
sắp xcp, làm cho nó phát triển. Như vậy “quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang,
làm cho sự vật ổn định và phát triển.
ơ Việt Nam, theo Từ điên Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất
bản Giáo dục xuất bản năm 1994: Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu
nhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định.
[29].
18


Giáo trình “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện hành chính quốc
gia nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp
với quy luật, đạt mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý. [ 12].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thố quản lý đen những người lao động nói chung là khách thể quản
lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [19]. Tác giả Nguyễn Bá Dương
cho rằng: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể
và đối tượng quản lý qua con đường tồ chức, là sự tác động điều khiến tâm lý và
hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những
mục tiêu nhất định của tập thể xã hội” [17]. Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự
tác động có ý thức của chủ the quản lý đc chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá
trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với
ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [26].

Xét về góc độ lịch sử thì khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản
lý kinh tế. Do đó trong các nước tư bản, người ta thường vận dụng lý luận quản lý
xí nghiệp vào quản lý giáo dục và coi quản lý giáo dục như quản lý một loại xí
nghiệp đặc biệt. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội.
Giáo dục ngày nay là một bộ phận của kinh tế xã hội. Do vậy quản lý giáo dục
là quản lý một quá trình kinh té xã hội đặc biệt nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự
phân hóa xã hội và xã hội hóa đế tái sản xuất sức lao động, phục vụ nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội.
Một số tác giả đã đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục như sau:
Học giả nổi tiếng Kônđacốp. M.I: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp tố chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu... nhằm đảm bảo vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đe tiếp tục phát triển và mở
rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. [14].
Khuđôminxky.p.v cho rằng “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có mục đích của chủ thế quản lý ở các cấp khác nhau đế tất cả các khâu của
hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ,
đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” [13].

20


Đặng Quốc Bảo trong bài giảng những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục có
nêu: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triến của xã hội”.
Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục
không chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục
được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [8].
Phạm Viết Vượng cho rằng: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ

cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý.
b) Chức năng tó chức trong quản lý giảo dục.
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò,
nhiệm vụ và vị trí công tác. Cho nên có thế nói việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ
là chức năng tổ chức trong quản lý.
Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho
phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Song, không phải chỉ có vậy, mà việc thực hiện
chức năng tố chức trong quản lý còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến
quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt
chú ý đến việc bố trí cán bộ - người vận hành các bộ phận của tổ chức.
c) Chức năng điều khiên trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Sau khi hoạch định
kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cho hệ thống
hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình sử dụng quyền lực
quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát
huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt được mục tiêu chung của hệ thống.
Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyết định và tồ
chức thực hiện quyết định.
d) Chức năng kiêm tra trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý, vì tầm quan trọng và vai trò
của nó nên có thế khẳng định rằng chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và
là chức năng của mọi cấp quản lý, kế cả đối với nhà quản lý ở cơ sở giáo dục trong
trường học. Kiếm tra chỉ một hoạt động nhằm thẳm định, xác định một hành vi của
cá nhân hay một tố chức trong quá trình22thực hiện quyết định. Ngoài ra còn có thể


Cũng như các ngành khác trong toàn xã hội, trong giáo dục việc kiểm tra thực
trạng việc chấp hành quyết định quản lý kết hợp với kiểm tra có tính chất phòng
ngừa là hợp lí và rất cần thiết. Hiện nay trong ngành giáo dục có nhiều loại kiểm

lựa chọn và sử dụng các công cụ đòn bẩy kinh tế như giá cả, lãi suất, tiền lương,
tiền thưởng, lợi nhuận để tác động đến điều kiện hoạt động của con người. Thông
qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế, người ta tự tính toán thiệt hơn đế tự quyết
định hành động của mình, không có sự can thiệp trực tiếp của tố chức.
Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người
hành động. Lợi ích đó thế hiện qua thu nhập của mỗi người, lấy lại từ thành quả
chung, phù hợp với mức độ đóng góp của mỗi người. Néu người quản lý quá coi
trọng lợi ích chung, coi nhẹ lợi ích cá nhân của mỗi người sẽ làm triệt tiêu động lực
của họ. Ngoài tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi cũng là lợi ích bổ sung cho thu
nhập của con người. Phúc lợi không liên quan đến công việc, nhưng nó có ý nghĩa
củng cố thêm mục tiêu của tố chức, giúp thu hút và động viên các thành viên làm
việc tốt hơn cho tổ chức.

23


Nhu cầu vật chất là điều kiện cơ bản về cuộc sống của mọi người, do đó con
người khi thực hiện công việc nào đó đều quan tâm đến lợi ích vật chất và thu
nhập. Vì vậy, người quản lý phải hết sức coi trọng vận dụng phương pháp kinh tế.
So với các phương pháp quản lý khác, phương pháp kinh tế có ưu điểm là đặt
mỗi người vào điều kiện tự mình quyết định làm việc như thế nào là có lợi nhất
cho mình và cho tổ chức.
Tuy vậy, phương pháp kinh té cũng có những hạn chế vốn có của nó. Neu lạm
dụng phương pháp kinh tế sẽ dẫn người ta tới chỗ chỉ nghĩ tới lợi ích vật chất, thậm
chí lệ thuộc vào vật chất, tiền của mà quên tinh thần, đạo lý, có thế dẫn tới những
hành vi phạm pháp.
b) Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của
chủ thế quản lý đến đối tượng bị quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền
lực nhà nước.

hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng trong một thời gian dài biểu
hiện dưới dạng tật, chịu ảnh hưởng của những rào cản làm cản trở sự tham gia bình
đẳng vào cuộc sống xã hội.
Theo Tố chức Y té thế giới (WHO), khái niệm khuyết tật dựa vào những đặc
điểm sức khỏe, những hạn che trong hoạt động của cá thể và môi trường sống của
họ. Từ đó, nhận diện khuyết tật dựa vào 3 yếu tố cơ bản: a) Những thiếu hụt về cấu
trúc cơ thế và sự suy giảm các chức năng; b) Những hạn chế trong hoạt động của
cơ thế do khuyết tật gây ra; c) Những khó khăn, trở ngại do môi trường sống đưa
lại làm cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động của cộng
đồng, xã hội.
Theo ý kiến của các nhà khoa học hiện nay, khái niệm trẻ khuyết tật được hiểu
là những trẻ bị khiếm khuyết về cấu trúc hoặc các chức năng cơ thế hoạt động
không bình thường dẫn đen những khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập
thể, xã hội và không thể học tập theo chương trình giáo dục phổ thông nếu không
có sự hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học và những
trang thiết bị đặc biệt.
Như vậy, trẻ khuyết tật có sự khiếm khuyết về giác quan (thể chất) hoặc chức
năng (tinh thần) biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt
động khiến trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi.
25


1.2.3.2. Phân loại trẻ khuyết tật
a) Trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở những mức độ khác nhau
dẫn tới khó khăn về nghe về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đcn quá trình nhận
thức và các chức năng tâm lý. Tùy theo mức độ suy giảm thính lực, trẻ khiếm thính
được chia làm 4 mức khác nhau:
Mức 1: Điếc nhẹ: Từ 20 — 40 DB (đề-xi-ben). Trẻ còn nghe được âm thanh lời
nói bình thường trong môi trường yên tĩnh và nhìn được hình miệng của người

d) Trẻ cỏ tật vận động
Trẻ có tật vận động là những trẻ bị khiếm khuyết một phần về chức năng của
các cơ quan vận động trong cơ thể làm cho trẻ có khó khăn về vận động.
1.2.4. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
1.2.4.1. Giảo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
Hòa nhập là một khái niệm được sử dụng từ lâu trong khoa học và trong đời
sống xã hội.
Hòa nhập được nhìn nhận trên lý thuyết của xã hội học và giáo dục học, khắng
định rằng tất cả mọi người đều là những thành viên quan trọng của xã hội, không
phân biệt sự khác nhau hoặc sự đa dạng của họ. Trong giáo dục, điều này có nghĩa
là tất cả trẻ em khuyết tật, bất kể khuyết tật gì, bất kể năng lực như thế nào, bất kể
thành phần kinh tế - xã hội, tôn giáo, dân tộc, giới tính,... có khác nhau đến đâu
vẫn có thể cùng nhau học tập trong một môi trường giáo dục, môi trường nhà
trường.
Giáo dục hòa nhập trong một trường học cụ thế được hiếu là hình thức giáo
dục trẻ khuyết tật trong một môi trường, trong một lớp cùng chung với trẻ em bình
thường khác. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đối với xã hội có nghĩa là hình thức
giáo dục phù hợp với từng loại đối tượng trẻ khuyết tật, có sự điều chỉnh về
chương trình, đồ dùng dạy học, các công cụ hỗ trợ, các kỹ năng đặc thù,... để trẻ
khuyết tật có thể hòa nhập tối đa với xã hội về nhiều phương diện.

27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status