Một số biện pháp quản lý giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện như thanh, tỉnh thanh hóa - Pdf 33

21
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

MỘT SÓ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP
MỘT SÓ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHẸ AN, 2013
NGHẸ AN, 2013


43
LỜI
CẢM
ƠNTẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC
CHỮ
VIÉT

Trước hết cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.
Hà Vãn Hùng người hưởng dẫn trực tiếp của tôi. Thầy không chỉ đã chỉ bảo tận
tình cho tôi trong quả trình làm luận văn mà còn là người đầu tiên truyền cho
tôi tình yêu đổi với lĩnh vực giáo dục dặc biệt và luôn dìu dắt tôi trên con đường
nghề nghiệp.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa GD và Khoa SĐH,
trường Đại học ỉ rinh những người dã dạy chủng tôi về lý luận quản lý giáo dục.

5
Ở Việt nam

1.1.2.

8
1.2. Các khái niệm cơ bản

11
Trẻ khuyết tật

1.2.1.

11
1.2.2.

GD hòa nhập, GD hòa nhập trẻ khuyết tật
13

1.2.3.

QLGD hòa nhập trẻ khuyết tật
16

1.2.4.

Biện pháp, biện pháp QLGD hòa nhập trẻ khuyết tật
16

1.3. Một số vấn đề lý luận về quản lý GD hoà nhập trẻ KT

THANH

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

63

3.2. Một số biện pháp quản lý giáo dục hoà nhập trẻ khuyết

64

tật ở các trường mầm non huyện Nhu Thanh, tỉnh Thanh Hóa
Thực hiện có hiệu quả công tác can thiệp sớm trẻ KT

3.2.1.

64
Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch giáo dục cá nhân

3.2.2.

71
3.2.3.

Thường xuyên chú trọng đến sự phối họp các lực lượng giáo dục
75
Tổ chức tốt các hoạt động chuyên môn và hỗ trợ GDHN

3.2.4.

của các 83

dục,
giáo dục và giáo dục). Qua đó có thê thấy được vai trò vô cùng quan trọng của
giáo
dục, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, khi cuộc cách
mạng khoa học công nghệ làm chuyến biến nền kinh tế, làm xuất hiện bộ phận
kinh
tế tri thức. Hiểu rõ vai trò đó của giáo dục, Đảng ta cũng nêu rõ “Muốn tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo,
phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền
vững'’
[10].


8
Tuy nhiên, giáo dục trẻ khuyết tật là công việc hết sức khó khăn và vất vả

vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để nhiều trẻ khuyết tật được đi học và được
hưởng nền giáo dục có chất lượng?

Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật vào các trường bình thường đang là
một xu hướng mới trên thế giới và đang được triẻn khai ở một số nước có hệ
thống
giáo dục đặc biệt phát triển. Hơn thập kỷ qua, mô hình giáo dục hoà nhập ở Việt
Nam đã được thực hiện. Theo số liệu báo cáo của các địa phương: Trong năm
qua,
đã có hơn 100 trẻ khuyết tật được học hoà nhập với trẻ bình thường. Tại một số
địa
phương đã huy động trên 83% trẻ khuyết tật ở độ tuối lớp 1 học hoà nhập theo
chương trình và sách giáo khoa mói. Bên cạnh những thành công nhất định của
giáo dục hoà nhập, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn: Đó là số


các
truờng Mầm non.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập

trẻ
khuyết tật ở các truừng Mầm non huyện Nhu Thanh, tỉnh Thanh Hóa.


10
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thục tiễn: Điều tra, thu thập số

liệu,
đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường Mầm
non
trên địa bàn.

7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học: Phân tích, xử lý số liệu

điều
tra bằng các phương pháp thống kê toán học.

8. Đóng góp đề tài:

8.1. Hệ thống được cơ sở lý luận về quản lý GDHN trẻ khuyết tật ở các

trường Mầm non nói chung và huyện Như Thanh nói riêng.

8.2. Đánh giá được thực trạng quản lý giáo dục trẻ khuyết tật trong các

- Thời tiền sử: Những điều bất thường về hành vi và thể chất con người

được
coi là thần linh gây ra, quyền lực bí ân của thần linh có thể mang lại sự che chở

cứu chữa, dẫn đến phép phù thuỷ và pháp thuật đục lỗ trên xương sọ người.


12
Satan gây ra. Vì vậy, việc chữa trị và nuôi dưỡng trẻ khuyết tật gần như không có
một tiến bộ nào.

- Sau thời kỳ bị giam hãm trong bóng tối của nhà thờ, Thời kỳ' ánh sáng


cách mạng (1650-1800) là thời kỳ bùng nổ những tư tưởng mới tiến bộ hơn và
nhân đạo hơn. Locke (1832-1704) đã phân biệt được giữa người điên và người
mất
trí: người điên đặt những tư tưởng sai cạnh nhau và lập luận dựa trên những tư
tưởng sai đó, còn người mất trí thì có rất ít hoặc không hề có sự hên kết suy nghĩ
nào. Philippe Pinel (1745-1826), một bác sĩ xuất sắc ở Paris, được coi là người
đã
“phá bỏ xiềng xích” khi ông lãnh đạo bệnh viện tâm thần Bicetre năm 1793 và
sau
đó là bệnh viện Salpetriere trong 3 năm. Phương pháp của ông là chăm sóc nhân
đạo, không lạm dụng thân thê và xiềng xích, điều trị nhẹ nhàng theo một lịch
trình
thường xuyên và hệ thống, cung cấp sách giải trí, âm nhạc và việc làm trong các
lĩnh vực nông nghiệp. Trong tác phẩm “Một luận thuyết về sự mất trí”, Pinel đã
phân thành 5 loại bệnh: tình trạng u sầu hoặc mê sảng, điên nhưng không mê

chế
và sở thích của trẻ, hướng trẻ tham gia vào một số công việc của xã hội, chú ý
đầy
đủ tới những mối quan tâm lớn nhất của trẻ. Điều đó đã giúp XH nhìn nhận lại
về
việc giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật trong các trung tâm chuyên biệt.

Đen những năm 70, khái niệm bình thường hoá ra đời. Biêu hiện của ý


14
nhiều điều luật đã ra đòi quy định việc can thiệp sớm cho trẻ như Luật công
99^157
ra đời năm 1986 tại Mỹ. Đạo luật này kêu gọi có: “một chương trình hoàn chỉnh,
chặt chẽ, đa ngành, đa chuyên môn trên các tiểu bang cho các dịch vụ can thiệp
sớm đối với tất cả trẻ sơ sinh bị khuyết tật và gia đình chúng”. Mặc dù đạo luật
này
không đòi hỏi những dịch vụ phổ cập cho mọi trẻ dưới 6 tuổi, nhưng nó khuyến
khích các tiểu bang phục vụ trẻ từ 3 đến 6 tuổi và hình thành một chương trình tự
nguyện về việc cung cấp dịch vụ cho trẻ dưới 3 tuổi.[18].

Đến năm 1990, giáo dục đặc biệt đã bộc lộ những điếm yếu của nó. Phong
trào nhân quyền cũng là một nguyên nhân nữa làm dấy lên phong trào và xu
hướng
mới đó là giáo dục hoà nhập. Tất cả trẻ em khuyết tật phải được cung cấp một
nền
giáo dục hợp lí dựa trên chương trình giáo dục theo cá nhân trong một môi
trường
ít hạn chế nhất. Việc quản lý giáo dục hoà nhập theo hướng trên đã được bắt đầu


(TPHCM)
đã thành lập các trung tâm nghiên cứu và các trường dạy trẻ khuyết tật như
khiếm
thính, khiếm thị và CPTTT. Các trường dạy trẻ khiếm thính có tên chung là "Hy
Vọng" như ở các quận Bình Thạnh (1986), IV (1989), VIII (1989), VI (1995).
Trường khuyết tật Ánh Minh (1999), trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết
tật
TPHCM (1989). Ở miền Bắc có nhiều cơ sở nghiên cứu và dạy trẻ khuyết tật


16
nhiều cán bộ nâng cao kiến thức và mở rộng hiểu biết về trẻ khuyết tật giúp
chúng
ta có thêm hướng mới nhằm đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ khuyết
tật.

Năm 1986, Phòng giáo dục trẻ điếc thuộc Trung tâm tật học - Viện Khoa
học Giáo dục đã tiến hành thực nghiệm 10 trẻ điếc ở độ tuổi 4-5, vào học hoà
nhập
với trẻ bình thường trong các lớp mầm non thuộc trường Mầm non A Hà Nội.
Kết
quả cho thấy tính ưu việt của loại hình giáo dục hoà nhập.

Theo tác giả Trịnh Đức Duy, giáo dục cho trẻ KT nên theo hai mô hình là
chuyên biệt và hoà nhập. Chuyên biệt là hình thức tố chức thành trường riêng
biệt
cho trẻ KT, có nội dung, chương trình riêng. Hoà nhập là hình thức đưa trẻ
khuyết
tật vào học chung với trẻ bình thường, trong hoà nhập có bán hoà nhập: tổ chức
cho


Năm 1999-2003, Trung tâm Đào tạo và Phát triển GDĐB đã thực hiện dự
án


18
bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thế chất hay tâm thần
của

họ.

Quy tắc tiêu chuẩn của LHQ về bình đắng hoá các cơ hội cho người tàn
tật
(the United Nations Standard Rules on the Equalization of Opportunities for
Persons with Disabilities: Thuật ngữ "tàn tật" tóm tắt một số lớn các loại hạn chế
về
chức năng xuất hiện trong bất kỳ một cộng đồng dân cư ở bất kỳ một quốc gia
nào
trên thế giới. Con người có thể bị tàn tật do khuyết tật về thể chất, trí tuệ hoặc
giác
quan, các tình trạng bệnh lý hay bệnh tâm thần. Các tình trạng khuyết tật, điều
kiện
hoặc bệnh lý như vậy có thể là vĩnh viễn hoặc tạm thời.

Công ước của LHQ về quyền trẻ em (the United Nations Convention on
the
Rights of the Child) đã đồng ý xác định trẻ em "là người dưới 18 tuổi". Trong
công
việc thống kê, khảo sát và điều tra về người tàn tật, định nghĩa về người tàn tật
nói

20
và hoà nhập trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ khuyết tật. Thuật ngữ "hội nhập" có
nghĩa là cho các trẻ có nhu cầu đặc biệt được học tập tại những trường học bình
thường. Thuật ngữ "hoà nhập" mang nghĩa rộng hơn và không chỉ bó hẹp trong
phạm vi trẻ khuyết tật mà còn bao gồm tất cả các trẻ gặp một trở ngại bất kỳ
trong
học tập. Nó mang ý nghĩa triết học rộng hơn trong quá trình chấp nhận tính đa
dạng
và cách thức mà loài người xử thế với các trẻ thuộc các nhóm khác nhau và các
nhu
cầu của chúng trong hệ thống trường học chính quy, dạy trẻ cách hiểu và chấp
nhận
sự khác biệt. Nếu hội nhập có nghĩa là giải thể các trường học và đưa trẻ có
khuyết
tật nặng và hoạt động của chúng vào xã hội rộng rãi, thỉ giáo dục hoà nhập phải
cần
được hiểu là một chiến lược không chỉ nhằm đưa trẻ khuyết tật vào các nhà
trường
bình thường. Đứa trẻ được hội nhập hàm ý là nó đã tìmg bị tách biệt. Giáo dục
hoà
nhập có nghĩa là đón nhận mọi trẻ em, không có sự phân biệt, vào các nhà
trường
bình thường. Bằng cách thay đổi thái độ như vậy đối với giáo dục, những khác
biệt
giữa mọi con người có thể được nhìn nhận dưới một góc độ tích cực. [5]

Cốt lõi của việc hoà nhập trẻ KT vào trong các lớp học phổ thông là cung
cấp những hỗ trợ cần thiết và họp lý. Chúng bao gồm những hỗ trợ cá nhân, hỗ
trợ
tự nhiên (cha mẹ, bạn bè); những hỗ trợ mang tính chuyên môn và kĩ thuật. Việc

dục. Trẻ khuyết tật được hưởng quyền học tập bình đắng như những học sinh
khác
và cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh
sống - đây cũng là cơ hội để mọi trẻ em khuyết tật được tiếp cận giáo dục một
cách
bình đẳng và có chất lượng. Để có một cuộc sống hòa nhập với trẻ em khuyết tật
thì
gia đình, nhà trường phải tạo mọi điều kiện để các em được cắp sách đến trường,
được học tập, hoạt động, tham gia các phong trào như mọi trẻ em khác ở trong
nhà


24
64 tỉnh, thành phố và bước đầu đi vào hoạt động. Mạng lưới các cơ sở đào tạo,
bồi
dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và
đang phát triển. Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển
khai thực hiện. Phương thức giáo dục hòa nhập phù họp hoàn cảnh nước ta đang
ngày càng được áp dụng rộng rãi. số trẻ khuyết tật đi học ngày càng tăng. Công
tác
giáo dục trẻ khuyết tật cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Năm học 2009 2010,
số trẻ khuyết tật độ tuổi mầm non học hòa nhập là 15.349, đạt tỷ lệ 62,8% tổng
số
trẻ khuyết tật trong độ tuổi. Có 290 nghìn học sinh tiểu học, THCS khuyết tật
học
hòa nhập tại các cơ sở giáo dục phổ thông: 7.583 học sinh khuyết tật học tại 106

sở giáo dục chuyên biệt. Đặc biệt, để cụ thể hóa những mục tiêu cũng như tạo
điều
kiện cho trẻ khuyết tật, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số


26
Dấu hiệu thể chất: Mắt đỏ, mí mắt có vảy cứng trên lông mi, simg mí mắt,
con ngươi không cùng kích cỡ, mắt có mi cụp, mắt không nhìn thẳng.

Thường xuyên dụi mắt hoặc phải dụi mắt khi nhìn tập trung

Những biểu hiện bất thường trên khuôn mặt, nheo mắt, chớp mắt, nhíu
mày
liên tục hoặc nhăn mặt khi đọc hoặc làm việc khác .

Không có khả năng tìm và nhặt các vật nhỏ.

Nhạy cảm với ánh sáng hoặc khó chịu với ánh sánh. Gặp khó khăn khi
đọc
sách, biểu lộ khó khăn ở trên mức bình thường khi đọc hoặc làm việc gì, phải
ghé
sát sách hoặc vật thế vào tận mắt. Tuy nhiên lại làm tốt khi sử dụng ngôn ngữ lời
nói hay khi thực hiện các nhiệm vụ được giao bằng lời.

Có thể gặp khó khăn với việc làm bài viết. Ví dụ có thể viết lệch dòng
hoặc
viết không đúng khoảng cách.


27
Tỏ ra có khó khăn để hiểu được những gì giáo viên nói so với các bạn
cùng
lứa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status