231
LỜI CẢM
DANH MỤC CÁC
CHỪƠN
VIÉT TẮT
Bộ GIÁO DỰC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Đẻ hoàn thành luận văn này, Tôi xin chân thành cảm cm các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình
giúp đỡ, góp ý kiến.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng LÊ
biếtTHỊ
ưn sâu
Hảosắc tới thầy giáo PGS. TS. GVCC
Đoàn Minh Duệ, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn cán bộ Ban dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An,
phòng Văn hóa huyện
Qùy PHÁT
Châu,HUY
BảoCÁC
tàngGIÁ
văn
huyện Qùy Châu, Phòng
GIỮ GÌN,
TRỊhóa
VĂNHÓA
Thống Kê huyện
GIÁO
TRỊ nghiệp đã
Xin gửi
lời cảm
sắc Bộ
tới MÔN
gia đình,
anhDỤC
chị, CHÍNH
bạn bè đồng
khích lệ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Mã số: 60.14.10
Mặc dù cố gắng nhưng do năng lực nghiên cứu, nguồn tài liệu hạn chế
nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót cần bố sung, rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và bạn đọc.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Người hướng dân khoa
học:
PGS.TS. GVCC. ĐOÀN MINH DUỆ
Nghệ An - 2013
4
MỤC LỤC
A. MỞ DẦU..............................................................................................5
c. KÉT LUẬN.............................................................................................100
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................ 102
5
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội phải luôn đi kèm với việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc. Sở dĩ cần phải nhu vậy là vì nhằm đẻ nước ta phát triển, không tụt
hậu so với thế giới, nhưng mặt khác là đẻ không bị mất đi những giá trị đích
thực của văn hóa truyền thống.
Với mục tiêu xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá
dân tộc, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong
hội nhập quốc tế. Một bài học đắt giá của một số quốc gia trên thế giới trong
quá trình hội nhập là không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề bảo
vệ các giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu các giá trị văn hóa mới. Là
quốc gia đi sau nhằm hòa chung trong không khí hòa nhập đó chúng ta phải
nhìn nhận đúng đắn đê có bước đi phù hợp, vừa hợp với xu thế vừa hợp vói
các điều kiện của quốc gia, dân tộc. Chúng ta hội nhập nhưng không phải
bằng mọi giá.
Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có nét truyền thống văn hoá
riêng tạo nên nền văn Việt Nam đa dạng, phong phú, như Báo cáo Chính trị
của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ
IV đã khẳng định nền văn hóa mới của nước ta: “Nen văn hóa ấy là sự kết hợp
ngược lại họ luôn biết giữ gìn phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc mình và loại bỏ những yếu tố cổ hủ, lạc hậu, không phù họp với hoàn
cảnh mới, đồng thời không ngừng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các
dân tộc khác, làm phong phú thêm bản sắc của mình.
Mặt khác, tự thân quá trình hội nhập cũng tạo ra nhiều thách đố. Nhà
ngôn ngữ học Hoàng Tuệ nhận định rằng: Ờ Việt Nam, vấn đề nối bật hiện
nay không phải là sự tranh giành lãnh thổ hay xung khắc tôn giáo...mà điều
hết sức quan trọng với Việt Nam là sự phát triển đời sống văn hóa- xã hội của
các dân tộc thiếu số, hay nhà nghiên cứu Lê Giáo Sỹ nhận định: “Ngôn ngữ
các dân tộc thiểu số đang mất đi hàng ngày trước mắt chúng ta, mà điều còn
nguy hại hơn, đáng tiếc hơn, rất nhiều ngôn ngữ nay chưa hề được nghiên
cứu”[29; 88].
7
Là một người con của dân tộc Thái Qùy Châu, tôi tự thấy mình phải có
trách nhiệm nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để bảo tồn, phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Vì vậy, tôi chọn vấn đề “Giữ gìn,
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dàn tộc Thái ở huyện Qùy
Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay’' làm đề tài luận văn tốt cao
học thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Là dân tộc có dân số đông thứ 3 trong 54 dân tộc anh em của đất nước
Việt Nam và dân tộc Thái có nhiều đặc trưng văn hóa, vì vậy đã thu hút được
nhiều người nghiên cứu. Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách,
báo, tạp chí đã viết về người Thái trên đất nước Việt Nam nói chung như: Các
quan đến dân tộc Thái nói chung và văn hóa ngirời Thái như: Lịch sử Đảng bộ
huyện Oìty Châu, Nxb Nghệ An, 2009; Đậu Tuấn Nam, Hệ thong các phi của
người Thái ở Quỷ Châu, Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 16/2003; Nguyễn
Thị Nuôi (2009), Đời song văn hoá vật chất của người Thái ở huyện Ouỳ
Chầu (Nghệ An), Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Đại học
Vinh; Nguyễn Văn Mạnh (1990), Vài nét về tôn giảo tín ngưõng của ngưòi
Thái ở Qĩiỳ Châu, Nghệ Tĩnh; Trần Văn Thức (2011), Địa chỉ huyện Oity
Châu tỉnh Nghệ An, Nxb Khoa học xã hội. Đây là những nguồn tài liệu có ý
nghĩa dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau về đời sống của đồng bào
Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. về cơ bản những công trình đã nêu
tập trung nghiên cứu đời sống văn hóa của đồng bào Thái. Do vậy, báo cáo
khoa học của đề tài một lần nữa hệ thống lại các giá trị văn hóa của người
Thái ở Qùy Châu qua sự biến thiên của lịch sử trên cơ sở đó đề xuất giải
nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Thái ở huyện
Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn CNH, HĐH.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cún
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số truyền thống văn hóa và sự chuyển biến trong giai
đoạn hiện nay từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hóa của dân tộc ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện
nay.
9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cơ sở lý luận về giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc nói chung, dân tộc Thái nói riêng.
giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, thấy được trách nhiệm của bản thân
đối với những giá trị văn hóa đó.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
11
B. NỘI DUNG
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN Tộc THÁI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Văn hóa
Văn hoá là một khái niệm quen thuộc, nó gắn với tất cả các hình thức
cộng đồng, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vì vậy mà trên thế giới hiện
nay có nhiều khái niệm về văn hoá được đưa ra. Tuy nhiên về cơ bản đều
thống nhất coi văn hoá là những gì mà con người sáng tạo ra để hình thành
các giá trị, các chuần mực xã hội trong quá trình lao động, trong hoạt động
thực tiễn. Các giá trị chuần mực đó nó chi phối tất cả đời sống tâm lý, hành vi
đạo đức và các hoạt động thực tiễn diễn ra trong cuộc sống của con người.
Tại lễ phát động Thập niên quốc tế phát triến văn hoả tại Pháp
(21/1/1998), Tổng Thư ký UNESCO đưa ra định nghĩa: Văn hoá phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá
Tác giả Lê Văn Hòa, trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Văn
hoá là khái niệm dùng đẻ chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất
cả các dạng hoạt động của họ là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật
chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và
lịch sử xã hội của mình” [15; 13-14].
Điếm chung của các khái niệm trên đều khắng định rằng văn hóa là
hoạt động của con người nói chung trên hai lĩnh vực vật chất và tinh thần và
tạo ra các giá trị trên hai lĩnh vực đó. Có nghĩa là văn hóa không chỉ là những
vật thể cụ thể hiện diện trước mắt con người như đền đài miếu vũ, lăng tẩm,
thành quách, các tác phấm nghệ thuật, ngôn ngữ, hàm chứa giá trị vật chất mà
còn có cả những giá trị tinh thần vượt thời gian và không gian. Con người
hoạt động trong môi trường tự nhiên và xã hội với trí thông minh và đầu óc
sáng tạo, đối cảnh sinh tình cho nên đã tạo ra được các công trình văn hóa như
văn học, nghệ thuật, hình thái cuộc sống, lối ứng xử, và đạo đức luân lý của
con người.
Trong cuốn sách Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn
quan học giả L. Cadiere, Giáo sư Đỗ Trinh Huệ cho biết, văn hóa là một khái
13
niệm rộng, khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng trong một định nghĩa trợn
vẹn. Cũng không thể dùng lối chiết tự như có người đã từng làm, dù dựa trên
cơ sở ngôn ngữ nào, dù dựa trên khái niệm phương Đông hay phương Tây, La
Mã hay Hy Lạp, Trung Hoa hay Ãn Độ... Có điều ai cũng cảm nhận được
văn hóa của dân tộc mình, của cộng đồng mình đang chung sống và của mình.
Giáo sư Đỗ Trinh Huệ trích dẫn một định nghĩa được nhiều người quan tâm,
bởi thấy nó quen thuộc, cho dù đọc nó lần đầu, tự nó như là một dạng thức
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng, bản sắc văn hoá thể hiện tập
trung ở truyền thống văn hoá và mỗi một nền văn hoá đều có những giá trị
riêng của nó.
Giá trị văn hoá : ‘ià cái dùng đê căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, so
sánh nền văn hoá của dân tộc này với nền văn hoá của dân tộc khác, là cái đê
xác định bản sắc văn hoá của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống,
phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân,
thiện, ích, mỹ” [29; 19].
Mỗi dân tộc có những tiêu chuấn giá trị văn hóa riêng của cộng đồng
đó mặc dù mục đích cuối cùng đều hướng tới một mục đích đó là các giá trị:
chân- thiện- ích- mỹ, hướng tới sự hoàn thiện của các cá nhân, của cả cộng
đồng. Giá trị văn hóa là cái mà chúng ta có thể xem như là “mật mã di truyền
xã hội”, là cái cốt lõi, là những giá trị tiêu biểu của tất cả các thành viên sống
trong cộng đồng đó được tích tích lũy qua quá trình hoạt động của họ. Quá
trình hoạt động ấy đã tạo nên những bản sắc riêng của cộng đồng đó.
Không phải tất cả mọi yếu tố, sản phẩm của hoạt động cộng đồng, dân
tộc đều trở thành giá trị văn hóa, mà giá trị đó chỉ định hình trong một giai
đoạn đỉnh điếm của sự phát triển và đồng thời vì giá trị văn hóa ngoài tính dân
tộc thì nó còn bị tác động bởi tính lịch sử, tính nhân loại chi phối: “Văn hóa
phát triển như một dòng sông chảy hên tục. Trên lịch trình phát triên đó có
những thời kỳ sôi động và một thời kỳ trong đó những giá trị tiêu biểu của
dân tộc được định hình, hoặc là tư tưởng hoặc là văn học nghệ thuật phát triển
đến mức điển phạm: văn hóa dân tộc tìm ra hướng đi vững chắc cho tương lai.
Đặc sắc văn hóa dân tộc hình thành, bộc lộ chính ở thời kỳ đó. Càng về sau,
sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc càng thường xuyên, càng nhiều mặt. Cho
đến thời cận đại, văn hóa phát triển có quy mô thế giới, văn hóa các dân tộc
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Truyền thống là những đức tính hay
những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác
dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [14; 50].
Giáo sư Trần Quốc Vượng lại khăng định: “Truyền thống như là một
hệ thống tính cách, các thế ứng xử của một tập thể (một cộng đồng), được
hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhất
định, trở nên ổn định, có thê định chế hoá bằng luật hay bằng lệ và được trao
16
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đê đảm bảo tính đồng nhất của một
cộng đồng” [43; 28-29].
Giáo sư Vũ Khiêu nhấn mạnh: “Truyền thống là những thói quen lâu
đời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của dân
tộc ta” [19; 67].
Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát: Truyền
thống là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực
hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen lối sống và cách ứng xử của
cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được
truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài.
Lịch sử cho thấy rằng truyền thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ
rệt: Một là: truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những giá trị quý giá, là cốt
cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dân
tộc. Xét từ mặt này thì truyền thống mang ý nghĩa tích cực, góp phần tạo nên
sức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới tương lai.
biến có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định,
đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa
của khái niệm “giá trị truyền thống” [14; 132].
Trần Ngọc Thêm cho rằng; “Truyền thống văn hoá là những giá trị
tương đối ổn định (những kinh nghiêm tập thể) thẻ hiện dưới những khuôn
mẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và
được cố định hoá dưới những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận...” [33; 133].
Định nghĩa khác về truyền thống văn hoá: “Nen văn hoá được truyền
lại được gọi là truyền thống văn hoá. Như vậy, nó phản ánh được những thành
tựu con người tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý
nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống. Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài
hoà của nó như là một hiện thân của trí tuệ” [7; 35].
Như vậy, ta thấy rằng truyền thống văn hoá là các giá trị do lịch sử để
lại, được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại mới. Khi đã
hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng,
đánh giá và điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng.
18
Khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào đã
có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn
lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng
trong những giai đoạn lịch sử nhất định Tuy nhiên, do tính lịch sử của chúng
nên các giá trị văn hóa và văn hóa truyền thống có tính hai mặt vì vậy yêu cầu
chúng ta phải đứng trên quan điếm phát triển và tính biện chứng, phải nhìn
Văn hóa phát triển như dòng sông chảy hên tục. Các giá trị của văn hóa
truyền thống được chuyến giao nối tiếp cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc.
Dưới thời đại mới truyền thống được bổ sung, được nâng lên tầm cao mới cho
phù họp với thời đại.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống
trong bối cảnh hiên nay
1.2.1. Anh hưởng của cách mạng khoa học- công nghệ
Khoa học và công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản
xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ
chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước không phải chỉ là quá trình
đối mới về khoa học công nghệ, hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xã
hội mà còn là quá trình đối mới về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích
ứng với tác phong mới. Hiện nay, khoa học và công nghệ có vai trò to lớn
trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin”, phát triển
hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia.
Vì vậy, đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội. Cuộc chạy đua phát triển kinh tế- xã hội trên thế giới hiện
nay thực chất là cuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua nâng cao
chất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực. Hiện
nay, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triến lực
lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh
tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát
triển năm 2010) nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có
20
sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
21
Văn hóa tác động đến kinh tế, về cơ bản, cũng theo ba hướng như vậy.
Sự tác động của văn hóa đến kinh tế, dù theo hướng nào thì cũng đều cho kết
quả tích cực, cho trước mắt, đặc biệt cho lâu dài. Vì văn hóa, xét ở hàm nghĩa
cơ bản nhất của nó, là kết tinh của các hoạt động kinh tế và các hoạt động xã
hội nói chung; nói cách khác là giá trị của các hoạt động đó.
Nhiều lĩnh vực văn hóa (nếu không nói là tất cả) cũng tương tự như các
ngành kinh tế, đều phải chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường,
cơ bản là quy luật lợi nhuận. Và đây là thách thức hơn là cơ hội đối với văn
hóa.
Khi xác định mục tiêu, giải pháp phát triển văn hóa phải căn cứ và
hướng tới mục tiêu, giải pháp phát triến kinh tế - xã hội, đế phát triển văn hóa
trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Còn khi xác định mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội phải đồng thời xác định mục tiêu văn hóa, hướng tới xã
hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phấm giá con
người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
Muốn vậy, phải có chính sách kinh tế trong văn hóa để gắn văn hóa với hoạt
động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho hoạt động văn
hóa. Đồng thời, xây dựng chính sách văn hóa trong kinh tế đê chủ động đưa
các yếu tố văn hóa thâm nhập vào các hoạt động kinh tế - xã hội.
1.2.3. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập quốc tế là điều kiện đê các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, bố sung
và làm giàu cho nền văn hóa dân tộc mỗi nước. Điều này rất phù hợp với quy
luật vận động và phát triển của văn hóa. Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu
tương lai phát triên của văn hóa Việt Nam.
1.3. Tầm quan trọng của việc giũ’ gìn, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Thái trong giai đoạn hiện nay
Nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, một dân tộc đánh mất truyền thống
văn hoá và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả vì vậy mà Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm đưa ra nhiều chủ trương, chính sách dân tộc nhằm thúc
đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa
dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH đất nước và truyền
thống văn hóa dân tộc Thái cũng không nằm ngoài sự nghiệp đó với mục đích
góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
hòa nhập nhưng không hòa tan, góp phần củng cố, phát triên chính trị, xã hội,
thực hiện thắng lợi công cuộc cách mạng của nước ta.
24
Kế thừa và phát huy là một nguyên tắc căn bản trong quy luật phát triển
của mọi sự vật hiện tượng. Mọi sự phát triển luôn là sự phú định có kế thừa.
Trong quá trình đó những mặt tích cực, tiến bộ được giữ lại, kế thừa và phát
triển trong sự ra đời của cái mới. Đối với lĩnh vực văn hóa cũng vậy! Những
tinh hoa, truyền thống tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy. Tuy nhiên,
truyền thống văn hóa của dân tộc là một mảng của kiến trúc thượng tầng,
chúng không cứng nhắc, không thể là cùng một khuôn mẫu trong các thời đại
khác nhau. Do vậy khi thời đại thay đổi thì chúng cũng phải thay đối, bổ sung
cho phù hợp với thòi đại mói.
Việc kế thừa, phát huy phải mang tính chọn lọc, thiết thực, phù hợp với
điều kiện, thời đại. Bởi vì không phải mọi truyền thống văn hóa đều phù hợp
với mọi thời đại và đều được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, phát
một điều khá tệ hại hơn là tâm lý không thấy được cái hay cái đẹp, thân
thương của dân tộc mình mà thờ ơ, chạy theo luồng văn hóa khác. Nếu không
có ý thức giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa dân tộc thì sẽ như cầm
Trọng, Bản Mưòng- một cấu trúc xã hội truyền thong Thái, Báo cáo khoa học
trình bày tại Đại hội quốc tế Thái học lần thứ IV tại Chiềng Mai- Thái Lan,
1996 trang 144 đã khắng định “Cứ thờ ơ như hiện nay thì văn hóa chắc chắn
sẽ bị chôn vùi vào quá khứ”.
Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái là
kế thừa những nét văn hóa có ý nghĩa tích cực thúc đây sự phát triển của cá
nhân và xã hội. Vì vậy, nói giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc Thái ở Qùy Châu hiện nay thì trước hết phải xuất phát từ yêu cầu
thực tế của từng địa phương mà lựa chọn đê có thể đưa ra những phương
hướng và giải pháp khả thi trên thực tế.
Trước tình hình đó các cấp, các ngành, chính quyền địa phương đã có
nhiều chủ trương, chính sách nhằm giữ gìn, phát huy các truyền thống văn
hóa của người Thái ở Qùy Châu và bước đầu đã có nhiều khả quan, song kết
quả vẫn chưa được như mong đợi, do vậy việc giữ gìn, phát huy các giá trị
văn hóa vẫn đứng trước nguy cơ mất dần bản sắc.
26
Vậy từ những truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu thì
cần được bảo tồn và giữ gìn, phát huy những giá trị nào trong giai đoạn hiện
nay? Như ở trên đã nói truyền thống văn hóa của người Thái thì rất nhiều
song không phải tất cả các truyền thống ấy đều là những giá trị tốt đẹp cả, phù
hợp với thời đại nhất là trong giai đoạn hiện nay và chúng ta không thẻ tham
lam, ôm đồm tất cả gia tài mà ông cha ta ngày xưa sáng tạo ra đê đến tương
Người Thái trong quá trình lao động sản xuất và trong cuộc sống đã
tích lũy được hệ thống kỹ thuật riêng trên cở sở điều kiện tự nhiên cho phép,
gắn liền với nguồn tài nguyên, chủ yếu dựa vào tài nguyên sẵn có. Người Thái
được biết đến với hệ thống thủy lợi “Mướng, phái, lái, lìn” đặc trưng trong
hoạt động sản xuất nông nghiệp lúa nước, đặc biệt hình ảnh cái “cọn nước”
(guồng quay) là hình ảnh đầy nét sáng tạo, độc đáo. Trong kỹ thuật thiết kế
xây dựng nhà cửa của người Thái không phải dùng đến một mấu sắt nào trong
thiết kế xây dựng. Thay vào những cái đinh đóng là cả một hệ thống dây
chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang, mây và một số
loại vỏ cây chuyên dụng... Trong kỹ thuật nấu nướng của người Thái cũng
vậy, nguyên liệu gắn với nguồn động, thực vật sẵn có, song với kỹ thuật riêng
họ lại làm nên những món ăn dân giã, đậm chất mà khi nhắc đến nó người ta
biết ngay là sản phâm của người Thái như cơm lam, hò moọc, chẻo...
1.4.3. Đặc trưng trong hệ thống thiết chế xã hội
Văn hóa Thái trong đặc trưng này thê hiện ở cơ cấu gia đình hạt nhân
phụ hệ, phụ quyền và tổ chức bản mường.
Gia đình hạt nhân là tế bào kinh tế- xã hội của người Thái, là mô hình
gia đình phố biến nhất của người Thái từ trước đến nay. Nổi trội trong gia
đình người Thái là sự bảo lưu tàn dư mẫu hệ trong chế độ gia đình quyền cha,
trong đó đặc biệt xem trọng chế độ quyền cậu. Trong gia đình, quyền quyết
định các vấn đề đều thuộc về người chồng, người cha nhưng vai trò của người
phụ nữ vẫn có chỗ đứng vững vàng trong gia đình. Đây chính là ưu điểm của
xã hội Thái trong vấn đề bình đăng nam nữ cần được kế thừa, phát huy.
Bản là một đơn vị tổ chức cư dân ổn định, có ranh giới đất đai ổn định,
là nơi tổ chức quản lý ruộng đất. Theo truyền thống ngày xưa, Bản còn là tổ