GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
nghiệp
Luận văn tốt
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế đã và đang dẫn đến
việc đô thị hóa các vùng nông thôn chuyên sản xuất nông nghiệp. Điều này làm
giảm diện tích đất canh tác ở một số vùng trong cả nước cũng như ở khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng như: Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang,
Long An là các tỉnh điển hình. Đồng thời, theo báo cáo của Viện nghiên cứu lúa
quốc tế (IRRI) năm 2003, các chuyên gia nhận định rằng diện tích đất canh tác
nông nghiệp sẽ bị giảm đáng kể và thậm chí sẽ không thể sử dụng để sản xuất do
bị ô nhiễm bởi chất thải và hóa chất được sử dụng trong sản xuất.
Do vậy, để có thể duy trì mức sản lượng nông sản, đặc biệt là lúa gạo để
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như ổn định mức sản lượng gạo xuất
khẩu thì các nước sản xuất nông nghiệp đều xem việc áp dụng kỹ thuật mới theo
hướng sản xuất bền vững là một trong những giải pháp ưu tiên được chọn trong
quá trình sản xuất nông nghiệp và ở Việt Nam điều này cũng đang được thực
hiện; đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Các mô hình kỹ thuật mới được áp dụng phổ biến như: giống mới, IPM,
sạ hàng, 3 giảm – 3 tăng, bản so màu lá lúa,… Bên cạnh đó, xã Hồ Đắc Kiện là
một trong những xã nghèo ở huyện Mỹ Tú, trồng trọt là một ngành nghề truyền
thống gắn chặt với người dân trong xã, sự phát triển của trồng trọt là một tất yếu
sẽ nâng cao mức sống của người dân. Do đó, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật là
phương pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, từ đó
cải thiện thu nhập cho người dân trong xã. Vì vậy vấn đề cần đặt ra là chúng ta
cần phải xem xét những yếu tố gì cũng như các chính sách liên quan trước khi
triển khai việc áp dụng kỹ thuật mới cho nông hộ đồng thời phân tích việc khai
thác các nguồn lực sẵn có của nông hộ trong quá trình sản xuất.
kỹ thuật mới.
- Đề xuất các giải pháp phát huy các mặt tích cực và khắc phục những
hạn chế trong quá trình triển khai và ứng dụng kỹ thuật đối với nông hộ sản xuất.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu của đề tài sẽ được thu thập từ hai nguồn chủ yếu là: dữ liệu sơ
cấp và dữ liệu thứ cấp.
Số liệu sơ cấp được thu thập từ:
- Thu thập trực tiếp thông qua các bản phỏng vấn trực tiếp đối với nông
hộ trong vùng nghiên cứu đề cập đến các thông tin liên quan mục tiêu nghiên
cứu. Điều tra ngẫu nhiên tại ba ấp là: ấp Cống Đôi và ấp Xây Đá A và ấp Xây Đá
B, thuộc huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đề tài nghiên cứu tác động của khoa học kỹ thuật đến sản xuất nên số
liệu thu thập được phân thành hai nhóm là có áp dụng khoa học kỹ thuật và
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
2
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
không áp dụng khoa học kỹ thuật, để có ý nghĩa trong việc phân tích hồi qui
tương quan và kiểm định giả thuyết nên chọn cỡ mẫu là 40.
Dữ liệu thứ cấp: thu thập từ các tài liệu, niên giám thống kê của huyện
trong năm 2004, các nghiên cứu trước đây của huyện Mỹ Tú và xã Hồ Đắc Kiện
cũng như tham khảo các nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn, quản lý
trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế. Các báo cáo tổng kết tình hình sản xuất
của xã, huyện trong 3 năm (2003-2005); Các kế hoạch, dự án có liên quan đến
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
Kiện, huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng. Ba ấp này là 3 ấp có diện tích sản xuất lúa
lớn nhất tại xã nên nó có tính đại diện cao.
+ Tuy 3 ấp của xã Hồ Đắc Kiện có tính đại diện cao nhưng cũng không
thấy được tác động của khoa học kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất lúa ở các xã
khác có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau.
+ Chỉ tập trung vào các mô hình mà 3 ấp thuộc xã Hồ Đắc Kiện đang áp
dụng phổ biến nhất.
- Giới hạn khác: trồng lúa trong năm thì có 3 vụ luân phiên nhau trong
một năm, do tính đặc trưng của đề tài nên chỉ tập trung vào vụ nông dân mới thu
hoạch gần đây nhất (khi đó người dân mới nhớ rỡ các khoảng chi phí mà mình đã
bỏ ra cho vụ lúa) đó là vụ lúa Đông – Xuân (mới thu hoạch xong trong tháng
3/2006) nên không so sánh được hiệu quả với các vụ khác trong năm.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
4
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
nghiệp
Luận văn tốt
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. CÁC ĐỊNH NGHĨA
Luận văn tốt
nghiệp
đầu vào ít hơn. Nhiều đổi mới công nghệ trong nông nghiệp còn nhằm để tiết
kiệm lao động (do sử dụng máy móc).
Phần lớn những kỹ thuật tiến bộ áp dụng vào sản xuất đều tạo ra khả
năng đạt được mục tiêu kinh tế do xã hội đặt ra như năng suất cao hơn, chất
lượng cao hơn, giá thành hạ hơn và tăng thu nhập cho người sản xuất, đồng thời
nó cũng tạo ra hiệu quả xã hội khác như cải thiện điều kiện sống, cải tạo môi
sinh, môi trường.
Các nguồn kỹ thuật tiến bộ và việc áp dụng nó:
+ Đút kết từ kinh nghiệm thực tế
+ Những kết quả nghiên cứu và phát triển qua khảo nghiệm được áp
dụng trong sản xuất
+ Những kết quả nghiên cứu và phát triển bên ngoài đưa vào
3. Hiệu quả
Hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có quan hệ mật
thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau, chúng là tiền đề của
nhau và là phạm trù thống nhất.
3.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên
quan trực tiếp tới nền kinh tế hàng hóa với tất cả các phạm trù và các qui luật
kinh tế khác. Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật
có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết
quả mang lại và chi phí đầu tư. Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục
đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu
về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nó gắn liền với những đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp. Trước hết là ruộng đất, tư liệu sản xuất không
thể thay thế được, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao
liệu; chi phí vận chuyển và thu hoạch; lãi suất; thuê đất; thuế và các khoản phí;
chi phí khác.
4. Độc canh
Độc canh là chỉ trồng một loại hoặc ít loại cây trên một khu đất nhằm thu
càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Độc canh thường gây rủi ro về dịch bệnh, thiên
tai, thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, gia đình đông người nhưng thời gian tham
gia sản xuất ít.
5. Luân canh
Luân canh là hình thức trồng luân phiên các loại cây trồng với nhau trên
cùng một diện tích canh tác, điểm mạnh của luân canh là làm giảm sự thoái hóa
độ màu mỡ của đất.
II. CÁC MÔ HÌNH KHOA HỌC KỸ THUẬT MỚI ĐANG ÁP DỤNG
1. Mô hình giống mới
Năm 1999, nông dân đã bắt đầu sản xuất 2 vụ lúa/năm, nhưng các giống
lúa sử dụng đại trà đang bị thoái hóa, lẫn tạp làm năng suất thấp (dưới 4 tấn/ha),
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
7
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
phẩm chất gạo kém nên việc đổi mới cơ cấu giống lúa đã được thực hiện nhằm
đưa năng suất và chất lượng gạo cao hơn, có giá trị hàng hóa và xuất khẩu cao.
Mô hình được thực hiện do Trung tâm giống cây trồng và Viện lúa đồng
bằng sông Cửu Long kết hợp Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ thực hiện
năm 1999 với nội dung của mô hình là cung cấp và nhân một số giống nguyên
chủng hiện đã được thử nghiệm trên qui mô nhỏ có kết quả tốt tại xã Hồ Đắc
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
bệnh, lúa cỏ… có sức nẩy mầm tốt > 85%. Phương pháp sạ được khuyến khích là
sạ hàng hoặc sạ lang với mật độ sạ từ 70 – 120 kg/ha. Lợi ích của cách làm này là
ít tốn giống, ít tốn phân, ít bị sâu bệnh… tiết kiệm được chi phí.
- Giảm phân:
+ Bón cân đối phân lân và phân Kali theo từng mùa vụ và loại đất.
+ Sử dụng bảng so màu lá lúa để xác định trọng lượng phân đạm cần bón
cho lúa vào 2 thời điểm 20 –25 ngày sau khi sạ và 40 – 45 ngày sau khi sạ.
- Giảm thuốc bảo vệ thực vật: Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
trong sản xuất lúa là biện pháp kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong “ba giảm,
ba tăng”, mà nội dung cốt yếu chính là không phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn
cây lúa được 40 ngày tuổi vì trong thời gian này cây lúa có khả năng bù đắp
những thiệt hại này do sâu bệnh gây ra. Lợi ích của việc giảm thuốc trừ sâu là
vừa bảo vệ thiên địch (côn trùng, thiên địch có ích) để khống chế sự bộc phát của
nhiều dịch hại khác vừa giảm ô nhiễm môi trường và giảm chi phí đầu tư, bên
cạnh đó còn tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt và an toàn cho người tiêu dùng.
Ba tăng gồm: tăng năng suất, tăng chất lượng gạo và tăng lợi nhuận.
4. Mô hình sạ hàng (máy sạ lúa theo hàng)
Do phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mỹ Tú tổ chức
trình diễn trong vụ Đông Xuân năm 2000 – 2001, máy gieo sạ hàng bằng động
cơ KubotaL 2001 cho thấy kết quả một số mặt tốt hơn so với sạ hàng bằng công
cụ kéo tay. Cụ thể:
- Tiết kiệm được trên 50% hạt giống.
- Tăng năng suất (300 – 500 kg/ha).
- Ruộng bằng phẳng hơn do trước trống chứa hạt giống có một ru lô kéo
làm bằng phẳng mặt ruộng.
- Không có dấu chân người như sạ kéo tay.
Thu nhập ròng
TNR/TN =
Thu nhập
- Thu nhập ròng trên ngày công lao động (TNR/NC): Chỉ tiêu này phản
ánh trong một ngày công lao động (lao động gia đình) bỏ ra tạo được bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau khi trừ đi tổng chi phí trên một ngày công.
Thu nhập ròng
TNR/NC =
Ngày công lao động gia đình
- Thu nhập / ngày công lao động gia đình (TN/NC): Chỉ tiêu này phản
ánh trong một ngày công lao động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập.
Thu nhập
TN/NC =
Ngày công lao động gia đình
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
10
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
- Thu nhập ròng /ngày (tính cho suốt vụ): Chỉ tiêu này phản ánh trong
một ngày sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập ròng.
Thu nhập ròng
TNR/Ngày =
Ngày
- Tổng thu nhập: là toàn bộ lượng tiền thu được sau khi nông hộ thu
hoạch mùa vụ.
- Tổng chi phí: là toàn bộ các khoản đầu tư mà nông hộ bỏ ra trong quá
x1, x2,... xi: là các biến độc lập (biến được giải thích)
b1, b2,..bi: gọi là hệ số hồi qui riêng. Hệ số hồi qui riêng cho biết ảnh
hưởng từng biến độc lập lên giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi các biến
còn lại được giữ cố định.
Cụ thể: b1, b2… bi cho biết khi biến x1, x2… xi tăng (hay giảm) 1 đơn vị
thì trung bình của Y sẽ thay đổi (tức là tăng hay giảm) bao nhiêu đơn vị, với điều
kiện các biến khác không đổi.
Hệ số xác định R2: (Multiple coefficient of determination) được định
nghĩa như là tỷ lệ (hay phần trăm) biến động của biến phụ thuộc (Y) được giải
thích bởi các biến độc lập xi. Chẳng han, R2 = 0,50 có nghĩa là 50% sự thay đổi
trong thu nhập là do ảnh hưởng bởi số lượng và giá cả của sản phẩm bán ra.
R
2
=
SSR
SSE
= 1 = 1−
SST
SST
2
( 0 ≤ R ≤ 1)
Hệ số tương quan bội R: (Multiple Correlation Corfficient) nói lên tính
chặt chẽ của mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (Y) và biến độc lập (x i).
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
Luận văn tốt
13
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
- So sánh giá trị kiểm định tính được với giá trị trong bảng phân phối χ2
và kết luận. Quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0 nếu:
χ2
k (Oi - Ei)2
∑
i=1
Ei
> χ2k – 1, α
Với χ2k – 1, α là giá trị tra bảng phân phối χ2, với (k – 1) là bậc tự do.
3. Cách chạy số liệu thông qua phần mềm SPSS
- Thống kê mô tả: chọn menu Analyze Descriptive Statistics
Descriptives.
- Phân tích tần số: chọn menu: Analyze Descriptive Statistics
triển sản xuất nông nghiệp. Đóng góp vào những thành tựu chung đó có phần
công sức quan trọng của lực lượng cán bộ Khoa học trong Tỉnh và thể hiện cụ thể
ở những lĩnh vực sau:
+ Hoàn thành các công trình thủy lợi trọng điểm và hệ thống sông biển
với tổng chiều dài gần 500 km, ngăn mặn trên 2/3 diện tích đất nông nghiệp, dẫn
nguồn nước ngọt cho hơn 130.000 ha đất canh tác lúa 2 vụ, tạo nguồn nước phục
vụ nuôi trồng thủy sản.
+ Ngành nông nghiệp đã nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong
việc cải tạo giống cây, tuyển chọn được nhiều giống có khả năng kháng sâu
bệnh, có năng suất cao. Trung tâm nghiên cứu Giống đã được xây dựng và đang
nghiên cứu, khảo nghiệm, chọn lọc các giống lúa từ các bộ giống của Viện lúa
Đồng bằng sông Cửu Long và trường Đại Học Cần Thơ để đưa vào sản xuất đại
trà.
2. Khái quát về huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng
2.1. Đặc điểm tự nhiên
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
15
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
Huyện Mỹ Tú có diện tích tự nhiên 56.296,95 ha, trong đó diện tích đất
nông nghiệp 50.915,73 ha. Địa bàn có các tuyến giao thông đường bộ cũng như
đường thủy liên tỉnh, tạo điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu, mua bán hàng
hóa.
Về hành chính, huyện có 15 xã và 1 thị trấn: thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa,
các xã Phú Tâm, Phú Tân, An Hiệp, Thuận Hòa, Hồ Đắc Kiện, Thiện Mỹ, Long
Hưng, Hưng Phú, Mỹ Tú, Mỹ Phước, Mỹ Thuận, Thuận Hưng, Phú Mỹ, Mỹ
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
năm 2004 và 2005 một số mặt hàng nông sản thực phẩm ổn định cao như: mía,
lúa, heo,… làm cho người nông dân phấn khởi.
(Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của huyện từ năm 2003-2005)
2.3. Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp
- Về thủy lợi: Ảnh hưởng rất lớn do hai trục sông chính: nước sông Hậu
đổ từ Kế Sách về và kênh Quảng Lộ Phụng Hiệp. Mạng lưới kênh trong những
năm gần đây được nạo vét khá hoàn chỉnh, toàn huyện có 77 tuyến kênh cấp I, II
dài 551,56 km, 534 tuyến kênh nội đồng dài trên 1.000 km. Đảm bảo đủ nước
tưới tiêu cho toàn bộ diện tích đất canh tác lúa, một số diện tích đất trồng màu và
sinh hoạt cho 98,85% hộ dân toàn huyện.
- Về tập quán sản xuất và trình độ nhận thức, tiếp thu khoa học kỹ thuật:
Với tập quán sản xuất nhỏ, cá thể, độc canh cây lúa đã tồn tại từ lâu đời, nên
bước sang cơ chế thị trường, sản xuất lớn, đa canh một bộ phận lớn trong lao
động nông nghiệp chưa thích nghi được yêu cầu. Mặt khác, do huyện vùng dân
tộc, ảnh hưởng nặng nề hậu quả chiến tranh để lại, cơ sở vật chất hạ tầng thấp
kém, trình độ dân trí thấp nên khả năng tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật mới
còn hạn chế, nhận thức sự cần thiết phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong kinh
tế trong sản xuất nông nghiệp, thay đổi giống vật nuôi, cây trồng nhằm nâng cao
giá trị sản phẩm, tăng thu nhập còn nhiều mặt hạn chế, chưa đồng bộ.
(Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của huyện từ năm 2003-2005)
2.4. Tình hình sản xuất lúa trong những năm gần đây
Trong định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cây lúa vẫn
được xem là cây trồng chính của huyện, trên cơ sở đó huyện đã tập trung chỉ đạo
theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng bằng cách bố trí cơ cấu mùa vụ
từng vùng một cách hợp lý, thay đổi các giống lúa cũ, thoái hóa bằng những
giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, diện tích gieo trồng lúa năm 2004 –
Những vùng đất còn khó khăn thì sản xuất lúa cao sản thường.
Thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác giống để cung ứng lúa giống cho
các vùng qui hoạch. Mở rộng các cánh đồng 3 giảm – 3 tăng. Mỗi xã phải tổ
chức cho các doanh nghiệp địa phương hợp đồng sản xuất, tiêu thụ lúa cho nông
dân, nhất là lúa đặc sản.
- Hướng chuyển dịch thứ hai của cây lúa là canh tác 2 vụ lúa kết hợp với
nuôi thủy sản ở các vùng đất thấp.
- Hướng chuyển dịch thứ ba là canh tác 2 vụ lúa kết hợp với trồng màu
vụ xuân hè ở các vùng đất cao.
(Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của huyện từ năm 2003-2005)
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
18
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
nghiệp
2.6. Kế hoạch sản xuất lúa từ năm 2006 – 2010
Luận văn tốt
Bảng 1: Kế hoạch sản xuất lúa của Huyện giai đoạn 2005-2006
Cây lúa
Lúa cả năm
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
Lúa Thu Đông
Diện tích
Tạ/ha 49,24
51,20 52,00
53,00 53,89 54,45
Tấn 443.709 441.861 434.010 435.754 437.071 435.602
Ha
13.957 10.000 8.000
Tạ/ha 37,41
39,00 41,00
Tấn 52.220 39.000 32.800
7.000 6.000 5.000
43,00
45,00 45,00
30.100 27.000 22.500
Ha 36.239 36.290 36.000 35.800 35.600 35.500
Tạ/ha 54,43
55,21 56,00
56,50 57,00 57,00
Tấn 197.250 200.355 201.607 202.274 202.922 202.349
Ha
4.210
Tạ/ha 58,99
Tấn 24.835
4.500 3.500
55,99 56,00
25.196 19.603
3.500 3.500 3.500
nghiệp
diện tích đất tự nhiên. Xã Hồ Đắc Kiện có 8 ấp là các ấp: Đắc Thế, Đắc Thắng,
Đắc Thời, Đắc Lực, Kinh Đào, Cống Đôi, Xây Đá A, Xây Đá B.
- Phía Nam giáp với xã Thiện Mỹ, huyện Mỹ Tú.
- Phía Bắc giáp với xã Tân Hiệp, huyện Phụng Hiệp (thuộc Tỉnh Cần
Thơ).
- Phía Đông giáp với xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú.
- Phía Tây giáp với xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú.
3.2. Dân số và lao động
Toàn xã có 3.225 hộ và có 16.300 nhân khẩu, mật độ dân cư là 332
người/km2. Số người trong độ tuổi lao động là 9.128 người.
3.3. Điều kiện tự nhiên
Xã Hồ Đắc Kiện có đất đai thuộc loại đất phù sa nhiễm mặn, có hệ thống
thủy lợi tương đối đồng bộ, vào mùa khô thì xã cũng có được nguồn nước ngọt
để dùng trong sinh hoạt và trong sản xuất.
Hồ Đắc Kiện là một xã thuộc Tỉnh Sóc Trăng nên cũng có những điều
kiện thời tiết như các vùng khác trong Tỉnh, có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo với khí hậu hai mùa rõ rệt là: mùa khô và mùa mưa, nhiệt độ trung bình
hàng năm khoảng 290C, lượng mưa là 1.953,6 mm tập trung chủ yếu vào mùa
mưa, độ ẩm trung bình hàng năm là khoảng 86%.
Điều kiện tự nhiên, đất đai và sự phân bố dân cư là những yếu tố thuận
lợi cho việc quản lý sản xuất, có thể nói xã Hồ Đắc Kiện là một xã có tiềm năng
phát triển nông nghiệp và thủy lợi rất phong phú.
3.4. Đặc điểm văn hóa xã hội
3.4.1. Văn hóa xã hội
Các cán bộ xã phát động mạnh mẽ phong trào toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở, nâng cao chất lượng tuyên truyền, tổ chức các hoạt
động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, chủ động xây dựng các kế hoạch thực
hiện chuẩn quốc gia về y tế, giáo dục. Tiếp tục giới thiệu việc làm, đưa đi đào tạo
nghề, xóa đói giảm nghèo, tăng cường vận động quỹ tình thương, đảm bảo chăm
nhiễm chất độc màu da cam. Thường xuyên nắm và giúp đỡ những gia đình
chính sách đặc biệt khó khăn.
+ Xây dựng nhà tình nghĩa, xây dựng được 45 căn đã nghiệm thu bàn
giao.
- Công tác xã hội:
+ Thường xuyên quan tâm chỉ đạo chương trình mục tiêu xóa đói giảm
nghèo. Thông qua các đoàn thể cho vay và nguồn vốn tự lực của địa phương xóa
đói giảm nghèo đạt kết quả khá tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn còn
khá cao 838 hộ, chiếm 27,44%, phấn đấu đến hết năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo theo
chỉ tiêu mới giảm xuống còn 12,42% (còn khoảng 400 hộ nghèo).
+ Xây dựng nhà tình thương cho những hộ nghèo, khó khăn về nhà ở,
xây dựng 175 căn, do nguồn vốn của tỉnh, huyện hổ trợ, quỹ vận động của xã,
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
21
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
vận động vốn đối ứng hộ gia đình, giải quyết cho người lao động tại chỗ là 200
lao động.
3.4.4. Giáo dục
Huy động học sinh đến trường: Mẫu giáo 95%, tiểu học 98%, trung học
cơ sở 85%, phổ cập giáo dục 413 học viên, phổ cập trung học cơ sở 107 học viên,
xóa mù chữ 593 học viên, đạt chuẩn quốc gia 01 trường.
Toàn xã có 112 giáo viên, không có giáo viên dạy phổ thông trung học.
Trong đó
- Mẫu giáo – nhà trẻ: 9 giáo viên.
- Tiểu học: 74 giáo viên.
trình thủy lợi bằng cơ giới (kết hợp giao thông – thủy lợi) với tổng chiều dài từ
25.000m đến 31.100m. Tổng vốn trên 1 tỷ đồng, trong đó có: Trung ương có 3
công trình, tỉnh và huyện 05 công trình, xã 01 công trình bằng nguồn vốn 99: 49
triệu đồng.
Thủy lợi nội đồng: xã đã nạo vét kênh thủy lợi nội đồng: 58 kênh, tổng
chiều dài 89.364m, tổng khối đất nạo vét: 202.622m 3, tổng số ngày công lao
động: 101.311 ngày công.
Nhìn chung, kết quả thực hiện thủy lợi giao thông nông thôn đã cho thấy
sự cố gắng của toàn xã, làm tăng thêm khả năng chủ động phục vụ tưới tiêu, góp
phần quan trọng trong việc mở ra thâm canh tăng vụ, đảm bảo tưới tiêu cho 2 vụ
lúa, màu, cây ăn trái và đảm bảo sinh hoạt hàng ngày cho nhân dân.
3.6. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Giữ vững ngành nghề truyền thống, phát triển mạnh nghề truyền thống
hiện có, toàn xã có 156 cơ sơ công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ, tuy
các cơ sở có phát triển nhưng giá trị kinh doanh còn thấp.
Về điện: toàn xã mở mới 03 trạm, dài 5.200m, 1 trung hạ thế, 2 hạ thế
(vốn từ chương trình 135). Toàn xã có 2.369 hộ kéo điện về sử dụng đạt tỷ lệ
73,45% tổng số hộ. Nhìn chung công tác điện khí hóa nông thôn thực hiện rất tốt,
các ấp tích cực vận động nhân dân kéo điện vào nhà sử dụng.
3.7. Tình hình sản xuất lúa trong những năm gần đây
Xã Hồ Đắc Kiện là một xã nông nghiệp có trên 84% số hộ sống bằng
nghề nông, trong những năm qua có nhiều chủ trương chính sách tác động rất lớn
đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo tiền đề cho việc phát triển
kinh tế - xã hội trong năm 2005. Trong sản xuất nông nghiệp thì thế mạnh của xã
vẫn là trồng lúa.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
23
8.144 8.144 7.814 7.814 8.707
563
6,9
Năng suất Tấn/ha
4,20
4,60
4,84
5,03
5,00
0,8
19,05
Sản lượng
Tấn 34.205 37.463 37.820 39.305 43.535 9.330
27,28
Lúa Thu Đông
Diện tích
Ha
2.500 2.500 2.400 2.400 2.500
0
0
Năng suất Tấn/ha
3,8
4,0
4,0
4,0
4,0
0,2
5,26
Sản lượng
Tấn
Sản lượng
Tấn 11.228 13.474 13.535 13.806 13.806 2.578
22,96
(Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của xã Hồ Đắc Kiện từ 2001-2005)
Nhìn chung ở xã thì chỉ tập trung sản xuất 3 vụ trong một năm đó là các
vụ: Thu Đông – Đông Xuân – Hè Thu, còn vụ Xuân Hè thì xã không có làm.
Diện tích lúa cả năm tăng 563 ha (về số tuyệt đối) tương đương với 6,9% (về số
tương đối), còn năng suất tăng 0,8 tấn/ha, tương đương tăng 19,05% về tổng sản
lượng thì tăng 500 tấn/ha tương ứng 27,28%. Cụ thể từng vụ như sau:
- Vụ Thu Đông: năng suất tăng từ 3,5 tấn/ha lên 4,0 tấn/ha, tương đương
với 5,26% mặc dù diện tích trồng vẫn không thay đổi.
- Vụ Đông Xuân: năng suất tăng 0,7 tấn/ha (về số tuyệt đối), tương
đương 14% (về số tương đối) mặc dù diện tích trồng giảm 163 ha (so với năm
2001).
- Vụ Hè Thu: năng suất tăng 1,1 tấn/ha (về số tuyệt đối), tương đương
27,5% (về số tương đối) mặc dù diện tích trồng giảm 163 ha (so với năm 2001).
Theo nhận định của cán bộ nông nghiệp xã, yếu tố quan trọng nhất làm
tăng năng suất là do sự xuất hiện của các giống lúa cao sản mới, có khả năng
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
24
GVHD: Đoàn Thị Cẩm Vân
Luận văn tốt
nghiệp
kháng bệnh cao, trình độ canh tác của nông dân ngày càng được nâng cao, họ
tích cực hơn trong việc ứng dụng các biện pháp canh tác mới vào sản xuất.
3.8. Kế hoạch sản xuất lúa từ năm 2006 – 2010
2010
Ha
Tấn/ha
Tấn
7.414
5,00
37.070
7.414
5,00
37.070
7.414
5,04
37.366
7.417
5,10
37.811
7.414
5,10
37.811
Ha
Tấn/ha
Tấn
5,8
15.700
2.707
5,9
15.971
2.707
5,9
15.971
2.707
5,9
15.971
Ha
Tấn/ha
Tấn
2.707
5,2
14.076
2.707
5,2
14.076
2.707
5,3
14.347