ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
CHƯƠNG I – MỞ ĐẦU
1.1GIỚI THIỆU
Trong quá trình sinh sống và phát triển của mình, loài người đã tác động nhiều đến
thiên nhiên, làm thay đổi chúng và cũng là làm thay đổi khung cảnh sống của chính mình.
Do không nhận biết được các quy luật tự nhiên hoặc do chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt, trong
quá trình phát triển xã hội, loài người đã làm cho môi trường sống suy thoái, tài nguyên cạn
kiệt.
Ngày nay môi trường trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia và của
cộng đồng quốc tế. Các vấn đề ô nhiễm không khí, nguồn nước, suy thoái đất đai, tàn phá
rừng, sa mạc hoá, sự suy giảm tính đa dạng sinh học, nguy cơ diệt chủng nhiều loại sinh vật
quý hiếm, mất cân bằng sinh thái... Đang trở thành phổ biến và trầm trọng trên phạm vi
toàn cầu. Đặc biệt là sự suy giảm tầng ozon. Sự nóng dần lên của khí quyển và do đó nguy
cơ nâng cao mực nước biển đang đe doạ sự sinh tồn và phát triển của loài người. Đấu tranh
để bảo vệ môi trường, giữ gìn ngôi nhà chung - trái đất chúng ta đang sống là nghĩa vụ của
mọi người, vì sự phát triển chung của cả nhân loại. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích cục
bộ mà gây tổn hại môi trường thì đó chính là hành động ngăn chặn quy trình phát triển của
chính mình, nếu không nói là sự tự phá huỷ mình.
Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học thấm thía. Nhiều vùng rộng lớn trước
kia đã từng có nền văn minh chói lọi nay trở thành xa mạc. Một trong những nguyên nhân
chủ yếu là do sự phát triển không đi đôi với bảo vệ môi trường, không tuân thủ các quy luật
tự nhiên.
Ô nhiễm môi trường gây ra do con người trong hoạt động nông-lâm nghiệp, công nghiệp,
giao thông vận tải, do chiến tranh và do những chất thải sinh hoạt ở các khu dân cư tập
trung.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Ở các nước công nghiệp, đất không chỉ mất lớp phủ thực vật do phá rừng mà còn là “nghĩa
địa” chôn cất bã phóng xạ, chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt.
Trên đất nông nghiệp, do thâm canh và đốt rừng lấy đất trồng trọt nên đất bị thoái hóa và ô
nhiễm hóa học do dùng phân bón và thuốc hóa học bảo vệ thực vật. Nguồn nước sạch, kể
môi trường,
Thiết lập một mối liên kết giữa phát triển bền sâu sắc vai trò tương ứng của họ trong quá
trình tham gia của cộng đồng.
Đưa ra hướng giải quyết mới , tốt hơn cho vấn đề môi trường Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng
và cả nước .
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Các vấn đề môi trường phát sinh từ sinh hoạt , sản xuất của các khu công nghiệp trong tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu
Quy hoạch môi trường của tỉnh
Tình trạng quản lý Môi Trường của tỉnh
Hiện trạng việc sử dụng các loại tài nguyên
1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu trước mắt là phải ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố
môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra; khắc phục ô nhiễm
môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phụchồi các hệ sinh thái đã
bị suy thoái; quản lý, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ đa dạng
sinh học; từng bước nâng cao chất lượng môi trường.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Ô nhiễm, suy thoái môi trường là một trong những vấn đề mà loài người đang phải đối mặt
song song với các vấn đề đói nghèo, đại dịch AIDS vì vậy, bảo vệ môi trường cũng đồng
nghĩa với bảo vệ môi trường sống, bảo đảm mọi người dân được sống trong môi trường
trong lành, sạch đẹp, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân,
đồng thời là nội dung quan trọng của phát triền bền vững.
Nếu công tác phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường được thực hiện
khoa học, nghiêm túc và hiệu quả thì sẽ tiết kiệm được nguồn lực lớn cho công tác khắc
phục, phục hồi môi trường sau này.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp tham khảo tài liệu về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Phương pháp đánh giá nhanh hiện trạng môi trường
Thống Chí ( thời Tự Đức 1829 - 1883 ) viết: "Vùng đất này xưa thuộc Phước nam Thắng
cách Phước Thọ 31 dặm về phía Tây - Nam, là một mũi đất càng nhô ra biển càng lớn.
Phía Bắc mũi đất ôm giếng Ngọc, phía nam nối tiếp tới ghềnh Rái và che chở cho biển Cần
Giờ một vịnh lớn được hình thành bởi các dòng sông, chảy ra biển, là chố yên ổn cho tàu
thuyền trú ngụ...". Hẳn do địa hình như vậy nên Vũng Tàu còn có một cái tên khác là
Thuyền áo ( áo của Thuyền ). Trong bản đồ dinh Trấn Biên của các chúa Nguyễn ( Thế kỷ
XVII ) của cuốn Biên Hoà Lược sử toàn biên, Vũng Tàu ngày nay đã được ghi là Thuyền
áo.
Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là : Cinco Chagas Veirdareiras
Năm vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có năm ngọn núi,
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
người đi biển dễ nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với
họ. Các bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha đều ghi Vũng Tàu là Cinco Chagas
Veirdareiras. Nhưng khi cuốn hải trình nổi tiếng "Biển Phương Đông" (La Neptune
Oriental) của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì nó lại có tên là Cap Saint Jacques, có người
giải thích đó là do cách đọc của các thuỷ thủ Châu Âu nên Cinco Chagas trở thành Silkei
Chagas và cuối cùng là Saint Jacques.
(Theo nhà văn Nguyễn Tuân, Saint Jacques là tên một loài sò quen thuộc với người Pháp -
Coquille Saint Jacques có mặt tại vùng biển này). Trong thời Pháp thuộc Vũng Tàu có một
cái tên khác là Ô Cấp hoặc Cấp. Ô Cấp là phiên âm của tiếng Pháp au Cap trong câu Aller
au Cap (đi ra mũi đất). Ô Cấp lúc đầu dùng để chỉ cả vùng đất Vũng Tàu. Khi nói đến
Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu không giống
như Ô Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất chạy
nhô ra biển.
Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất vùng biển. Ở đây khác nhau chỉ
là cách đặt tên thao mũi đất chỗ lồi hướng ra biển, người phương Đông đặt tên theo vũng
chỗ lõm (hướng vào đất liền), thể hiện một tâm lý nào đó về cách nhìn ra thế giới bên
ngoài.
Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá từ thế kỷ XVII, lúc đầu Bà Rịa thuộc dinh
Dân số : 143.301 người Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Huyện Tân Thành
Diện tích : 304,86 Km2
Dân số : 80.846 người
Huyện Xuyên Mộc
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Diện tích : 631,54 Km2
Dân số : 116.327 người
Huyện Long Đất
Diện tích : 292,95 Km2
Dân số : 132.384 người
Huyện Côn Đảo Hình 2.2 Bãi biển Vũng Tàu
Diện tích : 76,00 Km2
Dân số : 1.796 người
2.1.3 Tự Nhiên Dân Cư
Tổng diện tích tự nhiên: 2006,7 km2.
Diện tích đất tự nhiên: 195,659 ha.
Trong đó
• Đất nông nghiệp: 76.590 ha - 39%.
• Đất lâm nghiệp: 65.000 ha - 33%.
• Đất chuyên dùng: 4.153 ha - 2,1%.
• Thổ cư: 8.949 ha - 4,6%.
• Chưa khai thác: 38.900 - 21,1%.
Dân cư có tổng số là 719.000 người, trong đó dân ở thành phố, thị trấn là 271.549 người.
• Mật độ trung bình: 349,8 người/km2, riêng Vũng Tàu là 912,5 người/km2.
• Dân tộc: Chủ yếu là người Việt, ngoài ra có các dân tộc khác như Hoa, Châu Ro,
Mường, Tày.
• Lực lượng lao động: Chiếm 51,56% số dân.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 8
Bên cạnh những tiềm năng to lớn về dầu khí. Bà Rịa - Vũng Tàu đang từng bước khẳng
định thế mạnh du lịch của mình, nhờ lợi thế về tiềm năng thiên nhiên và nhân văn phong
phú. Bà Rịa Vũng Tàu là một quần thể thiên nhiên hài hoà, sơn thuỷ hữu tình, có những dãy
Núi Lớn - Núi Nhỏ - Minh Đạm, Núi Dinh che chắn, xa xa biển Đông có Côn Đảo bao bọc,
ở gần có Long Sơn quy tụ...
Ngoài những bãi tắm tuyệt đẹp với bờ cát mịn thoai thoải, nói đến Bà Rịa - Vũng Tàu
không thể không nhắc đến hai khu rừng nguyên sinh nổi tiếng: rừng cấm Bình Châu -
Phước Bửu và rừng quốc gia Côn Đảo với những loài động thực vật quý hiếm, môi trường
đa dạng tập hợp nhiều kiểu rừng của các vùng sinh thái.
Đến với khu du lịch suối khoáng nóng Bình Châu, du khách thực sự được thư giãn để tận
hưởng bầu không khí ấm áp, làn sương khói la đà len lỏi giữa rừng cây xanh rải rác như
giữa chốn thần tiên, đây đó là những khu nhà nghỉ dưỡng, trị bệnh bằng nguồn nước
khoáng nóng bổ ích.
Bà Rịa - Vũng Tàu cũng là miền đất có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời với những khu
di tích mang đậm dấu ấn của những thời kỳ lịch sử, toàn tỉnh hiện có 29 khu di tích được
xếp hạng cấp quốc gia.
Với những lợi thế và tiềm năng to lớn nói trên, thời gian qua du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu đã
có những bước phát triển mạnh mẽ, hàng loạt dự án đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực
khách sạn, khu vui chơi giải trí, các tuyến, điểm du lịch với tổng số vốn đầu tư lên đến
hàng trăm triệu đôla đang hoạt động hết sức nhộn nhịp. Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 65
khách sạn với trên 2300 phòng trong đó có 1100 phòng được công nhận đạt tiêu chuẩn
quốc tế.
Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu (1995 - 2010) với 5 trung
tâm kinh tế - du lịch, trong tương lai không xa, Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ phát triển mạnh mẽ,
tương xứng với vị thế và tiềm năng của một trung tâm du lịch quan trọng của cả nước.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 10
Hình 2.3 Du lịch tỉnh BRVT
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Thành phố Vũng Tàu
Thành phố Vũng Tàu cách thành phố Hồ Chí Minh 125km và cách thành phố Biên Hoà 90
Phía Đông Bắc thành phố có rạch Cây Khế dài 6 km. Rạch Bà dài 7,9km nằm chắn ngang,
làm ranh giới giữa khu Thắng Nhất và Thắng Nhì.
Tại khu Thắng Nhì, phía sau cù lao Bến Đình có rạch Bến Đình dài 5,5km, phía Đông
Phước Thắng nơi Cửa Lấp có 3 rạch dẫn nước biển vào thành phố là rạch Ông Nam, rạch
Suối Nước và rạch Sông Cái. Sông rạch ở Vũng Tàu cũng là những cảnh quan đẹp.
Đường sá
Đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước đến mũi Nghinh Phong ra
đường Thuỳ Vân (Bãi Sau) dài 6km ôm sát chân núi, chạy lên dốc cao, có đoạn chạy sát
biển, có chặng luồn giữa những khu vực cây cối xanh tươi. Đi dạo theo con đường này, du
khách được hít thở không khí trong lành, hưởng gió biển, ngắm cảnh biển bao la và những
cảnh sắc luôn thay đổi dọc theo bên đường.
Đường vòng Núi Lớn (đường Trần Phú) chạy quanh sườn Núi Lớn, từ Bến Đình - Thích Ca
- Phật Đài - Bãi Dâu đến Bãi Trước dài 10km, cách mặt biển 40 - 50m một bên là núi, phía
dưới là biển, hùng vĩ hơn đường vòng Núi Nhỏ, có nhiều thắng cảnh dọc đường như tượng
Đức Mẹ, núi Ghềnh Rái, Bến Đá Điện Bà...
Các mũi đá nơi có nhiều gió mà du khách thích đến là mũi Nghinh Phong, ở đây gió thổi
quanh năm. Ngoài ra còn có mũi Đá trước toà Bạch Dinh, mũi đá Cao Trang ở đầu đường
vòng Núi Lớn, cũng là những nơi buổi chiều du khách thường đến dạo chơi.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Trên đường vòng quanh Núi Nhỏ sau khi qua khỏi bãi Vọng Nguyệt, nếu để ý du khách sẽ
thấy một hòn đảo nhỏ như một tría núi nhô lên mặt nước. Khi nước ròng hạ thấp người ta
có thể đi bộ ra đây, qua một bãi đá lởm chởm làm cầu, đó là hòn Bà.
2.1.6 Thông Tin Về Các Khu Công Nghiệp
Theo Quyết định số 742/QĐTTg ngày 06/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ phê quyệt quy
hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thời kỳ 2001-2010, tỉnh BR-VT sẽ
phát triển 09 KCN với tổng diện tích 4.460 ha.
Đến nay toàn tỉnh đã phát triển được 9 KCN với tổng diện tích trên 3.591 ha, trong đó 2
khu mới thành lập trong năm 2006 là Mỹ Xuân B1-Tiến Hùng, My
̃
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
- Diện tích: 422,22 ha trong đó diện tích đất cho thuê 292,31 ha. Diện tích đã cho
thuê: 129,3 ha, Diện tích còn cho thuê: 163 ha, Tỷ lệ lấp đầy: 44,23%.
KCN Mỹ Xuân B1 - Tiến Hùng
Diện tích: 200 ha. Diện tích đất cho thuê: 140 ha. Diện tích đã cho thuê: 0 ha. Diện tích còn
cho thuê: 140 ha.
KCN Mỹ Xuân B1 - Đại Dương
Diện tích: 145,7 ha. Diện tích đất cho thuê: 95 ha. Diện tích đã cho thuê: 0 ha. Diện tích
còn cho thuê: 95 ha.
KCN Châu Đức
Diện tích KCN: 1.550 ha trong đó diện tích đất cho thuê 941 ha.
KCN Mỹ Xuân B1- CONAC
Diện tích: 227,14 ha. Diện tích đất cho thuê: 157,71 ha. Diện tích đã cho thuê: 48,13 ha đạt
tỷ lệ lấp đầy 30,52%. Diện tích còn cho thuê: 109,58 ha.
KCN Cái Mép
- Diện tích: 670 ha. Diện tích đất cho thuê: 449 ha; diện tích đã cho thuê: 182,48 ha; diện
tích còn cho thuê: 266,52 ha; tỷ lệ lấp đầy: 40,64%.
KCN Phú Mỹ II
Diện tích: 620,6 ha. Diện tích đất cho thuê: 372,4 ha. Diện tích đã cho thuê: 160 ha. Diện
tích còn cho thuê: 212,4 ha. Tỷ lệ lấp đầy 42,96%.
KCN Phú Mỹ III
Diện tích KCN: 942 ha, trong đó: Khu công nghiệp tập trung: 802 ha Khu cảng và kho bãi:
140 ha
2.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG
2.2.1 Hiện trạng môi trường nước
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Theo nhận định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng
nặng nề từ biến đổi khí hậu (BĐKH), trong đó, BR-VT là một trong những tỉnh chịu tác
hoặc có xây dựng nhưng còn vận hành mang tính chất đối phó.
Nước thải ở các bệnh viện, trung tâm y tế huyện cũng chỉ xử lý sơ bộ đảm bảo yêu cầu theo
quy định..Nước mặt còn bị ô nhiễm bởi tình trạng xói mòn và rửa trôi gây Mất cân bằng
sinh thái trong phát triển nông nghiệp thể hiện rõ nét ở tình trạng dịch bệnh phát sinh trên
diện rộng do ONMT nước ở các mô hình nuôi thâm canh các tra, các dịch bệnh cho ngành
chăn nuôi gia súc, gia cầm, dịch bệnh lúa,… môi trường nước trên các sông thuộc hệ thống
sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Krôngnô và các hồ (Xuân Hương, Chiến Thắng, Tuyền
Lâm, Đankia,…) trong tỉnh đã có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ và vi
sinh, và đang có nguy cơ gia tăng gây
ra những biến đổi trong cân bằng sinh
thái. Ở các vực nước mặt có sự lưu
thông nước thấp, sự mất cân bằng sinh
thái thể hiện rõ hơn do hiện tượng phú
dưỡng. Đây là vấn đề các nhà môi
trường sinh thái cần đặc biệt quan tâm
và có cái nhìn lâu dài vì nó có thể gây
ra những hậu quả nghiêm trọng trong
tương lai.
Hình 2.5 Nguồn nước bị ô nhiễm do rác sinh hoạt
2.2.2 Hiện trạng môi trường không khí
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
TP. Vũng Tàu từ năm 1960 đến nay nhiệt độ
đã tăng 2
0
C. Những thay đổi về nhiệt độ đang
tiềm ẩn nhiều hệ lụy như nước biển dâng, xói
lở bờ biển, thiếu nước ngọt
Tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, mạnh đã gây
ra hàng loạt các vấn đề và môi trường không
vật lại ít hơn nhiều so với động vật. Một nghiên cứu ở Thuỵ Điển cho thấy: khi độ pH của
nước giảm 1 đơn vị, sự đa dạng của động vật giảm 40%, trong khi tỷ lệ này ở thực
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 18
Hình 2.6 khói từ nhà máy đóng gạch
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
vật là 25%.Ô nhiễm không khí tác động đến các nhóm động thực vật khác nhau. Sự tác
động của ô nhiễm không khí đối với các loài động vật chủ yếu là tác động gián tiếp, thông
qua việc mất các nguồn thức ăn hoặc làm thay đổi cơ chế sinh sản. Trong số các HST bị
ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí đô thị, HST nước ngọt bị ảnh hưởng nhiều nhất
Cho đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng ô nhiễm không khí đô thị là một nhân tố làm suy giảm
sự ĐDSH. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí liên quan chủ yếu đến việc suy giảm, làm yếu đi
các loài mà không phải là gây ra tuyệt chủng. Tuy nhiên, với xu hướng tiếp tục ô nhiễm như hiện
nay thì một số loài động thực vật bị mất đi là điều không tránh khỏi.
2.2.3 Hiện trạng môi trường đất
Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô
nhiễm. Nếu phân theo nguồn gốc phát sinh ta có:
- Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
- Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng
một nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người ta còn phân loại ô
nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm:
- Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trong đất),
thuốc trừ sâu (chlo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ ...), chất thải công nghiệp,
hoạt động khai thác khoáng sản và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit ...).
- Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của
sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137).
Theo số liệu điều tra, hiện nay vấn đề ONMT đất trên địa bàn tỉnh BRVT chủ yếu là do
tình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một
cách tràn lan, không có sự kiểm soát của ngành chức năng đã gây môi trường đất, nước
Có thể coi Côn Đảo như một cầu nối cho sự phát tán sinh vật từ trung tâm đa dạng của
vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình dương đến vùng biển ven bờ Việt Nam.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 20
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
Chế độ dòng chảy Biển Đông với sự thay đổi hai mùa gió chính đã tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển ấu trùng sinh vật biển từ Côn Đảo đi về phía Bắc và phía Nam. Ngược lại,
vùng biển này dễ dàng thu nhận nguồn phát tán từ các nơi khác. Do vậy, thành phần loài
sinh vật biển ghi nhận ở đây tương đối đa dạng. Cho đến nay, đã phát hiện 285 loài san hô
cứng, 202 loài cá, 153 loài thân mềm, 130 loài giun nhiều tơ, 110 loài giáp xác, 46 loài da
gai. TS Võ Sĩ Tuấn, phó viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang cho biết: Côn Đảo
được xếp vào vùng có độ đa dạng cao về giống loài của san hô tạo rạn. Thành phần thân
mềm cũng được coi là đa dạng nhất khi so sánh với các quần đảo lớn khác ở Việt Nam.
Về đa dạng sinh thái, vùng nước nông Côn Đảo có cả rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng
ngập mặn. Trong đó, rạn san hô quần cư là khá phổ biến, có thể tìm thấy ở hầu hết vùng
ven đảo. Loại rạn riềm điển hình chiếm đến 59%, chứng tỏ rạn san hô này có điều kiện phát
triển trong một thời gian dài. Cỏ biển tuy không phân bố rộng nhưng tập trung trên diện
tích tích lớn, khoảng trên 200ha. Đa dạng sinh thái tạo điều kiện cho sự phát triển của các
loài sinh vật quý hiếm. Nghiên cứu về môi trường biển cho thấy chưa có sự ô nhiễm biển ở
đây.
Hiện nay, Côn Đảo là vùng có nhiều rùa biển nhất ở Việt Nam, với hai loài thường gặp là
đồi mồi và tráng đông. Có 17 bãi cát được ghi nhận là bãi đẻ của rùa, trong đó có đến bốn
bãi được ghi nhận là có
1.000 rùa mẹ lên đẻ hàng năm. Côn Đảo cũng là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại một
quần thể bò biển (Dugong dugong) có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển.
Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa nguồn lợi ven biển và các hệ sinh
thái nước nông Côn Đảo. Dù sao, cùng với sự tồn tại của rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng
ngập mặn và mối quan hệ sinh thái giữa chúng là môi trường thuận lợi cho sự sinh sản,
ươm giống của nhiều nguồn lợi. Các nghiên cứu của Viện Hải dương học về trứng cá, cá
bột ở VQG Côn Đảo cho thấy số lượng trứng cao hơn rất nhiều lần so với các vùng biển
khác của Việt Nam.
động vật rừng trái phép, lấn chiếm đất rừng; diện tích đất rừng sau khi xử lý thực bì và làm
đất trồng rừng cũng như các tuyến đường đất
thường bị rửa trôi xói mòn đất vào mùa mưa
làm tăng lượng phù sa bồi lắng ở các hệ
thống sông suối và hồ đập; sự vận
hành của các phương tiện cơ giới gây tiếng
động, làm cho các loài động vật hoang dã
phải di chuyển sang nơi khác ... Hình 2.7 gổ lớn bị khai thác lậu
2.3.2 Săn bắt, buôn bán trái phép động vật rừng
Việc săn bắt động vật hoang dã trái phép vì mục đích thương mại như chế biến thức ăn đặc
sản, dược liệu, nuôi làm cảnh, cũng như săn bắt do nhu cầu của người dân sống gần rừng,
việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản mang tính huỷ diệt tại các thuỷ vực như sử dụng thuốc
nổ, dùng lưới có mắt lưới quá nhỏ… đã làm
cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của
nhiều loài. Ở một số vùng, săn bắt quá mức làm
cho quần thể sinh sản của các loài
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 23
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN THỊ THỦY
động vật hoang dã thu nhỏ lại và phân tán rải rác, dễ bị tổn thương do bệnh tật hay tác động
từ các loài ngoại lai xâm lấn. Các cơ hội phục hồi HST tự nhiên cũng sẽ làm giảm đi, đặc
biệt đối với các loài bị săn bắn có chức năng giúp phát tán hạt giống hay thụ phấn
Hình 2.8 thu giữ động vât bị giết
2.3.3 Tình hình đánh bắt thủy sản
Theo tính toán của ngư dân, đánh bắt vùng ven bờ tuy không đem lại hiệu quả kinh tế cao
nhưng tiêu hao ít nhiên liệu, mỗi chuyến biển ít nhiều gì cũng có lời, chứ không bị lỗ. Thực
tế đó đã đưa nghề cá đi ngược lại định hướng phát triển chung. Ông Nguyễn Văn Ngọc,
ngư dân phường 12 (TP. Vũng Tàu) cho biết: Tại khu vực Cửa Lấp thuộc các phường 11 và
12 (TP. --Vũng Tàu) cho tới các tuyến sông Dinh, sông Thị Vải... trung bình mỗi ngày có
khoảng 30-40 chiếc tàu đánh bắt, tàu nào đi lâu nhất cũng chỉ có 3-5 ngày là về, số tàu nhỏ
đánh bắt theo buổi cũng tăng lên gấp 2-3 lần. “Cá thì ít tàu thì nhiều, tranh nhau đánh riết
được 07 sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH, tuy nhiên vấn đề này đang gặp rất nhiều khó
khăn vì lượng CTNH sản sinh từ các doanh nghiệp không nhiều, và trên địa bàn tỉnh cũng
chưa có đơn vị nào có khả năng thu gom và xử lý.
2.3.4.3 Thu gom và xử lý chất thải rắn y tế
CTRYT chưa được thu gom xử lý tập trung, tuy nhiên tại các cơ sở y tế việc phân loại
CTRYT tại nguồn bước đầu đã được thực hiện, nhưng phương thức xử lý chủ yếu bằng
biện pháp chôn lấp.
2.3.4.4 Chất thải rắn trong sản xuất nông nghiệp
Chất thải rắn nông nghiệp sau thu hoạch – CTRSTH, hầu hết là loại phế thải có thể tận
dụng do chứa các thành phần dinh dưỡng, các chất hữu cơ và vô cơ có ích, rất dễ bị thối rữa
và phân huỷ gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, khối lượng CTRSTH thải ra rất lớn, nhưng
chỉ một phần nhỏ được tận thu, số còn lại hầu hết chưa được quan tâm đúng mức, thiếu
vốn, thiếu công nghệ, kỹ thuật,…trong quá trình xử lý và tận thu.
SVTH : NGÔ NGỌC CHÍNH TRANG: 25