LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những yếu tố cần được quan tâm hàng đầu của một doanh nghiệp
đó là yếu tố con người. Đây là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp, và quan trọng hơn cả đó chính là nhà lãnh đạo. Người lãnh đạo là
người quyết định đường đi phương hướng của doanh nghiệp. Họ chịu trách nhiệm
về hoạt động của công ty. Khi không thuận lợi thì họ là người phải chịu trách
nhiệm đầu tiên. Thật không dễ để có thể trở thành một nhà lãnh đạo theo đúng
nghĩa của nó. Một nhà lãnh đạo theo đúng nghĩa của nó. Đúng vậy, đó là một
người có khả năng nhìn xa trông rộng, một người biết sử dụng người đúng lúc
đúng chỗ, một người biết dẫn dắt các thành viên còn lại đi đến thành công, họ biết
nhìn... và hơn cả đó là họ xây dựng được một phong cách lãnh đạo riêng của mình.
Một phong cách lãnh đạo riêng mang hơi hướng cá nhân của chính họ khi đã dựa
trên những nền tảng những cái có sẵn của tinh hoa văn hóa nước nhà. Đó là việc họ
xây dựng cho mình một hình ảnh riêng, một thương hiệu riêng và hình ảnh của họ
là đại diện cho cả một doanh nghiệp hay một nhãn hàng nổi tiếng nào đó. Mỗi nhà
lãnh đạo phải xây dựng một phong cách lãnh đạo riêng của mình. Xây dựng phong
cách lãnh đạo để làm gì? Nó có tác dụng như thế nào đối với nhà lãnh đạo cũng
như doanh nghiệp? Đây là một câu hỏi lớn cần được chúng ta nghiên cứu và giải
đáp. Đó cũng là lý do lớn mà nhóm 3 quan tâm và đã đi tìm hiểu sâu và kĩ hơn về
phong cách lãnh đạo của một số nhà lãnh đạo – những nhân vật điển hình của thế
giới từ trước đến nay.
CHƯƠNG I: STEVEN JOBS
I.
Sơ lược tiểu sử của Steven Jobs
Steven Paul Jobs (24/2/1955 - 5/10/2011) là một nhà quản trị và doanh nhân nổi
tiếng người Mỹ. Ông là một trong những người sáng lập của hãng Apple và là một
trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính. Trước đây
Là một nền văn hóa đa dạng của nhiều chủng tộc.
Kiểm sóat trực tiếp đối với môi trường: Văn hóa Mỹ mang tính năng động
cao: Họ quan niệm là con người có thể kiểm soát đối với tự nhiên, có thể làm
thay đổi số phận chứ không phụ thuộc vào số phận. Họ đánh giá thành tựu cá
nhân, những người luôn vươn lên. Họ có định hướng tương lai, nghĩ về tương
b)
lai
Quan niệm về sự thay đổi: (change): Thay đổi là tốt. Nếu không thay đổi con
người rất dễ bị trì trệ: (stagnate). Giá trị đối lập: tôn trọng truyền thống, sự ổn
định. Ông luôn thay đổi theo ý muốn của bản thân mặc cho người xung quanh
phản đối thế nào đi nữa. Ông cảm thấy thay đổi sẽ đem lại sự khác biệt cho
mình và quan điểm đấy của ông là đúng khi ông áp dụng cái đó và việc kinh
c)
doanhh của mình
Kiểm sóat đối với thời gian: (control over time): Con người bị áp lực của thời
gian, làm việc theo lịch và thời khóa biểu: giờ nào việc đó rõ ràng. Steve jobs
luôn yêu cầu cao các nhân viên trong công việc như thời gian, công việc và tỉ
mỉ trong mọi khâu của việc để đưa ra một sản phẩm mới. Ông luôn muốn mọi
d)
thứ phải hoàn hảo và vô hình dung đã tạo áp lực lên nhân viên của chính mình
Chủ nghĩa cá nhân và sự riêng tư: các nhu cầu của mỗi cá nhân và sự riêng tư
được đề cao đúng mức. Văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tự do cá nhân : bắt nguồn
từ lịch sử hình thành nước Mỹ: từ những di dân châu Au nghèo hoặc bị xua
thông tin đó lọt ra ngoài.
Không những thông tin về các sản phẩm sắp ra mắt được bảo vệ nghiêm ngặt,
mà ngay cả chủ đề có vẻ không mấy liên quan như sức khỏe của lãnh đạo cao cấp,
cũng bị kiểm soát chặt chẽ.
Ví dụ:
1)
Hồi đầu năm 2009, Jobs đã phải đi chữa bệnh chừng 6 tháng, và kể từ đó cho
tới khi vị CEO này quay trở lại làm việc, không ai trong Apple hay bên ngoài
biết về tình trạng sức khỏe thực sự của ông. Đại diện Apple luôn nói rằng, Jobs
vẫn khỏe, trong khi báo chí thì nói rằng ông phải phẫu thuật và có nhiều vấn đề
về sức khỏe. Còn nhân viên của Apple luôn tái mặt mỗi khi được hỏi về chủ đề
2)
này, bởi đơn giản đó là vấn đề quá nhạy cảm đối với họ.
Eigerman, một kỹ sư hệ thống đã từng có 4 năm làm việc cho Apple, đã bị sa thải
hồi năm 2005 bởi đồng nghiệp của anh dính vào một vụ tiết lộ bản thảo phần mềm
mới dành cho khách hàng. Điều đáng nói là Edward Eigerman không hề liên quan
tới vụ việc này, nhưng anh vẫn bị đuổi việc bởi đơn giản anh là bạn của thủ phạm.
3) Nỗi lo sợ còn lan tỏa trong những người có cơ hội kiểm thử sản phẩm của
Apple. Hồi tháng 7/2009, một công nhân người Trung Quốc đã nhảy lầu tự tử vì
đánh mất chiếc iPhone 4G.
a. Bí mật thái quá
- Có lẽ quy trình được bảo vệ nghiêm ngặt nhất tại Apple chính là kiểm thử sản
phẩm mới. Mọi thứ đều được bảo vệ ở mức tuyệt đối, thậm chí về mức độ an
-
thông tin về các sản phẩm sắp ra mắt. Hầu như tất cả những thông tin này đều là
giả. Apple sẽ theo dõi những thông tin đó có được tiết lộ ra ngoài hay không, và
chúng được dư luận đón nhận thế nào.
Chính vì thứ văn hóa kỳ quặc này mà không ít lần người ngoài phải khổ sở với
-
Apple. Còn nhớ năm 2004, Apple đã khởi kiện một loạt blog với cáo buộc rằng họ
đã vi phạm bí mật thương mại tiết lộ các sản phẩm mới của hãng.
Tuy nhiên, sau đó Tòa án bang California đã tuyên cho các blog kia thắng kiện và
-
buộc Apple phải trả tới 700.000 USD tiền án phí. Ngoài ra, Apple cũng nhiều lần
khởi kiện blogger Think Secret – chuyên đăng tin về các sản phẩm mới của Apple.
Nhiều người cho rằng chính những yếu tố bí mật trên đã làm nên sự hấp dẫn của
các sản phẩm Apple. Giới phê bình lại gọi đó là sự thiếu minh bạch, và cho rằng
nó có thể ảnh hưởng xấu tới tên tuổi của hãng này, nhất là trong thời buổi làm ăn
hiện nay khi sự minh bạch ngày càng trở nên quan trọng.
Phong cách lãnh đạo
III.
Steve Jobs được cả thế giới biết đến nhờ vào tài năng cũng như hững thành
công mang lại cho Apple. Và phong cách làm việc mà ông chọn đó chính là độc
đoán
phần họ đã bị Jobs thuyết phục.Kết quả là các kỹ sư và quản lý ở Apple lập tức chỉ
tập trung cao độ vào bốn lĩnh vực. Với mảng máy để bàn cao cấp, họ phát triển
Power Macintosh G3. Với mảng máy xách tay cao cấp họ phát triển PowerBook
G3. Với máy để bàn phổ thông, họ bắt đầu với thứ sau này trở thành iMac. Và cuối
cùng với máy xách tay phổ thông, họ tập trung vào thứ sẽ trở thành iBook. Chữ
“i”, Jobs giải thích, là để nhấn mạnh các thiết bị này sẽ được tích hợp chặt chẽ với
Internet. Sau 2 năm gây sửng sốt với việc thua lỗ, Apple lại có thể vui vẻ với một
quý lợi nhuận, kiếm được 45 triệu đô la. Trong cả năm tài chính 1998, nó trở thành
309 triệu đô la lợi nhuận. Jobs đã quay trở lại, và Apple cũng thế. Đó là minh
-
chứng cho sự quyết đoán của ông.
Ông thường không mảy may quan tâm tới người khác nghĩ gì về mình; ông có thể
-
đoạn tuyệt với người khác và không bao giờ nhìn tới họ lần nữa.
Cách đối xử với mọi người rất nỏng nảy, cũng xuất phát từ sự yêu thích hoàn hảo,
đơn giản, tính thế theo cách của Jobs. Ông không chấp nhận bất cứ sự không hoàn
-
thiện nào ở các sản phẩm và trong các công việc khác
IV.
Tác động đến doanh nghiệp
1. Tích cực
Phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs rất thích hợp ở công ty Apple, nơi
mà tập trung khá nhiều nhân tài về mọi mặt (kinh tế, kĩ thuật, nhân sự…) với nhiều
tính cách khá lập dị và có cá tính. Sự độc đoán sẽ giúp công nhân viên công ty có
-
mái, hiệu quả làm việc bị giảm sút.
Việc Jobs can thiệp vào tất cả mọi công việc từ việc lớn nhất đến việc nhỏ nhất
khiến nhân viên cảm thấy khó chịu, không thoải mái. Hơn nữa, việc này cũng làm
cho ông không có thời gian cũng như sự tập trung cần thiết để giải quyết những
vấn đề quan trọng.
Kết luận
Steven Jobs thực sự đã tạo nên thành công cho Apple, không ai có thể phủ
nhận tầm ảnh hưởng của Steven Jobs đối với công nghệ nói riêng và thế giới nói
chung trong thế kỷ 21 này. Những gì iPod, iPhone, iPad và MacBook đã làm được
thể hiện trực giác siêu việt và tầm nhìn xa rộng của ông.
Steve Jobs có 1 câu nói nổi tiếng: "Dân chủ không tạo nên những sản phẩm
tuyệt vời. Để làm được điều đó, anh cần một nhà độc tài thông thái". Câu nói này
đã thể hiện phong cách lãnh đạo độc đoán của ông. Steve Jobs tỏ thái độ hết sức
quyết liệt đối với ý kiến của các chuyên gia và chỉ hành động theo những nguyên
tắc của riêng mình, theo phong cách độc đoán, thậm chí đôi khi còn có thể gây hại,
khi ông kêu gọi sự kiến lập. Ông thường xuyên đẩy mạnh quyền lực độc đoán của
mình và vì thế đạt được những thành công đặc biệt. Nhưng bên cạnh đó cũng chính
vì phong cách lãnh đạo này đôi khi làm cho nhân viên cảm thấy áp lực và tạo môi
trường làm việc không thoải mái cho nhân viên của mình.
CHƯƠNG II: BILL GATES
I.
Sơ lược tiểu sử Của Bill Gates
Trong năm học thứ hai, Gates nghĩ ra thuật toán trong vấn đề sắp xếp bánh
kếp, bài toán được xếp vào một trong những vấn đề chưa giải được được nêu ra
trong lớp toán tổ hợp của giáo sư Harry Lewis, một trong những người thầy của
ông. Thuật toán của Gates đã giữ kỉ lục là thuật toán có thời gian giải nhanh nhất
trên 30 năm.
Gates không có kế hoạch học tập cụ thể ở Harvard và ông đã giành nhiều
thời gian bên cạnh các máy tính ở trường. chứng kiến sự ra đời của máy MITS
Altair 8800 trên nền vi xử lý Intel 8080, lúc này Gates và Allen nhận ra đây là cơ
hội cho họ sáng lập ra một công ty về phần mềm máy tính.
Năm 1975 ông đã nghỉ học ở trường Đai học Harvard và ông dành thời gian
cho việc thành lập Microsoft.
II. Môi trường văn hóa quốc gia
Văn hóa kinh doanh trong đàm phán.
−
Chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là một suy nghĩ chín chắn và bình tĩnh nó thúc đẩy mỗi
thành viên của cộng đồng tự phục vụ bản thân mình và tự tách mình ra khỏi gia
đình và bạn bè của mình, để khi tạo được chút ít gì đó cho bản thân, sẽ sẵn sang rời
bỏ xã hội nói chung.
Đó là lao động dựa trên ý chí mạnh mẽ của cá nhân, trên sự quan tâm tha thiết
đến bản thân từ đó tạo ra sức kích thích mạnh mẽ. Hoạt động kinh tế sôi động nhờ
sự sẵn sàng lao vào bất cứ hoạt động gì khả dĩ mang lại lợi nhuận. Luôn tìm kiếm
cơ hội để vươn cao hơn,…
−
Mạo hiểm và thực dụng.
III.
Bill
Phong cách lãnh đạo
Gates, một nhà lãnh đạo với phong cách lãnh đạo tự do.
Gates là một nhà lãnh đạo điển hình của sự pha trộn nhiều phong cách: độc
đoán, chuyên quyền, dân chủ và tự do. Trong trường hợp, từng tình huống mà Bill
Gates thể hiện các loại phong cách lãnh đạo khác nhau. Nó vừa tạo ra được sự uy
quyền quyết đoán nhất định của một nhà quản trị tài ba có nguyên tắc, vừa tham
khảo ý kiến của các thành viên khác, phát huy được khả năng và tính sáng tạo của
họ. Tuy phong cách tự do được ông thể hiện khá độc đáo điều này được thể hiện
trong cách quản lý của ông trong công ty:
1.
Ở Microsoft có quy định, các sếp không được phép viết ra các mã nguồn kém hơn
2.
nhân viên của mình.
Microsoft luôn đặt mục tiêu chiếm lĩnh toàn bộ 100% thị phần sản phẩm mà nó
đang bước vào. Tuy nhiên, đó phải là thị phần của số đông người dùng. Mục
tiêu này được thể hiện ở mọi quyết định, trong mọi cuộc họp, trong mọi khâu từ
phân tích, thiết kế đến sản xuất. Mục đích chung này đã cổ vũ mọi nhân viên
Microsoft gắn kết với nhau tạo nên một lực lượng hùng mạnh, có thể động viên
vào một cuộc chiến một mất một còn. Để thực hiện điều này, trong mọi cuộc
họp, câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất luôn là :"Chúng ta cần làm gì để tăng
3.
Tác động đến doanh nghiệp
1) Tích cực
Ra quyết định đơn phương hạn chế sự tham gia của cấp dưới, giảm bớt được
-
thời gian hội ý, thảo luận.
Tập trung quyền hạn tối đa trong tay người lãnh đạo. Nhằm ra quyết định một
-
cách nhanh chóng và kịp thời.
Không tham vấn nhân viên không cho phép ý kiến.
Giao nhiệm vụ bằng mệnh lệnh và chờ đợi sự phục tùng. Mọi thứ sẽ trở nên rõ
-
ràng, minh bạch hơn. Thể hiện sự phân chia đẳng cấp rõ rệt.
Giám sát chặt chẽ, sát sao quá trình thực hiện các nhiệm vụ để có những điều
-
chỉnh kịp thời.
Các nhân viên trong công ty thì sẽ luân nhận được những phần thưởng hoặc
IV.
những lời khen ngợi trước toàn thể công ty nhằm khích lệ tinh thần của họ. Đấy
là những gì các nhân viên tích cực đáng nhận được nhưng ngược lại trong một
KẾT LUẬN:
Bill Gates là một nhà lãnh đạo điển hình của việc pha trộn nhiều phong cách:
độc đoán, dân chủ, tự do. Ở đây, phong cách độc đoán của ông được thể hiện nhiều
hơn cả. Nó đem lại nhiều thành công cho Microsoft, góp phần đưa Microsoft trở
thành công ty phần mềm hàng đàu thế giới, với lợi nhuận hàng năm thu được cao
thứ 3 tại Mỹ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Microsoft cũng đã gặp phải không ít rủi ro
và thất bại, điều đó một phần là do sự lãnh đạo độc đoán của Bill Gates.
CHƯƠNG III: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
I. Giới thiệu về tiểu sử của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 2/9/1969) tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Người
sinh ra trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã
Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Là một nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong
những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn
vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20, một chiến sỹ cộng sản quốc tế.
- Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Người đã bắt
đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước hồi bấy
giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để cứu dân, cứu nước:
+ Tháng 6/1911, Người ra đi tìm đường cứu nước.
+ Năm 1917, thắng lợi vang dội của cách mạng tháng Mười Nga đã đưa Hồ
Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội pháp và hoạt động trong phong trào
công nhân Pháp.
+ Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ
phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản
+ Tháng 9/1960, đại hội lần thứ ba của Đảng đã họp, thông qua nghị quyết về
hai nhiệm vụ chiến lược và bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban chấp
hành Trung ương Đảng.
+Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
- Hồ Chí Minh đã được tạp chí Times bình chọn là một trong 100 người có ảnh
hưởng nhất của thế kỷ.
=> Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của
một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi
lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân,
vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và
công lý trên thế giới.
II. Môi trường văn hóa quốc gia
Vào thời kỳ Hồ Chí Minh mới từ nước ngoài trở về lãnh đạo phong trào cách
mạng Việt Nam thì lúc đó nước ta đang rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Nước
ta ba miền bắc, trung nam với ba chế độ hoàn toàn khác nhau. Bắc kỳ là chế độ
thuocj địa nữa phong kiến, trung kỳ là chế độ phong kiến, nam kỳ là chế độ thuộc
địa. Nhân dân ta phải sống trọng cảnh lầm than khốn khổ vô cùng.
Trước tình hình đó thì nhiệm vụ đặt ra là cần phải đánh đuổi thực dân Pháp , lật
đổ chế độ phong kiến thối nát và giành lại độc lập cho dân tộc cho đất nước.
Bác là người đã đi nhiều nơi và học hỏi được nhiều điều Bác tiếp thu chọn lọc
những tinh hoa văn hóa của các quốc gia Bác đã từng tới. Và hn cả đó làVăn
hóacủa Pháp.
Việt Nam lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp. Bác đã bôn ba nhiều nơi. song Bác
tìm hiểu rất kĩ về Pháp về kẻ thù của nước ta lúc bấy giờ để tìm đướng cứu nước và
ở đây Người đã tìm thấy con đường cứu nước. Người được tiếp xúc và học hỏi
được chủ nghĩ Mac-lê nin. đồng thời cuộc Cách Mạng tháng 10 Nga thành công
cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến Người lúc bấy giờ. Bác đã nhận ra một điều rằng
muốn các mạng Việt Nam thành công chỉ có con đường duy nhất đó là giải phóng
Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ,
đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân
dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành
nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ
và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt
của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước
để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí
của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn tại.
-
Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ
không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi
dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao
cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn
đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như
vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm
cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức
khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là
dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù
phiếm giả tạo
-
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong
tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách
nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân
thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người luôn
đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập
thích: "Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung".
Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức,
trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ
cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá
trớn, lợi dụng dân chủ để "kéo bè, kéo cánh", để làm rối loạn kỷ cương, để cầu
danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp
luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ
Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào,
phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm
của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với
nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ
chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là
người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên,
đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy
ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.
IV. Tác động đến cách mạng
1. Tích cực:
- Được sự ủng hộ của toàn bộ nhân dân.
- Tác phong tập thể – dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc
hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Hiệu quả công việc được tăng cao.
- Phát huy được mọi khả năng sáng tạo, làm nở rộ những tài năng, sáng kiến
của nhân dân, tạo ra những nguồn lực dồi dào cho tiến bộ và phát triển của đất
nước.
- Phát huy được sức mạnh tập thể, đoàn kết của toàn dân trong sản xuất, kháng
chiến giành độc lập dân tộc. Biểu hiện là dù kẻ thù xâm lược có mạnh đến đâu,
nhân dân ta đều có thể đánh bại.
Ngoại hình Hitler không có dáng lãnh tụ: ông chỉ cao có 1,75m – chưa đủ tiêu
chuẩn vào lính SS, chân nhỏ và dài, tóc lật trái, để bộ ria như một anh hề. Thế
nhưng ông cực kỳ có sức lôi cuốn, chủ yếu ở ánh mắt xuyên thấu tim gan người
-
-
khác và khí thế nói dồn ép người ta phải nghe theo. Hitler còn là nhà diễn
thuyết đại tài có một không hai trên thế giới. Hắn rất chú ý tập luyện và cải tiến
kỹ xảo nói, rất thạo kết hợp nói với động tác.
Học vấn: Vào năm 1895 Adolf Hitler được sáu tuổi, ông theo học một trường
công lập ở gần thị trấn Linz, nước Áo. Đến năm 11 tuổi, ông học trường trung
học ở Linz. Điểm số của Adolf Hitler ở trường trung học Linz kém đến nỗi ông
phải chuyển qua học trường công lập ở Steyr. Ông chỉ theo học trường này một
thời gian ngắn rồi bỏ dở, trước khi học xong chương trình.
Tóm tắt những mốc quan trọng trong cuộc đời
+ Thời trẻ, Hitler muốn trở thành một họa sĩ, nhưng chưa từng được thành công.
Hai lần thi vào khoa Hội hoạ của Học viện Nghệ thuật thành Viên đều rớt.
+ Năm 1918, Hitler xuất ngũ.
+ Năm 1919, khi 30 tuổi, Hitler đã tham gia vào một nhóm cánh hữu nhỏ ở
Munchen. Không lâu sau, nhóm này đổi tên thành Đảng Công nhân Đức Quốc gia
Xã hội chủ nghĩa, gọi tắt là Đảng Nazi.
+ Năm 1921, Hitler trở thành người lãnh đạo của Đảng này. Hitler công khai
tuyên truyền tư tưởng độc tài, chống cộng, chống Do Thái, đề cao quan điểm
chủng tộc Đức ưu việt.
+ Năm 1929, cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới nhấn chìm nước Đức trong
nạn lạm phát, thất nghiệp, chia rẽ, rối loạn, mất niềm tin. Giữa lúc đó Hitler đưa ra
của các giá trị văn hóa đã có từ lâu đời. Nó ảnh hưởng rất lớn đến tính cách con
người Đức, đến phong cách sống cũng như phong cách lãnh đạo của các nhà quản
trị…Qua đó, đã tạo nên những con người xuất sác nhất của nước Đức nói riêng
cũng như cả thế giới nói chung.
Hầu hết các nước trên thế giới đều cho rằng, nước Đức bao giờ cũng nằm
trên đường đi của người khác và đi đâu người ta cũng gặp người Đức. Nhưng
thật là đáng ngạc nhiên khi láng giềng gần xa hiểu biết người Đức rất ít. Bởi
thiện chí của mọi người đối với người dân Đức không được mấy thiện cảm.
Người Anh gọi họ là krauts, vào thời nước Đức Quốc Xã chiếm đóng Pháp,
người Pháp đã gọi họ là sales boches và người Nga thì hay dùng từ fritzi. Tất cả
những từ đó đều không có ý thương mến mà trái lại phản ánh nhiều thành kiến
– rất đáng tiếc là có lý do. Phải công nhận rằng nước Đức và người Đức không
thuộc vào trong số những quốc gia và dân tộc mang lại thiện cảm ngay từ cái
nhìn đầu tiên bởi vẻ lạnh lùng, thiếu hòa đồng. Tuy nhiên, ẩn khuất đằng sau vẻ
ngoài cứng rắn, lạnh lùng ấy thường là một tâm hồn thân thiện, đã chịu nhiều
tổn thương vì thường hay bị người khác hiểu lầm, so sánh dẫn đến có chút kì
thị. Tạo độ tự ti, hoài nghi nhất định đối trong suy nghĩ của họ về dấu ấn của
người khác đối với mình như thế nào? Do vậy mà họ quá phức tạp, quá mâu
thuẫn trong một con người và cũng sẽ quá khó gần khi gặp lần đầu. Và tực ra
thì ở đâu cũng có người này người kia, khó có một kết luận chung về tính cách
người Đức được. Nhưng người Đức chỉ lạnh lùng ở cái vẻ bề ngoài khi chưa
quen biết ai đó. Sau khi tiếp xúc nhiều thì chúng ta sẽ thấy họ rất thân thiện, dễ
gần, tốt bụng và sống có kỷ luật cao. Một khi họ đã quý ai thì sẽ quý rất thật
lòng. Đó là đặc điểm trong lối sống của người Đức.
Tuy nhiên, khi nhìn thoạt nhắc tới, bạn sẽ cảm thấy đất nước này gần như
chán ngắt, tất cả đều có vẻ quá trật tự, sạch sẽ và kỷ luật. Dường như là người
Đức đã siêng năng sưu tập tất cả những định kiến tốt trong khía cạnh này dành
cho họ và chúng được thực hiện một cách tỉ mỉ từng tí một. Bên cạnh đó, nước