XÂY DỰNG CÁC MÔ ĐUN CHUYỂN ĐỔI VÀ CUNG CẤP DỮ LIỆU CHO HỆ THỐNG TÍCH HỢP VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN MẠNG CÁP THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
*************
ĐỒ ÁN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
XÂY DỰNG CÁC MÔ ĐUN CHUYỂN ĐỔI VÀ CUNG CẤP DỮ LIỆU
CHO HỆ THỐNG TÍCH HỢP VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN MẠNG
CÁP THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Hữu
Lớp: HTTT – K50
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Hữu Đức
HÀ NỘI 6-2010
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
Lời cảm ơn
Đồ án tốt nghiệp là một cột mốc rất quan trọng trong cuộc đời mỗi sinh
viên, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng rất to lớn.
Để làm được đồ án này, đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
các thầy giáo tại Trung tâm Tính Toán Hiệu Năng Cao – Đại học Bách Khoa
Hà Nội : PGS.TS Nguyễn Thanh Thuỷ, TS Nguyễn Hữu Đức. Các thầy đã
tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất và tinh thần cho chúng em nghiên cứu học
tập. Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Đức, người trực tiếp hướng
dẫn em thực hiện đề tài này. Thầy đã tận tình chỉ bảo, định hướng cho em
trong quá trình làm đồ án.
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ hướng dẫn tại trung
tâm: Ths Phạm Tuấn Anh , Cử nhân Đào Quang Minh, KS Lê Đức Tùng,
các anh đã cho em cơ hội được nghiên cứu học tập tại trung tâm, đã chỉ bảo,
giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực tập tại trung tâm.
Em xin chân thành cảm ơn Trung tâm Bưu điện Hà Nội, Trung tâm
điều hành điện lực quận Ba Đình đã cung cấp cho em các tài liệu quý báu về

Chương 3. Phân tích hiện trạng dữ liệu mạng cáp từng đơn vị...............................................58
3.1 Hiện trạng dữ liệu mạng cáp điện lực Ba Đình..........................................................................58
3.2 Hiện trạng dữ liệu mạng cáp viễn thông Hà Nội........................................................................62
Chương 4. Xây dựng các mô đun chuyển đổi dữ liệu dữ liệu mạng cáp................................65
4.1 Mô hình lưu trữ thống nhất trên Mysql.....................................................................................65
4.2 Xây dựng mô đun chuyển đổi dữ liệu mạng cáp điện lực Ba Đình............................................66
4.3 Xây dựng mô đun chuyển đổi dữ liệu mạng cáp viễn thông Hà Nội..........................................71
Chương 5. Xây dựng các dịch vụ cung cấp dữ liệu.................................................................76
5.1 Vị trí của các dịch vụ trong bài toán tích hợp thông tin.............................................................76
5.2 Dịch vụ cung cấp dữ liệu điện lực Ba Đình.................................................................................77
5.3 Dịch vụ cung cấp dữ liệu viễn thông Hà Nội...............................................................................78
Chương 6. Kết luận...................................................................................................................84
6.1 Thử nghiệm và đánh giá.............................................................................................................84
6.2 Kết luận và hướng phát triển đề tài...........................................................................................90
Tài liệu tham khảo....................................................................................................................92
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 3
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 4
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
Chương 1. Giới thiệu
1.1 Thực trạng mạng cáp thành phố Hà Nội và các vấn đề đặt ra cho bài
toán tích hợp thông tin mạng cáp
1.1.1. Thực trạng mạng cáp thành phồ Hà Nội
Cùng với cả nước, thủ đô Hà Nội đang ngày càng phát triển với hạ tầng
cơ sở hiện đại, đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Nhiều năm qua,
Hà Nội đã và đang cố gắng để xây dựng hình ảnh một thủ đô văn minh, sạch
đẹp, xứng đáng là trái tim của cả nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hình ảnh
đang tồn tại làm xấu đi bộ mặt của thủ đô thanh lịch. Một trong số đó là hình
ảnh những cây cột điện nối nhau cùng vô số dây nhợ chằng chịt xuất hiện trên
khắp các con phố lớn, nhỏ.

dây trên mỗi cột điện lại tăng lên đáng kể. Theo con số thống kê tương đối,
40% số dây và cáp trên cột điện là vô chủ, những chiếc cột điện hàng ngày
vẫn oằn mình với đủ loại rác thải trên vai, là nguy cơ gây ra bao nguy hiểm
cho cuộc sống người dân Hà Nội.
Có một thực tế là từ khi có chủ trương ngầm hóa các tuyến cáp đến khi
bắt tay vào quá trình thực hiện, các cơ quan, doanh nghiệp đều chung một ý
kiến: đây là công việc quá khó khăn. Cụ thể, doanh nghiệp cho rằng không có
đường cống ngầm, gặp nhiều rắc rối về giấy tờ khi thi công; các cơ quan quản
lý lại quy cho doanh nghiệp làm ăn không có kế hoạch nên công việc ngày
càng khó khăn, dang dở. Bản thân những cơ quan chủ lực như xây dựng, giao
thông công chính cũng bị gặp khó khăn trong việc quy hoạch mà trên thực tế
là chưa có biện pháp khả quan nào để thực hiện.
Dẫn chứng cho điều này, đại diện Viettel cho biết: Viettel đã ngầm hóa
cáp theo chỉ đạo của UBND TP.Hà Nội. Tuy nhiên, doanh nghiệp này mới
triển khai được ở rất ít các tuyến phố. Lý do là VNPT cũng không muốn chia
sẻ hạ tầng, thậm chí không ít các cơ quan thuộc thành phố lại gây khó dễ
trong quá trình thực hiện đàm phán với người dân, các ngành khác. Đại diện
EVN Telecom cũng cho biết quá trình xin phép và đàm phán là cực kỳ khó
khăn do thủ tục rườm rà và thời gian cấp phép kéo dài.
Về phần mình, các cơ quan cũng phản biện là nếu không cấp phép thì
doanh nghiệp dễ làm lung tung, lộn xộn và gây ảnh hưởng đến các công trình
khác cũng như đời sống dân cư.
Nói tóm lại, cả cơ quan chức năng và doanh nghiệp đều đang rất lúng
túng trong việc giải bài toán khó mang tên Ngầm hóa các tuyến dây cáp trên
đường phố Hà Nội. Người dân sẽ còn phải tiếp tục sống chung với cột điện
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 6
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
dài dài và cảnh tắc đường do các doanh nghiệp đào bới vỉa hè để “hạ ngầm”
tuyến cáp cũng như những vụ tắc đường, tai nạn giao thông do dây dợ chằng
chịt vẫn sẽ tiếp tục diễn ra.

Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
thông tin sau đó được tổng hợp lại và trả lại kết quả cho người truy vấn trên
giao diện Web.
1.2 Giới thiệu hệ thống tích hợp mạng cáp thành phố Hà Nội
Qua thời gian thu thập thông tin và phân tích thực trạng hệ thống mạng
cáp thành phố Hà Nội, nhóm sinh viên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Thanh Thủy và TS Nguyễn Hữu Đức đã đề xuất một hướng giải
quyết mới cho bài toán quản lý hệ thống mạng cáp chằng chịt tại thủ đô Hà
Nội.
Nhóm đề xuất xây dựng một hệ thống tích hợp và khai thác thông tin
chung cho các đường cáp đang tồn tại trên địa bàn thành phố Hà Nội.Hệ
thống được xây dựng với giao diện Web, thông tin trên trang Web sẽ được
liên tục cập nhật từ các nhà cung cấp thông tin ( các đơn vị sở hữu đường cáp
trên địa bàn thành phố Hà Nội). Trên cổng thông tin, người sử dụng có thể
đăng nhập và truy vấn, tìm kiếm các thông tin về đường cáp được hiển thị
trực quan trên bản đồ số Google Maps.
Hình 1-1 : Mô hình tổng quan hệ thống mạng cáp
Đối với đối tượng nhà cung cấp, họ có thể đăng ký cung cấp thông tin
về đường cáp mà họ quản lý và thu về lợi nhuận dựa trên số thông tin mà
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 8
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
người sử dụng đã truy vấn của họ. Nguyên tắc hợp tác như trên sẽ giúp mang
lại lợi ích cho các bên tham gia và đem lại hiệu quả cao hơn. Với sự tham gia
của nhiều nhà cung cấp, trang Web sẽ mang đến một lượng thông tin tương
đối đầy đủ và chính xác về các đối tượng cáp trên từng tuyến phố của thủ đô
Hà Nội bao gồm tọa độ đường cáp và thuộc tính của đường cáp. Những thông
tin này sẽ hết sức hữu ích cho công tác quản lý, quy hoạch và hạ ngầm các
đường cáp trong tương lai của các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, hệ thống
còn là một kênh thông tin tham khảo hữu ích đối với các đối tượng nhà đầu tư
khi triển khai dự án như phạm vi dự án có tuyến cáp nào chạy qua cần phải

 Các mô đun cung cấp dữ liệu sẽ cung cấp các truy vấn đến dữ liệu
cho hệ thống dưới dạng các dịch vụ Web
- Mô đun cung cấp dữ liệu được thực hiện dưới dạng các
Webservice chứa các dịch vụ ứng với từng đối tượng của đơn
vị tham gia
Đồ án được thực hiện với 6 chương:
- Chương 2: Giới thiệu về các công nghệ nền tảng phục vụ cho các mô
đun chuyển đổi và dịch vụ cung cấp dữ liệu bản đồ bao gồm: Mapinfo,
Mysql GIS Extension, Webservice, Mitab
- Chương 3: Giới thiệu về hiện trạng dữ liệu mạng cáp của điện lực Ba
Đình và viễn thông Hà Nội. Dữ liệu được lưu bởi các công nghệ khác
nhau và chuẩn dữ liệu khác nhau
- Chương 4: Với hiện trạng dữ liệu của từng đơn vị đã phân tích ở
trên,ta xây dựng các mô đun chuyển đổi dữ liệu mạng cáp của từng đơn
vị về mô hình dữ liệu thống nhất trên Mysql GIS
- Chương 5: Dựa vào mô hình dữ liêu thống nhất xây dựng ở chương 4,
ta xây dựng các mô đun cung cấp dữ liệu cho hệ thống của tại từng đơn
vị dưới dạng các Webservice
- Chương 6: Đưa ra kết quả thử nghiệm và hướng phát triển cho bài
toán.
Chương tiếp theo, ta sẽ tìm hiểu về các công nghệ sử dụng để xây dựng
hệ thống, mô đun chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 10
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
Chương 2. Các công nghệ nền tảng
2.1 Kiến trúc hướng dịch vụ
2.1.1Các nguyên tắc trong kiến trúc hướng dịch vụ
Nguyên tắc phân định rạch ròi giữa các dịch vụ
Các dịch vụ thực hiện quá trình tương tác chủ yếu thông qua thành
phần giao tiếp. Thành phần giao tiếp này sẽ qui định về những định dạng

đune với nhau. Có hai loại coupling là rời (loose) và chặt (tight). Các mô đune
có tính loose coupling có một số ràng buộc được mô tả rõ ràng trong khi các
mô đune có tính tight coupling lại có nhiều ràng buộc không thể biết trước.
Hầu như mọi kiến trúc phần mềm đều hướng đến tính loose coupling giữa các
mô đune. Mức độ kết dính của mỗi hệ thống ảnh hưởng trực tiếp đến khả
năng chỉnh sửa hệ thống của chính nó. Kết dính càng chặt bao nhiêu thì càng
có nhiều thay đổi liên quan cần chỉnh sửa ở phía sử dụng dịch vụ mỗi khi có
thay đổi nào đó xảy ra. Mức độ coupling tăng dần khi khi bên sử dụng dịch vụ
càng cần biết nhiều thông tin ngầm định của bên cung cấp dịch vụ để sử dụng
dịch vụ được cung cấp. Nghĩa là nếu bên sử dụng dịch vụ biết vị trí và chi tiết
định dạng dữ liệu của bên cung cấp dịch vụ thì quan hệ giữa hai bên càng
chặt. Ngược lại, nếu bên sử dụng dịch vụ không cần biết mọi thông tin chi tiết
của dịch vụ trước khi triệu gọi nó thì quan hệ giữa hai bên càng có tính loose
coupling.
SOA hỗ trợ loose coupling thông qua việc sử dụng hợp đồng và liên kết
(contract and binding). Một người sử dụng truy vấn đến nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin dịch vụ (registry) để lấy thông tin về loại dịch vụ cần sử dụng.
Registry sẽ trả về tất cả những dịch vụ thoải tiêu chuẩn tìm kiếm. Từ bây giờ
người dùng chỉ việc chọn dịch vụ mà mình cần, và thực thi phương thức trên
đó theo mô tả dịch vụ nhận được từ registry. Bên sử dụng dịch vụ không cần
phụ thuộc trực tiếp vào cài đặt của dịch vụ mà chỉ dựa trên hợp đồng mà dịch
vụ đó hỗ trợ.
Tính loose coupling giúp gỡ bỏ những ràng buộc điều khiển giữa những hệ
thống đầu cuối. Mỗi hệ thống có thể tự quản lý độc lập nhằm tăng hiệu suất,
khả năng mở rộng và khả năng đáp ứng cao. Những thay đổi cài đặt cũng
được che dấu đi. Loose coupling đem đến sự độc lập giữa bên cung cấp và
bên sử dụng nhưng nó đòi hỏi các interface phải theo chuẩn và cần một thành
phần trung gian quản lý, trung chuyển yêu cầu giữa các hệ thống đầu cuối.
2.1.2.2 Sử dụng lại dịch vụ
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 12

cần tập trung vào quy trình nghiệp vụ trong khi nhóm điều hành và nhóm hỗ
trợ tập trung vào các luật kết hợp.
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 13
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
2.1.2.4 Coarse granularity
Khái niệm granularity trong dịch vụ có thể hiểu theo hai cách. Đầu tiên,
nó được hiểu trong phạm vi toàn bộ kiến trúc cài đặt của dịch vụ. Thứ hai, nó
được hiểu trong phạm vi từng phương thức của từng interface triển khai. Mức
độ granularity cũng được hiểu ở mức tương đối. Ví dụ, nếu một dịch vụ cài
đặt tất cả chức năng của một hệ thống ngân hàng, chúng ta xem nó là coarse-
grained. Nếu nó hỗ trợ chỉ chức năng kiểm tra thể tính dụng, chúng ta lại xem
nó là fine-grained.
Trước khi có kiến trúc thành tố và dịch vụ, các hệ thống phân tán chủ yếu dựa
trên ý tưởng phân tán đối tượng. Những hệ thống phân tán đối tượng chứa bên
trong nó nhiều đối tượng fine-grained trao đổi thông tin với nhau qua mạng.
Mỗi đối tượng có những ràng buộc với nhiều đối tượng khác bên trong hệ
thống. Do truy cập đến một đối tượng phải qua nhiều trung gian mà hiệu quả
đạt được không cao nên khuynh hướng thiết kế hệ thống phân tán đối tượng
đang dần chuyển sang thiết kế các coarser-grained interface.
Hình 2-1 Các đối tượng fine-grained
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 14
Distributed
object
Distributed
object
Distributed
object
Distributed
object
Distributed

SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 15
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
Kiến trúc hướng dịch vụ nhấn mạnh đến khả năng cộng tác
(Interoperability), khả năng mà các hệ thống có thể giao tiếp với nhau trên
nhiều nền tảng và ngôn ngữ khác nhau. Mỗi dịch vụ cung cấp một interface
có thể được triệu gọi thông qua một dạng kết nối. Một kết nối gọi là
interoperable chứa bên trong nó một giao thức và một định dạng dữ liệu mà
mỗi client kết nối đến nó đều hiểu. Interoperability is achieved bằng cách hỗ
trợ các giao thức và định dạng dữ liệu chuẩn của dịch vụ và các client. Kỹ
thuật này đạt được bằng cách ánh xạ mỗi tính chất và ngôn ngữ qua một đặc
tả trung gian. Đặc tả trung gian sẽ chịu trách nhiệm ánh xạ giữa định dạng của
dữ liệu khả kết (interoperable) đến định dạng dữ liệu tùy thuộc vào nền tảng
hệ thống. Ví dụ Web Service là một đặc tả trung gian cho giao tiếp giữa các
hệ thống, JAX-RPC và JAXM chuyển đối tượng dạng Java thành SOAP.
2.1.2.6 Tự động dò tìm và ràng buộc động
SOA hỗ trợ khái niệm truy tìm dịch vụ (service discovery). Một người
sử dụng cần đến một dịch vụ nào đó có thể tìm kiếm dịch vụ dựa trên một số
tiêu chuẩn khi cần. Người sử dụng chỉ cần hỏi một registry về dịch vụ nào
thoả yêu cầu tìm kiếm. Ví dụ, một hệ thống chuyển khoảng (consumer) yêu
cầu một registry tìm tất cả các dịch vụ có khả năng kiểm tra thẻ tín dụng.
Registry trả về một tập các entry thoả yêu cầu. Các entry chứa thông tin về
dịch vụ, bao gồm cả phí giao dịch. Bên sử dụng sẽ chọn một dịch vụ có phí
giao dịch thấp nhất trong danh sách các dịch vụ trả về, kết nối đến nhà cung
cấp dịch vụ đó dựa trên thông tin registry entry để sử dụng dịch vụ kiểm tra
thẻ tín dụng. Trong phần mô tả dịch vụ kèm theo đã có tất cả các tham số cần
thiết dùng để thực thi dịch vụ, bên sử dụng chỉ cần định dạng dữ liệu yêu cầu
đúng theo mô tả cung cấp và gửi đi. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thực thi kiểm trả
thẻ tín dụng và trả về một thông điệp có định dạng đúng như trong phần mô tả
dịch vụ. Mối ràng buộc duy nhất giữa bên cung cấp và bên sử dụng là bản
hợp đồng được cung cấp bởi registry trung gian. Mối ràng buộc này là ràng

Nói đến SOA là nói đến ‘tiết kiệm’- cả tiết kiệm chi phí lẫn thu được
giá trị nhiều hơn từ các hệ thống có sẵn. Hẳn cũng phải có lý do để hàng trăm
tập đoàn đã chú ý đến SOA như một giải pháp tích hợp nhằm giảm giá thành
của một đề án một cách rất ấn tượng.
 Sử dụng những thành phần có sẵn
Một trong những lợi ích rõ ràng nhất của SOA là nó giúp các công ty
thu được giá trị nhiều hơn bằng cách sử dụng lại những tài nguyên sẵn có; kết
quả là giảm chi phí cho phần kiến trúc và tích hợp. Ngoài ra nó còn giúp giảm
chi phí mua phần mềm mới. Thời gian viết chương trình lấy dữ liệu từ máy
chủ trước đây được tính bằng tháng thì bây giờ chỉ còn tính bằng phút. Nhiều
phần mềm doanh nghiệp đã phát triển thành những nhóm phần mềm tách biệt
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 17
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
(funtional silos), thông thường là tương ứng với mỗi đơn vị kinh doanh. Ví dụ
một công ty bán lẻ có thể có một nhóm phần mềm cho hệ thống phân phối,
một nhóm phần mềm cho hệ thống lưu kho và một nhóm phần mềm cho
những chức năng liên kết. Thông thường những nhóm phần mềm này đựơc
phát triển trên nhiều nền tảng khác nhau, sử dụng nhiều ngôn ngữ lập trình
khác nhau và thường có nhiều tính năng lặp lại giữa chúng. Một hệ thống
SOA cho phép các công ty tránh tình trạng lặp dư thừa, tạo ra những đơn thể
dịch vụ chia sẻ giữa các ứng dụng.
Trong một hệ thống SOA, chỉ cần thay đổi duy nhất một phiên bản của
dịch vụ cần được thay đổi và chỉ cần kiểm thử một lần, sử dụng những kỹ
năng tương ứng với những kỹ năng đã dùng để phát triển dịch vụ. Lợi ích rõ
ràng nhất là giảm chi phí bảo trì phần mềm. Ngoài ra điều này còn giúp doanh
nghiệp chịu trách nhiệm nhiều hơn với những thay đổi về về mặt nghiệp vụ và
cho phép doanh nghiệp cập nhật những tính năng của nó nhanh hơn.
Bằng cách phân rã một ứng dụng thành những đơn thể dịch vụ nghiệp
vụ, sau đó cho những dịch vụ này liên kết lại với nhau, các hệ thống bây giờ
có thể sử dụng lại được các thành phần có sẵn, giảm chi phí phát triển từng

hệ thống SOA ta triệu gọi dịch vụ thông qua các interface theo một dạng thức
chuẩn nên giúp lập trình viên tránh được việc phải lặp lại công việc tạo mới
các service có khả năng hiểu tất cả những công nghệ được sử dụng bởi từng
dịch vụ trong hệ thống.
Thứ hai, trong trường hợp cần kết nối với các đối tác thương mại thì
những dịch vụ có tính loose-coupling, những interface chuẩn càng đem lại
nhiều lợi ích hơn. Với một hệ thống SOA, thật dễ dàng khi cung cấp một loạt
những dịch vụ ra bên ngoài cho một đối tác nào đó sử dụng. Nhờ tính độc lập
địa chỉ và công nghệ của SOA, đối tác kia không cần quan tâm đến dịch vụ
được cài đặt như thế nào, và nhờ các dịch vụ đã theo chuẩn giao tiếp nên đối
tác đó chỉ cần một lượng thông tin nhỏ vừa đủ để sử dụng dịch vụ. Tương tự
cho điều ngược lại, nếu đối tác đã xây dựng một hệ thống SOA thì việc đem
sử dụng chức năng một số dịch vụ của họ vào sử dụng bên trong hệ thống của
mình cũng trở nên dễ dàng và nhanh chóng. Đặc tính này của SOA hứa hẹn
tăng hiệu suất và tự động hoá.
Cuối cùng một lợi ích mà tính loose coupling mang lại là tăng khả năng
triển khai. Như đã phân tích ở trên, những thành phần có tính loose coupling
có thể được triệu gọi mà không cần biết chúng được cài đặt như thế nào mà
chỉ cần biết cách thức triệu gọi chúng thông qua một interface chuẩn. Vì vậy
chỉ cần bọc những thành phần sử dụng interface ứng dụng thành dạng dịch vụ,
ta đã có một đơn thể thành phần được sử dụng trong hệ thống SOA như
những dịch vụ bình thường khác.
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 19
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
 Thích ứng với những thay đổi trong tương lai
Các phương pháp tiếp cận truyền thống trong quy trình phát triển phần
mềm có thể mô tả ngắn gọn là người dùng mô tả họ cần gì – công ty phát triển
phần mềm – triển khai hệ thống theo yêu cầu. Quy trình này đôi khi gặp khó
khăn khi gặp những tình huống thay đổi không định trước. Với SOA, công ty
phát triển phần mềm có thể tạo nên những quy trình nghiệp vụ uyển chuyển,

UDDI hỗ trợ nhiều cấu hình khác nhau cho cùng một dịch vụ cung cấp bởi
nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Điều này cho phép chia tải và tăng
tính tin cậy bởi vì service directory có thể tìm kiếm một dịch vụ nào đó trên
tất cả các nhà cung cấp dịch vụ hiện có.
2.1.4.2 Service broker
Một bộ trung gian làm việc giữa dịch vụ cung cấp và dịch vụ tiêu thụ.
Trong mô hình cơ bản, tất cả những thông điệp đều được trung chuyển qua
service broker. Dịch vụ này có thể làm nhiều chức năng như định tuyến dựa
trên dữ liệu thông điệp, xử lý lỗi, chuyển đổi thông điệp, chia tải và lọc thông
tin. Nó cũng có thể cung cấp dịch vụ bảo mật, chuyển đổi giao thức, lưu vết
và các dịch vụ hữu ích khác. Tuy nhiên, service broker là nơi có thể xảy ra
hiện tượng nghẽn cổ chai và là điểm dễ bị hỏng hóc. Mô hình broker phân tán
là một bước cải tiến mới, ở đó mỗi nền tảng dịch vụ có một broker cục bộ cho
phép giao tiếp với một service broker trung tâm và giao tiếp trực tiếp với các
service broker cùng cấp ở các nền tảng dịch vụ khác.
2.1.4.3 Service bus
Đây là mô hình ra đời sau nhất trong 3 mô hình nhưng nó đã được sử
dụng trong các sản phẩm thương mại large-scale (như IBM, BEA). Service
bus cũng là mô hình có tính loose coupling nhất trong các mô hình, trong đó
các dịch vụ không kết nối trực tiếp với nhau. Đôi khi các service bus kết nối
với nhau thành một mạng các service bus.
2.2 Dịch vụ Web (Webservice)
2.2.1 Giới thiệu
Dịch vụ Web (Web Service) được coi là một công nghệ mang đến cuộc
cách mạng trong cách thức hoạt động của các dịch vụ B2B (Business to
Business) và B2C (Business to Customer). Giá trị cơ bản của dịch vụ Web
dựa trên việc cung cấp các phương thức theo chuẩn trong việc truy nhập đối
với hệ thống đóng gói và hệ thống kế thừa. Các phần mềm được viết bởi
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 21
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN

nhân với các thiết bị khác, các cơ sở dữ liệu và các mạng máy tính để tạo
thành một cơ cấu tính toán ảo mà người sử dụng có thể làm việc thông qua
các trình duyệt mạng.
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 22
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
Bản thân các dịch vụ này sẽ chạy trên các máy phục vụ trên nền
Internet chứ không phải là các máy tính cá nhân, do vậy có thể chuyển các
chức nǎng từ máy tính cá nhân lên Internet. Người sử dụng có thể làm việc
với các dịch vụ thông qua bất kỳ loại máy nào có hỗ trợ web service và có
truy cập Internet, kể cả các thiết bị cầm tay. Do đó các web service sẽ làm
Internet biến đổi thành một nơi làm việc chứ không phải là một phương tiện
để xem và tải nội dung.
Điều này cũng sẽ đưa các dữ liệu và các ứng dụng từ máy tính cá nhân
tới các máy phục vụ của một nhà cung cấp dịch vụ web. Các máy phục vụ này
cũng cần trở thành nguồn cung cấp cho người sử dụng cả về độ an toàn, độ
riêng tư và khả nǎng truy nhập.
Các máy phục vụ ứng dụng sẽ là một phần quan trọng của các web
service bởi vì thường thì các máy phục vụ này thực hiện các hoạt động ứng
dụng phức tạp dựa trên sự chuyển giao giữa người sử dụng và các chương
trình kinh doanh hay các cơ sở dữ liệu của một tổ chức nào đó.
Một số nhà quan sát ngành công nghiệp này cho rằng web service
không thực sự là một khái niệm mới và phản ánh một phần không nhỏ khái
niệm mạng máy tính vốn đã trở nên quen thuộc trong nhiều nǎm qua. Web
service chủ yếu dựa trên một lời gọi thủ tục từ xa không chặt chẽ mà có thể
thay thế các lời gọi thủ tục từ xa chặt chẽ, đòi hỏi các kết nối API phù hợp
đang phổ biến hiện nay.
2.2.2 Đặc điểm của dịch vụ Web
2.2.2.1 Đặc điểm
• Dịch vụ Web cho phép client và server tương tác được với nhau ngay
cả trong những môi trường khác nhau. Ví dụ, đặt Web server cho ứng

kinh doanh và làm việc có hiệu quả bởi thời đại ngày nay là thời đại
của truyền thông và trao đổi thông tin qua mạng. Do vậy, việc phát
triển và tích hợp các ứng dụng với dịch vụ Web đang được quan tâm
phát triển là điều hoàn toàn dễ hiểu.
2.2.2.2 Ưu điểm của dịch vụ Web
• Dịch vụ Web cung cấp khả năng hoạt động rộng lớn với các ứng dụng
phần mềm khác nhau chạy trên những nền tảng khác nhau.
• Sử dụng các giao thức và chuẩn mở. Giao thức và định dạng dữ liệu
dựa trên văn bản (text), giúp các lập trình viên dễ dàng hiểu được.
• Nâng cao khả năng tái sử dụng.
SVTH: Nguyễn Văn Hữu Khóa 50 Lớp HTTTA Trang 24
Đề tài: Xây dựng modul chuyển đổi và cung cấp dữ liệu cho hệ thống tích hợp mạng cáp TP HN
• Thúc đẩy đầu tư các hệ thống phần mềm đã tồn tại bằng cách cho phép
các tiến trình/chức năng nghiệp vụ đóng gói trong giao diện dịch vụ
Web.
• Tạo mối quan hệ tương tác lẫn nhau và mềm dẻo giữa các thành phần
trong hệ thống, dễ dàng cho việc phát triển các ứng dụng phân tán.
• Thúc đẩy hệ thống tích hợp, giảm sự phức tạp của hệ thống, hạ giá
thành hoạt động, phát triển hệ thống nhanh và tương tác hiệu quả với hệ
thống của các doanh nghiệp khác.
2.2.2.3 Nhược điểm của dịch vụ Web
• Những thiệt hại lớn sẽ xảy ra vào khoảng thời gian chết của Dịch vụ
Web, giao diện không thay đổi, có thể lỗi nếu một máy khách không
được nâng cấp, thiếu các giao thức cho việc vận hành.
• Có quá nhiều chuẩn cho dịch vụ Web khiến người dùng khó nắm bắt.
• Phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề an toàn và bảo mật.
2.2.3 Kiến trúc của dịch vụ Web
Dịch vụ Web về cơ bản gồm có 3 chuẩn chính: SOAP (Simple Object
Access Protocol), WSDL (Web Service Description Language) và UDDI
(Universal Description, Discovery, and Integration). Hình 2- minh họa kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status