ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
LỜI MỞ ĐẦU
1. MỞ ĐẦU
Giấy là một sản phẩm rất cần thiết cho con người, cho xã hội và gắn liền
với lòch sử lâu đời hàng ngàn năm. Nó mang lại cho con người nhiều ích lợi như
ghi chép, in ấn, đóng gói hàng hoá và làm vật liệu xây dựng … Từ thời cổ Đại,
người Ai Cập đã biết làm ra giấy từ sợi của cây papyrus. Lúc đầu phương pháp
khá đơn giản: người ta nghiền ướt các nguyên liệu từ sợi thực vật thành bột nhão
rồi trải ra từng lớp mỏng và sấy khô, vì vậy các sợi thực vật liên kết lại với nhau
tạo thành tờ giấy. Nhiều thế kỷ trôi qua cùng với sự phát triển của ngành công
nghiệp phương pháp làm giấy cũng đã được cơ giới hóa. Nhiều thành tựu khoa
học công nghệ được áp dụng vào quy trình sản xuất giấy để tạo ra những sản
phẩm giấy có chất lượng ngày càng cao. Hàng loạt các cơ sở sản xuất giấy ra đời
đáp ứng cho nhu cầu dùng giấy ngày càng cao của con người. Tuy nhiên, việc
hình thành các nhà máy giấy kéo theo hàng loạt các áp lực về môi trường nước,
đất và khí quyển.
Ở Việt Nam, “Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Quốc gia về nước sạch – Bộ
Tài nguyên và Môi trường, ngành công nghiệp giấy là một trong những ngành
gây ô nhiễm trầm trọng, đặt biệt đối với các nguồn nước”. So với nhiều ngành
công nghiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô nhiễm cao và dễ gây tác
động đến con người và môi trường xung quanh do ô nhiễm từ nguồn nước thải xử
lí không đạt yêu cầu. Mặc khác nguồn tài nguyên rừng cũng bò cạn kiệt do người
dân khai thác lấy gỗ bán cho các cơ sở sản xuất lấy làm nguyên liệu … Để khắc
phục tình trạng rừng cạn kiệt, tận dụng các nguồn rác thải (giấy phế liệu) để tái
chế lại, mặc khác cũng giải quyết đi một lượng rác khổng lồ (mà nếu không tái
chế thì chúng sẽ trở thành rác thải) đồng thời góp phần bảo vệ môi trường. Điển
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
hình là các cơ sở gia công chế biến giấy quận 12 đều sử dụng nguồn nguyên liệu
đầu vào là giấy phế liệu.
Khảo sát, phân tích các chỉ tiêu môi trường
Lấy các mẫu nước thải, nước giếng
Bụi, khí thải lò hơi
Vi khí hậu ( nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) và ồn
- Phân tích thực trạng môi trường sản xuất và ảnh hưởng của nó đến môi
trường và sức khoẻ con người
- Đề xuất các giải pháp cải thiện ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở gia công chế
biến giấy ở quận 12
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Hiện nay, kinh tế phát triển, các ngành công nghiệp cũng tăng lên hàng
loạt, cùng với sự gia tăng đó kéo theo hàng loạt các chất thải thải vào môi trường
trong đó có ngành giấy. Để giảm đi lượng rác thải trên cần phải phân loại rác thải
tại nguồn, cái nào tái sử dụng được thì dùng lại, cái nào tái chế được thì tái chế
(điển hình là tái chế giấy đã và đang áp dụng). Tuy nhiên, để có những sản phẩm
chất lượng cao từ giấy tái chế thì phải dùng các loại hóa chất để tẩy trắng, … do
vậy các nguồn chất thải phát sinh từ việc tái chế đó (nước thải, khí thải và rác
thải)đang trở nên bất cập.
So với nhiều ngành công ngiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô
nhiễm cao và dễ gây tác động đến con người và môi trường xung quanh do ô
nhiễm từ nguồn nước thải xử lý không đạt yêu cầu. Cụ thể là trong công nghiệp
tái chế giấy, để tạo nên một tấn sản phẩm đặt thù hoặc những tính năng đặt thù
cho sản phẩm, người ta sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc tác. Những chất này
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
nếu không được thu hồi hoặc xử lý mà thải thẳng ra sông ngòi, kênh rạch thì vấn
đề ô nhiễm là không tránh khỏi, làm mất cân bằng sinh thái trong môi trường
nước.
Nước thải từ các nhà máy tái chế giấy có hàm lượng BOD, COD, SS, độ
châu Mỹ La tinh đang phát triển đáng kể, cũng như Trung Quốc và Nga sẽ phát
triển kỹ nghệ này trong vài năm tới.
Hoa Kỳ là quốc gia sử dụng giấy và làm ra giấy nhiều nhất trên thế giới.
Mức tiêu thụ giấy của Hoa Kỳ từ 84,9 triệu tấn năm 1990 lên đến 97,2 triệu tấn
năm 2002. Trong khi đó nhu cầu của Việt Nam là 1,8 triệu tấn cho năm 2006 và
dự kiến tăng lên 1,5 triệu tấn năm 2015. Hiện tại Việt Nam có khả năng sản xuất
1,1 triệu tấn giấy do đa số bột giấy nhập cảng từ ngoại quốc.
Nhìn chung, ngành công nghiệp giấy Việt Nam hơn 20 năm qua đã phát
triển với tốc độ tăng trưởng trung bình 17%
Bảng 1. 1: Sản lượng giấy sản xuất và nhập khẩu của các năm
Giấy Đơn vò Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Sản xuất Ngàn tấn 642 753,791 980
Xuất khẩu Ngàn tấn 96,426 117,1 135,5
Nhập khẩu Ngàn tấn 425 484 523,85
(Nguồn: Bộ Công Nghiệp)
Đối với Việt Nam, nhìn chung công nghệ và thiết bò ngành công nghiệp
giấy còn lạc hậu so với các nước trên thế giới trừ nhà máy giấy Bãi Bằng và Tân
Mai. Tất cả các doanh nghiệp còn lại đều sản xuất theo phương pháp kiềm không
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
thu hồi hóa chất nên khó kiểm soát chất lượng, giá thành cao và gây ô nhiễm môi
trường, sản xuất kém hiệu quả, tiêu tốn nguyên nhiên vật liệu và năng lượng.
Việc xử lý nước thải trong các cơ sở sản xuất giấy vẫn chưa được cải thiện,
thậm chí có khu vực môi trường bò ô nhiễm nặng nề hơn, nhất là các làng nghề
sản xuất giấy truyền thống. Máy móc và thiết bò công nghệ của các nhà máy giấy
Việt Nam hiện nay không thể đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường.
1.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NGÀNH GIẤY VIỆT NAM
Từ những năm 80, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên đòa bàn thành
phố Hồ Chí Minh phát triển một cách ồ ạt, với đủ các loại ngành nghề đáng lưu
hóng ngưng kết từ các phân tử cacbua-hydro nặng có nhiều trong khí thải
(Nguồn: Sở khoa học, Công nghệ và môi trường Tp. HCM_ [9])
Khi đốt 1kg củi sinh ra 4,23 m
3
khí thải ở nhiệt độ 20
0
C. Lượng bụi tro có
trong khí thải chính là một phần lượng không cháy hết và lượng tạp chất không
cháy có trong củi, lượng tạp chất này thường chiếm tỉ lệ 1% trọng lượng củi khô.
Tro bụi khi cháy cuốn theo vào dòng khí lò tạo thành một lượng bụi nhất đònh
trong khí thải. Lượng bụi này có nồng độ dao động rất lớn vì phụ thuộc vào các
thao tác của công nhân đốt lò. Lượng bụi phát sinh lớn nhất khi công nhân nạp
thêm củi vào lò hay “chọc ghi” . Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào vận tốc dòng
khí cháy trong lò và cấu tạo lò.
Bụi trong khói thải lò hơi đốt củi có:
- Kích thước hạt: Từ 500 µm – 0,1 µm
- Nồng độ dao động: Khoảng từ 200 – 500 mg/m
3
(Nguồn: Sở khoa học, Công nghệ và môi trường Tp. HCM_ [9])
Tuy nhiên, khi củi bò ướt hay mục, lượng khói, bụi với cỡ hạt nhỏ bay ra
nhiều hơn
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
• Đặc điểm khói thải lò hơi đốt than đá
Các loại than đá được sử dụng ở Thành Phố Hồ Chí Minh đều là than gầy
hay An-tra-xít xuất xứ từ vùng Quảng Ninh. Đây là loại than ít cháy bốc, không
xốp nên khó cháy và cháy lâu
Khí thải của lò hơi đốt than đá chủ yếu mang theo bụi và các khí độc hại
5 40 ÷ 50 4
6 50 ÷ 60 3
7 60 ÷ 86 7
8 86 ÷ 100 6
9 >100 67
(Nguồn: Sở khoa học, Công nghệ và môi trường Tp. HCM_ [9])
• Đặc điểm khói thải lò hơi đốt dầu F.O
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
Đối với những lò hơi sử dụng nhiên liệu dầu F.O để đốt sinh nhiệt là loại
phổ biến nhất hiện nay ( F.O là chữ viết tắt của Fuel Oil, còn gọi là dầu đen ).
Dầu F.O là một phức hợp của các hydrô Cacbon cao phân tử . Dầu F.O dạng lỏng
có lượng sinh nhiệt đơn vò cao, độ tro ít nên ngày càng được sử dụng rộng rãi. Mặt
khác, việc vận hành lò hơi đốt dầu F.O đơn giản và khá kinh tế.
Trong khí thải của lò hơi đốt dầu F.O người ta thường thấy có các chất sau:
CO
2
, CO, NO
x
, SO
2
, SO
3
và hơi nước, ngoài ra còn có một hàm lượng nhỏ tro và
các hạt tro rất nhỏ trộn lẫn với dầu cháy không hết tồn tại dưới dạng son khí mà
ta thường gọi là mồ hóng
Thông thường, với các lò hơi đốt than hoặc đốt dầu F.O không có các biện
pháp xử lý khí thải thì hàm lượng các chất ô nhiễm trong khói thải lò hơi có thông
số như sau:
Vận hành đơn giản và khá kinh tế
Chiếm ít diện tích.
Số nhân công ít
Có thể dừng đốt và đốt lại bất cứ lúc nào
Nhựơt điểm
Với lò F.O, khi các hạt dầu phun quá lớn hay buồng chứa quá nguội,
các hạt sương dầu bay hơi và phân hủy không hết sẽ tạo khói và muội đen
(ướt) trong khí thải. Điều này thường gặp ở các vòi phun quá củ hay khi khởi
động hoặc tái tạo lò. Thứ hai là giá dầu cao
Lò đốt than đá, thứ nhất là tốn nhiều nhân công trong việc xúc than
cho vào lò (từ 3 -4 người), thứ hai là khu vực bãi than chiếm diện tích lớn, thứ
ba là khí thải có bụi khô nên việc xử lý dễ hơn, thư tư cần phải tốn chi phí cho
việc xử lý xỉ than, thư năm là không thể tắt hay dừng lò đột ngột, thứ sáu là
lượng khí SO
x
ở lò than đá rất lớn
1.2.1.2 Ảnh hưởng của các khí thải đến môi trường
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
10
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
Bụi: Một trong những căn bệnh đặt trưng do bụi gây ra đối với sức khỏe
công nhân là bệnh bụi phổi. Bệnh này phát triển rất nhanh gây khó thở rõ rệt, suy
phổi điển hình, tràn phế mạc và hay tái phát.
Các khí SO
2
, SO
3
sinh ra từ quá trình đốt dầu F.O và DO có chứa lưu
huỳnh, là những khí độc hại không chỉ đối với sức khỏe con người, động thực vật
mà còn tác động lên các vật liệu xây dựng, công trình kiến trúc.
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
11
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
Công nghệ sản xuất Tải lượng nước
thải m
3
/tấn.ngày
Đặt tính hóa học
BOD
5
COD SS
Sunfat có thu hồi kiềm 400 – 500 85 500 63
Hóa nhiệt cơ không thu
hồi kiềm
200 80 – 100 400 – 800 150 – 200
Xút thu hồi kiềm 500 650 1050 172
Xút không thu hồi kiềm 500 – 600 125 253 150
(Nguồn: Giáo trình công nhệ xử lý nước thải – Trần Văn Nhân, Ngô Thò Nga)
Mỗi ngày hệ thống kênh, rạch, sông tại thành phố Hồ Chí Minh ( sông Sài
Gòn – Đồng Nai, Thò Vải, …) tiếp nhận khoảng hơn 700.000 m
3
nước thải, trong
đó có khoảng 550.000 m
3
nước thải sinh hoạt và 150.000 m
3
nước thải công
nghiệp xử lí chưa đạt yêu cầu từ nhà dân, nhà hàng, khách sạn, các cơ sở sản
xuất giấy tái chế ( trong đó có các CS, DN tái chế giấy quận 12 ) và các ngành
nghề khác nằm dọc hai bên bờ, do đó đã bò ô nhiễm nghiêm trọng. Nguồn ô
nước, làm ức chế quá trình quang hợp của một số loài thuỷ sinh, đặc biệt là thực
vật bậc thấp sống dưới nước, gây nên những biến đổi đối với hệ sinh thái dưới
nước (hoạt động sống và khả năng sinh sản của các sinh vật), ảnh hưỡng gián tiếp
đến cuộc sống của con người. Các vật thể mang màu sẽ tạo phức với với kim loại
nặng như sắt, đồng tạo ra các chất lắng có trạng thái như nhựa. Các chất bã này
sẽ láy đi các kim loại có sẳn trong nước, điều này ảnh hưởng đến quá trình trao
đổi chất bình thường của các vi sinh vật sống trong nước và làm giảm hoạt động
của nước.
Clo phát sinh từ công đoạn tẩy trắng, trong quá trình tẩy trắng một lượng
clo sẽ được tạo ra ở dạng hợp chất polyclorin độc và tồn tại rất lâu, làm ảnh
hưởng đến nguồn tiếp nhận có các động vật thủy sinh và cộng đồng sử dụng
nguồn nước này.
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
1.2.3 nh hưởng chất thải rắn đến môi trường
Chất thải rắn trong ngành giấy chủ yếu là rác vụn từ quá trình cắt xén, các
loại thùng đựng hóa chất, dẻ lau tay dính dầu, … Các loại rác này thường không
phân loại và đổ trộn lẫn với rác sinh hoạt, điều này thật có thể làm ô nhiễm môi
trường đất nước.
1.3 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY
HIỆN NAY
1.3.1 Các biện pháp giảm thiểu
Để giảm thiểu lượng nước thải từ ngành công nghiệp giấy thải ra môi
trường, hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng một số biện pháp giảm thiểu sau:
Bảo quản và làm sạch nguyên liệu đầu bằng phương pháp khô sẽ giảm
được lượng nước rửa.
Bảo toàn hơi và nước, tránh thất thoát hơi, chảy tràn nước
Phân luồng các dòng thải để tuần hoàn sử dụng lại các nguồn nước ít ô
nhiễm.
• Phương pháp sinh học
Chỉ xử lý các chất hữu cơ hòa tan, các chất này dễ bò phân hủy hiếu khí và
kỵ khí bởi các vi sinh vật ( chủ yếu là vi khuẩn ) có trong nước thải. Nước thải
giấy thường chứa các chất hữu cơ cao đặt biệt là hợp chất lignin. Hợp chất này
không bò phân hủy hiếu khí và phân hủy kỵ khí rất chậm bởi các vi sinh vật trong
nước thải. Vì vậy, nước thải giấy nhất là dòch đen trong quá trình nấu bột giấy cần
phải được xử lý cục bộ để tách lignin.
1.3.3 Giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải ngành công
nghiệp giấy đã thực hiện ở Việt Nam
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
Sơ đồ 1.1: Quy trình công nghệ xử lý nước thải giấy của công ty Wiexernsin
Wiexernsin là công ty sản xuất giấy vàng mã, công nghệ sản xuất giấy của
công ty được thực hiện theo phương pháp kiềm nóng (80 – 100
0
C, 45% NaOH),
công suất 20 – 22 tấn tre nứa/ngày, sản phẩm giấy 2000 tấn/năm. Lưu lượng nước
ngâm rửa 25m
3
/ngày, lưu lượng nước thải xeo 300m
3
nước xeo giấy/ngày. Đối với
nước thài xeo giấy, việc 80% nước thải được tái sử dụng lại quá trình xeo giấy tuy
nhiên vẫn còn 20% nước thải xeo giấy (60m
3
/ngày) không đạt yêu cầu thải thẳng
ra ngoài gây ô nhiễm môi trường. Và công ty đã cải thiện hệ thống xử lý nhằm xử
lý triệt để 20% nước thải xeo. Hiện nay công nghệ này đã và đang áp dụng
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
và Đông Hưng Thuận; diện tích đất tự nhiên 883 ha, số dân dự trù
khoảng 120.000 người, mật độ xây dựng trong khu ở bình quân 26%,
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
công trình phúc lợi công cộng lớn, có trường phổ thông trung học, công
trình công cộng khác …
- Khu 2: Vò trí nằm ở phía Tây Bắc của quận, gồm phường Trung Mỹ Tây
và Tân Chánh Hiệp với diện tích đất tự nhiên 695 ha, dân số dự trù
khoảng 100.000 người, mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 28%;
công trình phúc lợi công cộng lớn có trường phổ thông trung học, bệnh
viện, trung tâm quận và trung tâm thương mại – dòch vụ của thành phố
- Khu 3: Gồm các phường Hiệp Thành, Thới An và Tân Thới Hiệp với
diện tích đất tự nhiên 1.242 ha, dân số dự trù khoảng 178.000 người, mật
độ xây dựng bình quân trong khu ở 27%, công trình phúc lợi công cộng
lớn có trường phổ thông trung học, công trình công cộng khác …
- Khu 4: Vò trí nằm ở phía Đông Bắc của quận gồm phường Thạnh Xuân
và Thạnh Lộc với diện tích đất tự nhiên 1.563 ha, dân số dự trù khoảng
37.000 người, mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 15%, công trình
phúc lợi công cộng lớn có trường phổ thông trung học, bệnh viện và các
công trình công cộng khác …
- Khu 5: Gồm phường An Phú Đông, Tân Thới Hiệp và một phần phường
Thạnh Lộc với diện tích đất tự nhiên 822 ha, số dân dự trù khoảng 15.000
người, mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 15%, công trình phúc lợi
công cộng lớn có trường phổ thông trung học và các công trình công cộng
khác …
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
1.1.3 Kinh tế
Nằm ở cửa ngỏ Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ
với quốc lộ 22, xa lộ vành đai ngoài (nay thuộc quốc lộ 1A), các tỉnh lộ liên tỉnh,
hệ thống các hương lộ khá dày. Cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế –
xã hội. Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía Đông là đường giao thông
thuỷ quan trọng. Trong tương lai nơi này sẽ có đường sắt chạy qua. Vò trí, cảnh
quan này tạo cho quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công
nghiệp, thương mại – dòch vụ – du lòch, đẩy nhanh quá trình đô thò hoá, phát triển
kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngoài ra, rạch Bến
Cát, kênh Tham Lương, Vàm Thuật … , sông Sài Gòn bao bọc phía đông thuận lợi
cho việc bố trí dân cư mới và và phát triển kinh tế xã hội của quận
1.2 QUY TRÌNH TÁI CHẾ GIẤY
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế trọng điểm phía nam, nơi có
dân số tập trung đông nhất. Dân số tăng nhanh kéo theo lượng rác thải cũng tăng
theo. Để giảm bớt lượng rác thải, đó là tái chế rác thải, cụ thể là tái chế giấy (sản
xuất giấy từ giấy phế liệu), góp phần làm giảm lượng rác thải mặt khác cũng giải
quyết được công ăn việc làm cho người dân
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
1.2.1 Hiện trạng các cơ sở tái chế giấy quận 12
• Đặc điểm các cơ sở tái chế giấy quận 12
Các cơ sở tái chế giấy quận 12 hầu hết ở quy mô tương đối nhỏ ( diện tích từ
1500 – 4000 m
2
như CTy TNHH CN-TM Gò Sao, DNTN Tân Thái Bình ), trung
bình và lớn (Các đơn vò sản xuất có quy mô trung bình và lớn: diện tích trên 7000
– 27000 m
2
chỉ có CTy TNHH Đồng Lợi ). Tham khảo qua bảng số liệu sau:
(xem trang bên)
94/1 KP1.F. Thạnh Xuân 72 3500
(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường quận 12, số liệu năm 2006)
Nhận xét:
Các cơ sở chủ yếu tập trung ở phường Đông Hưng Thuận, phường Thạnh Xuân và
phường Tân Thới Nhất
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
22
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
Với tình hình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay trên cả
nước, các cơ sở, doanh nghiệp tái giấy quận 12, với nhiều loại hình sản xuất
chẳng hạn sản xuất giấy carton, giấy vàng mã, giấy viết, giấy quyến, giấy gói
hàng hoá vv…, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăng số lao động, diện tích
doanh nghiệp hay cơ sở và đổi mới công nghệ sản xuất nhằm tạo ra nhiều mặt
hàng phong phú, chất lượng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Các cơ sở sản xuất giấy tái chế ở quận 12 nằm xen lẫn trong các khu dân
cư. Công nghệ sản xuất lạc hậu, còn mang tính tiểu thủ công nghiệp, nhiều chất
thải. Nước thải, khí thải từ quá trình hoạt động của nhiều nhà máy, cơ sở, công ty
không qua xử lý hoặc xử lý sơ bộ mà thải thẳng ra môi trường xung quanh, kênh,
rạch ( kênh Tham Lương, kênh Vàm Thuật, …) gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng đối với khu dân cư sinh sống xung quanh, các cơ sở và các hộ dân sống
xung quanh các kênh, rạch tiếp nhận nguồn nước thải.
Một số đơn vò sản xuất chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề xử lý chất thải.
Nước thải, khí thải không qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn xả thải và cứ
thế thải ra môi trường, gây ảnh hưởng tới đời sống dân cư xung quanh, nhiều hộ
gia đình làm đơn khiếu nại lên quận nhờ chính quyền can thiệp, giải quyết
1.2.2 Đặc tính – nguyên – nhiên liệu và công nghệ
• Nguyên liệu
Bột giấy
- Nguồn nguyên liệu của các cơ sở, doanh nghiệp là các loại giấy
phế liệu (chủ yếu là thùng carton, các loại giấy báo, tạp chí và tập
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
- Tinh bột: dùng kết hợp với nhựa keo của AKD làm tăng tính chống
thấm của giấy và có tác dụng bảo lưu một phần chất độn trong
giấy.
- AKD: Alkyketene Dymer dùng hỗ trợ chống lem.
- Cảm quang màu: có tác dụng làm tăng độ trắng của giấy
• Nhiên liệu
- Nước: cung cấp cho quá trình hoạt động, và sinh hoạt hằng ngày
cho mọi người(nguồn nước ngầm và nước cấp)
- Điện năng
- DO cung cấp cho các lò hơi
• Công nghệ và dây chuyền sản xuất
Dựa theo nhóm sản phẩm mà có thể chia thành nhiều nhóm công nghệ sản
xuất giấy khác nhau:
- Nhóm sản xuất giấy dùng làm bao bì (carton và giấy bìa)
- Nhóm sản xuất giấy vàng mã
- Nhóm sản xuất giấy quyến.
- Nhóm sản xuất giấy vệ sinh và các loại giấy có màu.
Tuỳ theo sản phẩm có thêm các công đoạn khác nhau, nhưng chủ yếu bao
gồm các giai đoạn sau:
- Phân loại: Giấy phế liệu sau khi đưa vào nhà máy sẽ được phân loại bằng
tay để loại bỏ bớt các chất bẩn, nhựa, kim loại, nylon, băng keo…bò lẫn
trong nguyên liệu để tránh ảnh hưởng tới hoạt động của thiết bò trong dây
chuyền sản xuất.
SVTH: VÕ THỊ NGỌC NĂNG
25