MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng
mặt bằng dân trí, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của một
quốc gia. Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của
khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng
khu vực và thế giới đòi hỏi giáo dục phổ thông phải có những bước tiến
mới mạnh mẽ nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Khi khẳng định nhiệm vụ của giáo dục, Nghị quyết lần thứ 2 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: "Giáo dục và đào tạo
hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả
đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong
các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa giáo dục- đào tạo đáp ứng yêu
cầu mới của đất nước. Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước".
[ 21] Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: "Tiếp tục nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và
học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá".[22]
Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các
nhà trường, đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển. Thực
chất của công tác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, công
việc này được tiến hành thường xuyên, liên tục qua từng giờ dạy học, qua
1
một phần nhỏ bé vào việc xây dựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở trường THPT đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
toàn xã hội, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân giao cho.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang góp
phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học và chất lượng dạy học ở các trường
THPT huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT
huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang hướng vào việc nâng cao chất lượng dạy
học ở các trường này.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Việt Yên hiện nay vẫn
còn có những hạn chế. Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ
các biện pháp quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng
dạy ở các trường này sẽ được nâng cao.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học và
chất lượng dạy học ở các trường THPT của huyện Việt Yên tỉnh Bắc
- CHƯƠNG 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy
học ở các trường THPT huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- TÀI LIỆU THAM KHẢO
- PHỤ LỤC
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Quản lý
a. Khái niệm
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã
hội của lao động.
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã biết phối hợp các
nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Từ khi xuất hiện nền
sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên.Bất
cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân,
hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến
một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai
phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý
được C. Mac viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
Thông tin
Tổ chức
Lãnh đạo
Sơ đồ 1: Các chức năng trong chu trình quản lý
- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất
trong hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục
tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức ,chỉ ra các hoạt động, những
biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Kế
7
hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành
động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn
thành các mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công
việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có
thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. ứng với những
mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau.Nhờ tổ
chức hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn
nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát
huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá
kế hoạch thành hiện thực.
- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của
mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác,
nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người lãnh
các chức năng quản lý: tham gia xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát.
Tập trung và dân chủ có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau,
có dân chủ phát huy tốt sức sáng tạo của quần chúng, động viên quần
chúng tích cực lao động và tham gia bàn bạc thống nhất hành động thì tập
trung càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nguyên tắc này
thường nảy sinh hai thái cực: tập trung quá dẫn tới quan liêu, độc đoán,
chuyên quyền và dân chủ quá dẫn tới vô chính phủ. Cả hai thái cực này dẫn
đến làm suy yếu hiệu lực quản lý. Bởi vậy, để thực hiện tốt chức năng lãnh
đạo, người quản lý phải phối hợp hài hoà nguyên tắc tập trung và dân chủ.
Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích xã hội
Quản lý trước hết là quản lý con người. Con người có những lợi ích,
những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định, do đó một trong những
9
nhiệm vụ quan trọng của quản lý là chú ý đến lợi ích của con người để
khuyến khích, kích thích tính tích cực của họ. Lợi ích là một động lực to
lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người vì vậy trong quản
lý phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích chung
toàn xã hội.
Nguyên tắc hiệu quả
Hiệu quả là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của một tổ chức.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một cơ sở vật chất kỹ thuật, một nguồn tài
sản, một lực lượng lao động hiện có của tổ chức có thể tạo ra một thành
quả lớn nhất, chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Hiệu quả không
những là nguyên tắc quản lý mà còn là thước đo trình độ tổ chức, lãnh đạo
và tài năng quản lý.
Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải có khả năng phân tích chính
hợp với các yêu cầu đó. Đây là phương pháp cơ bản để giáo dục con người,
nhà quản lý chỉ tác động đến đối tượng quản lý bằng lời lẽ của mình để
thay đổi nhận thức của đối tượng.
Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là sự tác động của nhà quản lý đến đối tượng
thông qua các lợi ích kinh tế tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt
động. Đặc điểm của phương pháp này là nó tác động lên đối tượng quản lý
không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng con đường tự nguyện, nhà
quản lý tác động đến đối tượng thông qua các mức độ lợi ích và cho đối
tượng lựa chọn theo khả năng của họ, sử dụng phương pháp này có ưu
điểm không hạn chế về quan hệ tổ chức và không phụ thuộc về mặt hành
chính đồng thời phương pháp này tăng cường được tính chủ động cho cá
nhân và tập thể, giảm bớt được sự kiểm tra đôn đốc vụn vặt chi li của nhà
quản lý.
11
Phương pháp hành chính - tổ chức
Phương pháp này là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính. Đây là phương
pháp cưỡng bức đơn phương, một bên ra quyết định, một bên phục tùng,
mức độ cưỡng bức tuỳ theo từng trường hợp, tính chất của bộ máy. Phương
pháp này thề hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự, kỷ cương của bộ
máy, giúp cho các quyết định quản lý được thi hành nhanh chóng và chính
xác, tăng hiệu quả hoạt động quản lý.
Phương pháp tâm lý - giáo dục
Phương pháp tâm lý - giáo dục là cách thức tác động đến đối tượng
quản lý thông qua đời sống tâm lý cá nhân: tâm tư, tình cảm, nguyện
vọng… của họ. Phương pháp dựa trên cơ sở các chức năng quy luật tâm lý
phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học).
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất
của nhà trường xã hội chủ nghĩa việt nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất”. [ 24, tr35 ].
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các
hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện
được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng
và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của
đất nước” [26,9].
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt
tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục theo
13
nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng
những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở
tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở,
phòng giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường.
Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình
kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục
đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội phải có một lực lượng
đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật
Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: "Quá trình dạy học là một quá
trình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển
giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại
giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ
thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực
hành".[20,tr25]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Dạy học được nghiên cứu theo quan
điểm là một quá trình. Dạy học bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy
của thày và quá trình học của trò. Hai quá trình này có mối quan hệ biện
chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và thúc đẩy nhau phát triển.
- Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa
học của học sinh biến nó từ kho tàng văn hóa xã hội thành học vấn riêng
của bản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong việc
đánh giá các giá trị tinh thần vật chất của thế giới khách quan, một phẩm
chất đạo đức mới, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Đó là quá tình
tự điều khiển tối ưu, sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình
thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện.
- Dạy học là sự tổ chức điều khiển quá trình học sinh chiếm lĩnh, lĩnh
hội tri thức hình thành và phát triển nhân cách. Quá trình dạy học có vai trò
chủ đạo được thể hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập của
16
học sinh giúp học sinh nắm kiến thức,hình thành kỹ năng, thái độ. Dạy có
chức năng kép là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt
động khác trong nhà trường. Do đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất
để giúp học sinh lĩnh hội chi thức của loài người.
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một
cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập,
dạy học phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên (Biên soạn giáo trình,
giáo án, chuẩn bị đồ dụng dạy học, lên lớp, kiểm tra học sinh học tập ).
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả học
tập).
- Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học.
1.1.4. Khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng
dạy học
a. Chất lượng
Chất lượng: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa "Chất
lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật
chỉ rõ nó là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự
vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng được
biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là sự liên kết các thuộc tính
của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn
bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân
nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi về chất lượng kéo theo
sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng
gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài
tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng
và chất lượng". [36,tr 419]
18
"Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự
vật, sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại
của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác". [ 39,tr7]
b. Chất lượng giáo dục
- Chất lượng giáo dục phổ thông: "Chất lượng giáo dục phổ thông là
mặt học lực và hạnh kiểm của người học. Các tiêu chí về học lực là kiến
thức, kỹ năng vận dụng và thái độ. Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình
độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà
trường, gia đình, xã hội và bản thân. Có 4 tiêu chí: Sự hiểu biết về các
chuẩn mực hiện hành, năng lực nhận dạng hành vi, các tác động chi phối
hành động, sự thể hiện thái độ tình cảm.
Đánh giá chất lượng dạy học là việc rất khó khăn và phức tạp, cần có
quan điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học. Khi đánh giá chất
lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậc
học đối chiếu sản phẩm đào tạo được đối với mục tiêu của cấp học, bậc
học. chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ
năng, thái độ, giá trị và hành vi của người học.
Chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu kinh tế xã hội của
đất nước, Sản phẩm dạy học được xem là có chất lượng cao khi nó đáp ứng
tốt mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra với giáo dục THPT.
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi cả về cơ cấu và cơ chế quản lý.
Các lĩnh vực của đời sống xã hội đổi mới toàn diện và sâu sắc đòi hỏi
ngành giáo dục phải tạo ra được chất lượng mới khác trước. Trong công
cuộc đổi mới, ngành học phổ thông đã và đang triển khai thực hiện những
chủ trương, biện pháp về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, quy
trình dạy học và đã cố gắng từng bước tăng cường điều kiện và phương tiện
để đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học.
1.2. YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT
TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
21
1.2.1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của trường THPT trong sự nghiệp
giáo dục đào tạo
hoá các trường học, ở cấp học này, cần phải tính đến sự nối kết liên tục
chương trình giáo dục trung học cơ sở, với chương trình mà học sinh sẽ
được học ở bậc trung học phổ thông.
- Là bậc học có nhiệm vụ tạo nguồn đáng kể cho đào tạo ở cấp trung
học nghề, cao đẳng, đại học nhằm phục vụ cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nước, cần có sự tăng cường trong nội dung giáo dục, nội dung đào
tạo và giáo dục hướng nghiệp.
- Là một bậc học chịu áp lực lớn về nhu cầu học tiếp của trung học
cơ sở đang phổ cập 60%- 70% học sinh ở độ tuổi 11- 15, hoàn thành phổ
cập vào năm 2010 (của cả nước), chuẩn bị tham gia hoàn thành phổ cập
trung học trong đó bậc trung học phổ thông vào năm 2020.
Vai trò của trường trung học phổ thông trong sự nghiệp GD- ĐT:
Báo cáo chính trị đại hội Đảng IX đã nêu: “Phát triển GD- ĐT là một
trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” .[32]
Để đạt được những mục tiêu cơ bản của phát triển KT- XH của đất
nước, giáo dục trung học phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân.
Chính vì vậy, văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu rõ: “ Phương
hướng chung của lĩnh vực GD- ĐT trong những năm tới là phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH tạo điều kiện cho nhân dân
đặc biệt là thanh niên có việc làm”.
Giáo dục phổ thông trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho
xã hội. Trên nền tảng đã đạt được ở các bậc học dưới, giáo dục trung học
phổ thông tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần nhân cách học sinh lên một
tầm cao mới theo hướng phát triển toàn diện nhân cách con người Việt
23
giáo dục phải đổi mới và đi trước một bước, tạo tiền đề cho sự phát triển
KT- XH. Bậc trung học phổ thông đóng vai trò hết sức quan trọng và cần
phải được trú trọng nâng cao hơn nữa vai trò của trung học phổ thông trong
hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.2. Yêu cầu của việc quản lý chất lượng dạy học ở trường
trung học phổ thông trong giai đoạn mới
Nghị quyết Đại hội Đảng IX khẳng định “Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ
thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục”. Nâng cao chất lượng là
thực hiện tốt 3 nhiệm vụ: Cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình
thành thái độ. Thực hiện tốt các nhiệm vụ này chính là nâng cao chất lượng
dạy học, đó là hiệu quả của giờ lên lớp.
Giáo dục - đào tạo nước ta đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về mục
tiêu, nội dung, phương pháp, nhằm phù hợp với nền khoa học công nghệ
đang phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý dạy học trong các trường trung học
phổ thông cũng cần có những thay đổi phù hợp, không những đáp ứng
những đòi hỏi mới của nền kinh tế mà còn trước một bước những yêu cầu
của nền KT- XH đang phát triển. Để nâng cao chất lượng dạy học, các nhà
quản lý cần quan tâm tới các yêu cầu quản lý dạy học sau:
- Chú trọng tới việc lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, chuẩn mực và
thông qua đó, các biện pháp thực hiện mục tiêu phải được tiến hành ngay
từ trong quá trình xây dựng kế hoạch năm học của nhà trường, chỉ đạo các
bộ phận, từng cá nhân lập kế hoạch cụ thể, đúng qui trình, phù hợp với
nhiệm vụ và điều hành hoạt động theo kế hoạch. Các kế hoạch này phải xác
định được nhiệm vụ, lý do tồn tại và phát triển, cần thấy được các điều kiện
bên trong cũng như bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình thực hiện, những
biện pháp, cách thức, hướng đi và các biện pháp ưu tiên thực hiện để đạt
mục tiêu. Các kế hoạch phải dự báo được khả năng về các điều kiện, các
25