10
CHƯƠNG II
KỸ THUẬT NUÔI HẦU (OSTREACEA)Hầu phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù Hầu có khả năng
thích nghi tốt với điều kiện nuôi nhưng nghề nuôi hầu chỉ phát triển ở và i quốc gia
ở vùng nhiệt đới. Sản lượng Hầu thu được chủ yếu là khai thác từ tự nhiên. Các
loài Hầu hiện nay đang được nuôi và khai thác bao gồm ba nhóm (giống) chính:
Ostrea, Crassotrea, Saccotrea. Sản lượng Hầu chủ yếu thu được từ nhóm
Crassotrea.
Bảng 2.1. Sản lượng Hầu thu được ở các quốc gia từ 1978-1983
Quốc gia Loài 1978 1979 1980 1981 1982 1983
Kenya Ostrea sp. 1 3 1 1 2
Mexico Ostrea sp.
Crassostrea
virginica
1740
33591
2495
36059
2606
41303
4244
37706
4509
30397
3294
32723
Cuba C. rhizophorae 2100 2700 2012 2525 2577 2370
O. folium Úc đến Malaysia; Morroco
đến Gabon
*
O. megadon Vịnh California đến miền
nam Peru
O. nomades Nam Thái bình dương; Bắc
Úc
O. trapezina Bắc Úc
Crassostrea
virginica
Bờ biển từ Mexico đến
Venezuela
*
C. rhizophorae Quần đảo Antilles, Tây
Indies, Từ Venezuela đến
Brazil
* *
C. paraibanensis Đông Bắc Brazil *
C. brasiliana Brazil *
C. corteziensis Vịnh California đến Panama * *
C. fischeri Baja California đến Ecuador *
C. columbiensis Baja California đến Chile *
C. gasar Senegal đến Angola *
C. madrasensis Đông nam Ấn Độ đến ven
biển Nam Trung Hoa
*
C. ariakensis Nam Nhận Bản đến Pakistan * *
C. gryphoides Ven biển Tây Ấn Độ *
Ở giai đoạn ấu trùng chúng sống phù du. Ấu trùng Hầu có khả năng bơi lội nhờ
vào hoạt động của vành tiêm mao hay đĩa bơi. Ở giai đoạn trưởng thành Hầu sống
bám trên các giá thể (sống cố định) trong suốt đời sống của chúng.
1.3 Thức ăn và phương thức bắt mồi.
Thức ăn của ấu trùng bao gồm vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo Silic (Criptomonas,
Platymonas, Monax) hoặc trùng roi có kích thước 10m hoặc nhỏ hơn. Âúu trùng
cũng có thể sử dụng vật chất hòa tan trong nước và những hạt vật chất hữu cơ
(detritus). Giai đoạn trưởng thành thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã
hữu cơ. Các loài tảo thường gặp là các loài tảo Silic như: Melosira, Coscinodiscus,
Cyclotella, Skeletonema, Navicula, nitzschia, Thalassiothrix, Thalassionema...
Phương thức bắt mồi của Hầu là thụ động theo hình thức lọc. Cũng như các loài
Bivalvia khác, Hầu bắt mồi trong quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của
mang. Khi hô hấp nước có mang theo thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn
sẽ dính vào các tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm
mao. Hạt thức ăn kích cỡ thích hợp (nhỏ) sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm
mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn quá
lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó
tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Mặc dù Hầu bắt mồi thụ
động nhưng với cách bắt mồi này chúng có thể chọn lọc theo kích thước của hạt
thức ăn. Quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ 1
xảy ra trên bề mặt mang; lần thứ 2 xảy ra trên mương vận chuyển; lần thứ 3 xảy ra
trên xúc biện; lần thứ 4 xảy ra tại mang nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi
được chọn lọc bởi mang nang chọn lọc được đưa trở lại dạ dày đề tiêu hóa. Tại dạ
13
dày thức ăn bị tiêu hóa một phần bởi các men Amylase, Bylyrase, Glycogenase và
Rennet do mang tinh cá tiết ra. Sau đó thức ăn được chuyển đến manh tiêu hóa, tại
đây thức ăn tiếp tục được tiêu hóa bởi các men Amylase, Lactase, Glycogenase,
Lipase, Maltase, Protease. Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống
ruột và ra ngoài qua hậu môn.
- Giới tính: có hiện tượng biến tính (thay đổi giới tính) ở Hầu. Trên cùng cơ
thể có lúc mang tính đực, có lúc mang tính cái và cũng có khi lưỡng tính. Tỉ
lệ lưỡng tính trong quần thể thường thấp.
- Phương thức sinh sản: tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau. Nhóm
Crassostrea và Saccostrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá
trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước. Đối với nhóm
Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra bên trong xoang
màng áo của cá thể mẹ đến giai đoạn diện bàn hoặc muộn hơn mới ra khỏi
cơ thể mẹ.
- Mùa vụ sinh sản: ở vùng nhiệt đới sau một năm đã thành thục và tham gia
sinh sản. Mùa vụ sinh sản xảy ra quanh năm nhưng tập trung từ tháng 4-6.
Mùa vụ sinh sản ở vùng nhiệt đới thường ít tập trung và kéo dài hơn so với
vùng ôn đới. Tác nhân chính kích thích đến quá trình thành thục và sinh sản
của Hầu là nhiệt độ, nồng độ muối và thức ăn có trong môi trường.
1.6 Địch hại và khả năng tự bảo vệ
Địch hại của Hầu bao gồm cá yếu tố vô sinh (nồng độ muối, nhiễm bẫn, độc tố, lũ
lụt...) và yếu tố hữu sinh bao gồm các sinh vật cạnh tranh vật bám (Balanus,
Anomia...), sinh vật ăn thịt (Rapana, Thais, sao biển, cá...), sinh vật đục khoét
(Teredo, Bankia...), sinh vật ký sinh (Myticola, Polydora...) và các loài tảo gây nên
hiện tượng hồng triều (Ceratium, Peridium...).
Hầu có khả năng tự bảo vệ nhờ vào vỏ, khi gặp kẻ thù chúng khép vỏ lại. Ngoài ra
chúng còn có khả năng chống lại các dị vật (cát, sỏi), khi dị vật rơi vào cơ thể
màng áo sẽ tiết ra chất xà cừ bao lấy dị vật.