42
CHƯƠNG VII
SINH VẬT ĐỊCH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
1 SINH VẬT BÁM
Sinh vật bám là những sinh vật bám bên ngoài vỏ của đồng vật thân mềm làm ảnh
hưởng đến chất lượng sản phẩm, sinh vật bám cũng làm giảm sinh trưởng của và
cạnh tranh vật bám với sinh vật nuôi. Các nhóm sinh vật bám gồm: hải miên, ruột
khoang, thủy tức, giun, giáp xác, động vật thân mềm...
1.1 Hải miên (Cliona)
Nhóm sinh vật này đục lỗ trên vỏ của sinh vật nuôi, tạo ra những ống dạng hình tổ
ong. Có loài ăn âu vào lớp xà cừ, làm hầu phải sử dụng hết năng lượng để sản sinh
lớp vỏ ngoài để bảo vệ chỗ bị tổn thương.
1.2 Ruột khoang (Anemone)
Anemone là sinh vật giống như sứa hay san hô, cơ thể mềm bám rất chắc trên sinh
vật nuôi (đường kính 1-15cm), cơ thể mềm ít chịu đựng ánh sáng mặt trời.
1.3 Thủy tức (Hydroid)
Thủy tức cũng thuộc ngành ruột khoang nhưng có chu kỳ phát triển 2 giai đoạn
(giai đoạn sinh sản là sứa sinh ra ấu trùng phù du, giai đoạn bám có dạng giống
như san hô) đây là nhóm sinh vật bám điển hình (Obelia), chết khi phơi ánh sáng
mặt trời.
1.4 Động vật hình rêu (Bryozoa)
Đây là nhóm sinh vật nhỏ có kích thước nhỏ hơn 1mm tồn tại dạng khảm hoặc
cành thẳng dứng, nhưng một tập đoàn có thể bao phủ toàn bộ vỏ của hầu. Chúng
thường không gây hại cho hầu trưởng thành nhưng gây hại (có thể che kín) hầu ấu
thể (3-4 cm)
1.5 Giun ống (Polydora)
Giun ống là những sinh vật nhỏ có kích thước nhỏ hơn 1 mm thuộc ngành giun
nhiều tơ (Polychaeta) sống tập đoàn. Một tập đoàn có thể bao phủ toàn bộ vỏ của
hầu. Chúng thường không gây hại cho hầu trưởng thành nhưng gây hại hầu ấu thể.
Hình 7.5. Giun ống Hình 7.6. Hà (Corn Balanus) 44 Hình 7.7. Hải tiêu Hình 7.8. Sun (Goose Balanus)
1.10 Phương pháp khống chế sinh vật bám
1.10.1 Phương pháp vật lý
Phương pháp này dùng để diệt sinh vật bám trên các chuổi vật bám hay trên cọc
gỗ. Phương pháp diệt sinh vật bám tốt nhất là hơ trên ngọn lửa nhưng chú ý hơ vừa
đủ chết sinh vật bám nhưng không làm chết vật nuôi. Một phương pháp khác là sử
dụng vòi nước áp lực để rửa trôi sinh vật bám, nhưng cách này không giết chết
sinh vật bám. Phương pháp thường được sử dụng và hiệu quả nhất là phơi dưới
ánh nắng mặt trời. Thời gian phơi phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, gió, kích thước
của sinh vật bám và của vật nuôi. Một số loại sinh vật bám khác như vẹm, thủy tức
được loại bỏ bằng tay.
Hình 7.9. Loại bỏ sinh vật bám bằng lửa
1.10.2 Phương pháp hóa học
Một số hóa chất có thể diệt sinh vật bám như CuSO
4
1-2% nhưng đắt tiền. Có thể
sử dụng nước ngọt hoặc nước có độ mặn cao trong 1-2 giờ để diệt sinh vật bám, sử
45
dụng nước nóng, đắt tiền. Phương pháp hóa học thường có hiệu quả thấp và chi phí
cao.
46
2.10 Nemertinea
Malacobdella ký sinh trong xoang màng áo của động vật thân mềm và giống
Cerebratulus là loà i ăn thịt (dữ)
2.11 Nematoda
Echinocephalus ký sinh ở chân bào ngư và E. sinensis ký sinh trong ống sinh dục
của Hầu
2.12 Mollusca
Odostomia ký sinh trong mang hoặc mô chân hay trong xoang màng áo. Gây sự
biến dạng của vỏ.
2.13 Crustacea
Nhóm Copepoda ký sinh như Mytilicola, Ostrincola, Myicola ký sinh trong ruột,
trực tràng và xoang màng áo của động vật thân mềm.
3 SINH VẬT ĐỊCH HẠI
3.1 Gastropoda
Một số loài ốc ăn thịt như Natica, Murex, Thais... có thể tân công động vật thân
mềm. Chúng bám lên vỏ và t iết ra dịnh làm thủng vỏ động vật thân mềm và hút lấy
phần thịt
3.2 Cua biển
Các loài cua biển thích ăn động vật thân mềm nhất là giai đoạn còn nhỏ. Cua dùng
càng làm vỡ vỏ động vật thân mềm và ăn thịt
3.3 Sao biển
là loà i động vật ăn thịt chúng thường sống và tân công con mồi ở tầng đáy nên
phương pháp nuôi đáy thường gặp trở ngại với loài sinh vật địch hại này.