PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất là một thành phần quan trọng của môi trường, là một tài nguyên vô giá
mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối
tượng lao động độc đáo, là một yếu tố cấu thành của hệ sinh thái Trái Đất.
Trên quan điểm sinh thái học, đất là một tài nguyên tái tạo, là vật mang của
nhiều hệ sinh thái khác trên trái đất. Với sức ép ngày càng tăng về dân số đã
kéo theo sự phát triển mạnh về công nghiệp, đô thị hoá, việc làm và giao
thông, làm cho tài nguyên đất bị khai thác mạnh và sự suy thoái môi trường
ngày càng trở nên nghiêm trọng. Con người tác động vào đất cũng chính là
tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình nó. Như vậy, tuỳ
thuộc vào phương thức đối xử của con người đối với đất mà đất có thể phát
triển theo chiều hướng tốt và cũng có thể phát triển theo chiều hướng xấu.
Cho nên việc bảo vệ môi trường đất, duy trì sức sản xuất lâu dài của đất là
một trong những chiến lược quan trọng của nước ta trong việc sử dụng hợp lý
và lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ngày nay, Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước nói chung, khu vực nông thôn nói riêng, các làng nghề có tác dụng rất
lớn đối với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
người dân lao động. Chỉ riêng các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã có 203 làng
nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, đồng thời có tới 523 làng
nghề mới được hình thành trong thời gian gần đây. Nhưng sự phát triển các
làng nghề trong thời gian qua còn mang tính tự phát, tình trạng ô nhiễm môi
trường trong các làng nghề và các cơ sở sản xuất tại nông thôn ngày càng gia
tăng.
1
- Xác định hàm lượng các kim loại nặng tổng số (As, Cd, Cu, Pb, Zn)
trong môi trường đất tại làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong Bắc Ninh.
- Đánh giá hiện trạng hàm lượng kim loại nặng trong đất tại Văn Môn.
1.2.2. Ý nghĩa của đề tài
- Khuyến nghị cho UBND xã Văn Môn về tình trạng ô nhiễm kim loại
nặng (KLN) trong môi trường đất từ đó xã có giải pháp hợp lý để xử lý chất
thải rắn, chất thải lỏng.
- Nâng cao nhận thức cho những người trực tiếp có liên quan đến sản
xuất của làng nghề, cũng như tăng thêm vốn hiểu biết về phòng ngừa ô nhiễm
môi trường trong các hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
- Góp phần tích cực vào việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
- Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải cho xã Văn Môn nói
riêng và cho tỉnh Bắc Ninh nói chung, để thực hiện chỉ thị và quy chế quản lý
chất thải của Chính phủ đã ban hành.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. KIM LOẠI NẶNG (KLN) VÀ CÁC DẠNG TỒN TẠI CỦA KLN
TRONG ĐẤT, NGUỒN GỐC PHÁT SINH
2.1.1. Kim loại nặng và các dạng tồn tại của kim loại nặng trong đất
Thuật ngữ KLN nhằm nói tới bất cứ một nguyên tố nào có khối lượng
riêng lớn (d > 5 g/cm3) và thể hiện độc tính ở nồng độ thấp. Tuy nhiên, độ độc
của KLN còn phụ thuộc vào các dạng tồn tại của chúng ở trong đất.[7]
Khi nghiên cứu sự tích luỹ của KLN trong đất mà chỉ xem xét hàm
lượng tổng số thì chưa thể đánh giá đúng độ độc của chúng đối với cây trồng
Bao gồm các KLN nằm trong cấu trúc tinh thể của các khoáng vật
nguyên sinh và thứ sinh. Dạng này rất khó giải phóng ra môi trường dưới các
điều kiện tự nhiên bình thường. Do tác dụng của các quá trình phong hoá, đặc
biệt là phong hoá hoá học và phong hoá sinh học mà các KLN dần dần được
giải phóng ra môi trường đất.
2.1.2. Nguồn gốc phát sinh kim loại nặng trong môi trường đất
Kim loại trong đất ban đầu một phần được sinh ra từ các quá trình hoạt
động địa hoá của khoáng vật mẹ và đi vào đất thông qua quá trình phong hoá
hoá học. Tuy nhiên, với quá trình phong hoá hoá học thì lượng kim loại đi vào
đất là không đáng kể mà chủ yếu kim loại đi vào đất là do các hoạt động sản
xuất của con người [8]. Các hoạt động đó bao gồm:
- Hoạt động sản xuất công nghiệp
+ Công nghiệp nhựa: Co, Cr, Cd, Hg
+ Công nghiệp dệt: Zn, Al, Ti, Sn
+ Công nghiệp sản xuất vi mạch: Cu, Ni, Cd, Zn, Sb
+ Bảo quản gỗ: Cu, Cr, As
+ Mỹ nghệ: Pb, Ni, Cr
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
+ Sử dụng phân bón hoá học: As, Cd, Mn, U, V và Zn trong một số phân
5
phốt phát.
+ Sử dụng phân chuồng: As, Cu, As, Zn
+ Sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật: Cu, Mn và Zn trong thuốc trừ nấm,
As và Pb trong thuốc sử dụng đối với cây ăn quả.
+ Nước tưới: có thể thải ra Cd, Pb, Se
động sản xuất làng nghề mà chủ yếu là từ phế thải của làng nghề gây nên.
Nguyên nhân chủ yếu là từ phế thải của làng nghề đổ ra môi trường. Chính vì
vậy, vấn đề cấp bách hiện nay của xã Văn Môn nói riêng và của tỉnh Bắc
Ninh nói chung là phải tìm ra cách quản lý và xử lý lượng phế thải do hoạt
động sản suất làng nghề thải ra môi trường phù hợp với điều kiện thực tế của
xã Văn Môn và của tỉnh Bắc Ninh.
2.2. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA KIM LOẠI NẶNG TỚI CÂY TRỒNG VÀ
SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và hình thành
nhiều thành phố lớn, vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng. Khói từ
nhà máy, từ hoạt động giao thông làm ô nhiễm bầu khí quyển. Nước thải từ
các nhà máy, khu dân cư làm ô nhiễm nguồn nước. Phế thải từ các khu công
nghiệp, các làng nghề và việc sử dụng phân bón hoá học, bùn thải, thuốc bảo
vệ thực vật trong nông nghiệp làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn tài nguyên
đất. Tất cả những nguồn gây ô nhiễm này đều là nguyên nhân của sự tích tụ
quá mức hàm lượng KLN trong đất và nước.[7]
Với sự tích tụ quá mức lượng KLN trong môi trường đất đã làm cho
thảm thực vật trên mặt đất bị mất đi, nhiều loài không thể sống được ở những
vùng đất chứa lượng KLN quá cao. Đất giảm lượng tích luỹ mùn và trở nên
chặt hơn, nghèo dinh dưỡng hơn. Những cây có thể mọc được ở những vùng
đất chứa lượng KLN cao thì ngay trong bản thân chúng cũng sẽ chứa lượng
KLN nhất định, và lượng KLN nhất định này cao hơn mức bình thường mà
chúng có được do chúng hút các chất dinh dưỡng trong đất. Các KLN tích luỹ
trong đất từ đó đi vào nông sản, thực phẩm và theo chuỗi thức ăn KLN trong
đất sẽ được tích tụ trong thực vật và vào cơ thể con người. Nếu cơ thể con
7
này là do dùng thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu, đã khiến cho chất liệu Cu bị cặn
lại trong đất từ năm này qua năm khác, ngay cả bón phân Sulfat Cu cũng gây
tác hại tương tự.[1, 21]
- Đối với con người: Nguyên liệu dẫn đến ngộ độc Cu của con người có
thể do uống nước qua hệ thống dẫn nước bằng Cu, ăn thực phẩm có chứa
lượng Cu cao như Chocolate, nho, nấm, tôm,…, bơi trong các hồ bơi có sử
dụng thuốc diệt tảo (Algaecides) có chứa Cu để làm vệ sinh hồ, uống bia hay
rượu. Cu là một chất độc đối với động vật: Đối với người 1 g/kg thể trọng đã
gây tử vong, từ 60 – 100 mg/1kg gây buồn nôn.
Cu ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khoẻ do thiếu hụt cũng như dư thừa. Cu thiết yếu cho việc sử
dụng sắt (Fe), bệnh thiếu máu do thiếu hụt Fe ở trẻ em đôi khi cũng được kết
hợp với sự thiếu hụt Cu.[1, 21]
* Tính độc của Cadmium (Cd)
- Đối với cây trồng: Rau diếp, cần tây, củ cải, cải bắp có xu hướng tích
luỹ Cd khá cao, trong khi đó củ khoai tây, bắp, đậu tròn, đậu dài được tích luỹ
một số lượng Cd nhiều nhất trong các loại thực phẩm, lá cà chua được tìm
thấy tích luỹ Cd khoảng 70 lần so với lá cà rốt trong cùng biện pháp trồng trọt
giống nhau. Trong các cây, Cd tập trung cao trong các rễ cây hơn các bộ phận
khác ở các loài yến mạch, đậu nành, cỏ, hạt bắp, cà chua, nhưng các loài này
sẽ không phát hiện được khi tích lũy Cd ở rễ cây. Tuy nhiên, trong rau diếp,
cà rốt, cây thuốc lá, khoai tây, Cd được chứa nhiều nhất trong lá. Trong cây
đậu nành, 2 % Cd được tích luỹ hiện diện trong lá và 8 % ở chồi. Cd trong mô
cây thực phẩm là một yếu tố quan trọng trong việc giải quyết sự tích luỹ chất
thường vì đa số các hợp chất As hữu cơ ít độc hơn các As vô cơ. Lượng As
trong các cây có thể ăn được thường rất ít. Sự có mặt của As trong đất trồng
trở nên chua hơn, nồng độ pH < 5 khi có sự kết hợp giữa các loại nguyên tố
khác nhau như Fe, Al.
Chất độc ảnh hưởng từ As làm giảm đột ngột sự chuyển động trong
nước hay làm đổi màu của lá kéo theo sự chết lá cây, hạt giống thì ngừng phát
triển. Cây đậu và những cây họ Đậu rất nhạy cảm đối với độc tố As.[1, 21]
- Đối với con người: Khi lượng độc tố As vượt quá ngưỡng, nhất là trong
10
thực vật, rau sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, nhiều hơn sẽ gây ngộ
độc. Nhiễm độc As trong thời gian dài làm tăng nguy cơ gây ung thư bàng
quang, thận, gan, phổi. As còn gây ra những chứng bệnh tim mạch như cao
huyết áp, tăng nhịp tim và các vấn đề thần kinh. Đặc biệt khi uống nước có
nhiễm As cao trong thời gian dài sẽ gây hội ứng đen da và ung thư da. [1, 21]
* Tính độc của chì (Pb)
- Đối với cây trồng: Sự dư thừa Pb cũng sẽ gây độc cho cây trồng khi
hàm lượng Pb trong đất quá cao.
- Đối với con người: Khi ăn phải một lượng Pb 25 – 30 g, nạn nhân thoạt
tiên có thể thấy vị ngọt rồi chát, nghẹn ở cổ, nôn ra chất trắng, đau bụng dữ
dội, mạch yếu, tê chân tay, co giật và tử vong. Khi cơ thể tích luỹ một lượng
Pb đáng kể sẽ dần dần xuất hiện các biểu hiện nhiễm độc như hơi thở hôi,
sưng lợi với viền đen ở lợi, da vàng, đau bụng dữ dội, táo bón, đau khớp
xương, bại liệt chi trên, mạch yếu, nước tiểu ít, thường gây sảy thai ở phụ nữ
có thai.[1, 21]
2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT
Đá phân
(Serpentine)
(Basalt)
(Granite)
kết
lớp
Cr
2.000-2.980
200
4
10-11
35
90-100
Mn
1.040-1.300 1.500-2.200
7-12
2-9
68-76
Cu
10-42
90-100
10-13
5,5-15
30
39-50
Zn
50-58
100
40-52
20-25
4-6
Hg
0,004
0,01-0,08
0,08
0,05-0,16
0,03-
0,18-0,5
0,29
Pb
0,1-0,4
3-5
20-24
5,7-7
8-10
20-23
As
28
780
Cd
2,9
55
Cr
580
940
Co
70
44
Cu
190
2,600
Se
4,1
140
Ag
0,6
50
Sn
52
430
V
650
2,100
Zn
360
8,400
Fe
Mn
Cu
Zn
Pb
Ni
Cd
Cr
Hg
7280 2370 150 565 2220 520
100
28
1040
5
thành phố
Bùn nhà máy dệt
255
29
18
2
117
-
-
-
-
53
122
42
119
2
81
14
Bảng 4. Hàm lượng tối đa cho phép (MAC) của các kim loại nặng được
xem là độc đối với thực vật trong đất nông nghiệp
Đơn vị: mg/kg
Nguyên tố
Áo
Canada
Balan
Nhật
Anh
Đức
Cu
100
100
100
50
500
(Nguồn: Kabata- Pendias, 1992 [9])
2.3.2. Tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu bước đầu về KLN trong đất, và đã
chỉ ra rằng hàm lượng của các nguyên tố KLN (Cu, Pb, Zn, Cd,…) trong đất phụ
thuộc nhiều vào nguồn gốc đá mẹ và mẫu chất hình thành nên các loại đất đó.
Các tác giả Trần Công Tấu và Trần Công Khánh (1998) đã công bố
hàm lượng KLN dạng tổng số và dễ tiêu ở tầng đất mặt 0 – 20 cm của một số
loại đất đã đưa ra 7 độc tố (Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) tập trung chủ yếu ở
hai loại đất chính ở Việt Nam (bảng 5), trong đó đất feralit phát triển trên đá
bazan có hàm lượng các nguyên tố trên (trừ Pb) cao nhất.[14]
15
Bảng 5. Hàm lượng kim loại nặng ở tầng đất mặt trong một số loại đất ở Việt Nam
Đơn vị: mg/kg
Loại đất
Đất Feralit phát triển trên đá bazan
Đất phù sa vùng ĐBSCL
Đất phù sa vùng ĐBSH
Đất xám phát triển trên Granit miền Trung
Đất phèn
81,0
DĐ
0,46
34,9
37,1
86,7
DĐ
0,24
8823
26,0
12,4
23,4
21,4
DĐ
0,48
Pb
Zn
Cd
Hải Phòng
Phù sa
Lúa
24
33
89
0,09
Hà Nội
Phù sa
Lúa – rau
22
24
0,07
Sơn La
Đá vôi
Cây ăn quả
58
27
144
0,04
Ninh Bình
Đá vôi
Mía
106
33
153
0,02
Đá bazan
Cao su
83
11
105
-
Lâm Đồng
Đá bazan
Cà phê
49
11
80
-
(Nguồn: Hồ Thị Lam Trà & Kazuhico Egashira, 2001 [27])
17
Cd
Khu vực Hanel
Hg
Cu
Pb
Zn
Cd
Hg
31,42 32,63 268,25 0,985 0,122 21,34 27,93 44,50 0,312 0,078
20 - 40 25,54 25,28 256,08 0,910 0,096 18,22 21,46 39,25 0,275 0,034
(Nguồn: Lê Văn Khoa & cộng sự, 1999 [10])
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Nông (2003) (bảng 8)
cho thấy rằng, hàm lượng của các nguyên tố Cd, Pb As trong đất ở Bắc Cạn
và ở Thái Nguyên càng lớn đối với vùng gần đô thị, khu công nghiệp và khu
dân cư tập trung. Tuy hàm lượng các nguyên tố chưa vượt quá TCCP nhưng
hàm lượng Cd, Pb, As khá cao trong vài loại đất ở vùng thành phố Thái
Nguyên đang là sự cảnh báo về môi trường.[12]
18
Các mẫu được lấy tại các huyện Nhà Bè, Bình Chánh, khu vực gần các khu
công nghiệp, nơi có nguy cơ ô nhiễm Cd và Zn rất cao thì hàm lượng của
chúng có thể đạt từ 7,6 – 25,5 mg/kg. Ở các khu công nghiệp phía Bắc của
thành phố Hồ Chí Minh (quận Thủ Đức, quận 2, quận 9) có khả năng gây ô
nhiễm Zn rất cao. Hàm lượng Zn thực tế đã xác định dao động từ 161 – 390
mg/kg trong tầng đất mặt ở quận 2, từ 356 – 679 mg/kg trong đất mặt ở quận
9.[13]
Theo tác giả Hồ Thị Lam Trà và Kazuhiko Egashira (1999) khi nghiên
cứu hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp của các huyện Từ
Liêm và Thanh Trì – Hà Nội cho thấy hàm lượng các kim loại nặng dao động
trong khoảng: 0,16 – 0,36 mg/kg Cd; 40,1 – 73,2 mg/kg Cu; 3,19 – 5,30
mg/kg Pb; 98,2 – 137,2 mg/kg Zn. Nói chung đất nông nghiệp của hai huyện
Từ Liêm và Thanh Trì chưa bị ô nhiễm kim loại nặng (theo TCVN 1995) trừ
Cu. Tại vùng đất chuyên rau của Tây Tựu - Từ Liêm hàm lượng Cu đã cao
hơn từ 20 – 30 mg/kg so với đất khác (73,2 mg/kg).[26]
Tác giả Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Hữu Thành (2003) khi nghiên cứu
hàm lượng Cu, Zn, Ni (tổng số và di động) trong đất nông nghiệp của huyện
Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cũng cho thấy: hàm lượng tổng số của Cu dao động
19
từ 21,85 – 149,34 mg/kg; Zn từ 59,45 – 188,65 mg/kg; Ni từ 27,38 – 55,71
mg/kg. Trong 15 mẫu đất nghiên cứu có 2 mẫu bị ô nhiễm Cu, các tác giả
cũng cảnh báo về nguy cơ ô nhiễm Zn, nhưng chưa tìm thấy sự ô nhiễm và
tích luỹ Ni.[22]
Theo tác giả Lê Đức và Lê Văn Khoa (2001) một số mẫu đất ở làng
nghề tái chế chì Chỉ Đạo – Văn Lâm – Hưng Yên có hàm lượng Cu: 43,68 –
Đông, Đồng Năng, Khóm Nấm của xã.
+ Mẫu 2: Mẫu đất nghiên cứu được lấy ở dạng bùn tại ao Nấm thuộc
thôn Phù Xá. Cạnh ao Nấm có một đường mòn và nhà ở của các hộ dân cư có
hoạt động sản xuất đúc nhôm ngay tại nhà và bã thải của hoạt động sản xuất
này được đổ trực tiếp ra bờ ao. Ngoài ra, ao Nấm còn gần khu nghĩa trang,
nghĩa địa của thôn Phù Xá.
+ Mẫu 3: Mẫu đất nghiên cứu được lấy ở dạng bùn tại mương Trung Hồ
thuộc thôn Phù Xá, cạnh mương là ao nuôi trồng thuỷ sản và các hộ dân cư
trong thôn.
+ Mẫu 4: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao nuôi trồng thuỷ sản thuộc
xóm Giếng thôn Quan Độ. Xung quanh ao là các đường mòn, phía Tây Nam
của ao còn gần khu đất tín ngưỡng, phía Đông có bãi tập kết phế liệu của các
hộ dân trong thôn.
21
Bảng 9. Đặc điểm của mẫu đất phân tích
Mẫu
đất
Loại đất
Vị trí
MĐ sử dụng
Toạ độ X
Mẫu 3
Đất bùn
Mương Trung Hồ
Nông nghiệp
544687
2341995
Mẫu 4
Đất bùn
Xóm Giếng – Quan Độ
Nông nghiệp
543872
2341469
Mẫu 5
Đất bùn
Thôn Quan Độ
Mẫu 8
Đất bùn
Ngòi phải cầu Tó
Nông nghiệp
544039
2341424
Mẫu 9
Đất bùn
Ngòi trái cầu Tó
Nông nghiệp
544053
2341541
Mẫu 10 Đất bùn
Khu vực giữa cầu Tó
Nông nghiệp
544708
2342166
Mẫu 14 Đất canh tác
Đồng Mả Xây
Nông nghiệp
544797
2341760
Mẫu 15 Đất canh tác
Thôn Quan Độ
Nông nghiệp
543836
2341552
Mẫu 16 Đất canh tác
Cánh đồng Cầu Bống
Nông nghiệp
544774
2341881
Mẫu 20 Đất khu vực
Chợ Văn Môn
Dsinh, VCGT
544861
2341874
Mẫu 21 Đất khu vực
Đình làng Mẫn Xá
Dsinh, VCGT
544673
2341838
Mẫu 22 Đất khu vực
Đầu làng Mẫn Xá
Dsinh, VCGT
thôn Quan Độ (thôn Quan Độ là nơi thu mua và tập chung các phế liệu phế
thải, đồng thời cũng là nơi cung cấp nguyên liệu sản xuất đúc nhôm, chì cho
thôn Mẫn Xá. Sông Ngũ Huyện Khê là nơi tiếp nhận nguồn nước thải từ các
nhà máy sản xuất giấy của xã Phong Khê).
+ Mẫu 6: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao nuôi trồng thuỷ sản (cạnh
ao có đường giao thông, nhà ở và cánh đồng trồng lúa) của thôn Quan Đình.
Trước kia cạnh ao có bãi đổ rác của thôn.
+ Mẫu 7: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao nuôi trồng thuỷ sản thuộc
thôn Mẫn Xá – đây là thôn có hoạt động sản xuất làng nghề chủ yếu của xã.
Xung quanh ao là các hộ dân cư có hoạt động sản xuất đúc nhôm.
+ Mẫu 8: Mẫu đất nghiên cứu được lấy ở dạng bùn tại ngòi phải cầu Tó
thuộc sông Ngũ Huyện Khê của thôn Tiền (sông Ngũ Huyện Khê là nơi tiếp
nhận nguồn nước thải của các cơ sở sản xuất giấy Phong Khê).
+ Mẫu 9: Mẫu đất nghiên cứu được lấy ở dạng bùn tại ngòi trái cầu Tó
thuộc sông Ngũ Huyện Khê của thôn Quan Độ, gần với nhà dân và khu đất
sản xuất kinh doanh của các hộ dân trong thôn.
+ Mẫu 10: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại khu vực giữa cầu Tó, nơi
tiếp giáp của thôn Tiền và thôn Quan Độ.
+ Mẫu 11: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao nuôi trồng thuỷ sản của nhà
ông Duy thuộc thôn Phù Xá. Xung quanh ao giáp với trường học và nhà dân.
+ Mẫu 12: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao nuôi trồng thuỷ sản thuộc
thôn Mẫn Xá. Xung quanh ao giáp với nhà dân, đường mòn và cánh đồng (nơi
thường xuyên có hoạt động đốt phế liệu).
+ Mẫu 13: Mẫu đất được lấy ở dạng bùn tại ao cá bãi Hồ thuộc thôn Phù
Xá. Xung quanh ao giáp với nhà dân và mương Trung Hồ.
24