ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN TIẾN HÙNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ HẤP THU MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG CỦA CÂY SẬY
(PHRAGMITES AUTRALIS) TRONG MÔI TRƯỜNG
ĐẤT KHÁC NHAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Đàm Xuân Vận
THÁI NGUYÊN - 2012
i
iiiii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 0
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 35
2.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
2.4.3. Phương pháp theo dõi thí nghiệm 37
2.4.4. Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 37
2.4.5. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 38
2.4.6. Phương pháp so sánh 38
2.5. Các chỉ tiêu, thông số theo dõi 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Đánh giá chất lượng mẫu đất dùng trong thí nghiệm 39
3.2. Tìm hiểu về đặc điểm sinh học của cây sậy (Phragmites autralis) 41
3.3. Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng KLN trong đất đến khả năng sinh
trưởng và hấp thụ KLN của Sậy 42
3.3.1. Sự biến động về số cây sậy trong môi trường đất ô nhiễm KLN 42
3.3.2. Sự biến động về chiều cao cây sậy trong môi trường đất ô nhiễm KLN 47
3.3.3. Khả năng hấp thụ KLN của cây sậy trong các môi trường đất với nồng
độ KLN khác nhau 51
3.3.4. Đánh giá khả năng xử lý KLN của cây sậy trong môi trường đất với
nồng độ KLN khác nhau 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1. Kết luận 63
2. Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
Bảng 1.4: Kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số vùng của Việt Nam 16
Bảng 1.5: Hàm lượng Cd, Pb, As trong đất Bắc Kạn và Thái Nguyên 17
Bảng 1.6: Hàm lượng kim loại nặng trong đất tại khu vực công ty Pin Văn
Điển và Orion - Hanel 17
Bảng 1.7: Hàm lượng một số kim loại nặng trong các sản phẩm dùng làm
phân bón trong nông nghiệp 20
Bảng 1.8: Hàm lượng của kim loại nặng trong đất 20
Bảng 1.9: Một số loài thực vật có khả năng tích luỹ kim loại nặng cao 25
Bảng 1.10: Một số loài thực vật cho sinh khối nhanh có thể sử dụng để xử
lý kim loại nặng trong đất 26
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 38
Bảng 3.1: Kết quả phân tích các mẫu đất dùng trong thí nghiệm 39
Bảng 3.2: Hàm lượng kim loại nặng trong đất 40
Bảng 3.3: Đặc điểm thực vật học của cây sậy (Phragmites autralis). 42
Bảng 3.4: Sự biến động về số cây sậy trong môi trường đất ô nhiễm KLN 43
Bảng 3.5: Sự biến động về chiều cao cây sậy trong môi trường đất ô nhiễm KLN . 47
Bảng 3.6: Hàm lượng KLN tích lũy ở thân + lá và rễ của cây sậy sau 4
tháng thí nghiệm 52
Hình 3.11: Hàm lượng As tích lũy ở thân+lá và rễ của cây sậy sau 4 tháng
nghiên cứu 55
Hình 3.12: Hàm lượng Pb tích lũy ở thân+lá và rễ của cây sậy sau 4 tháng
nghiên cứu 56
Hình 3.13: Biến động hàm lượng Zn trong đất 58
Hình 3.14: Biến động hàm lượng Cd trong đất 59
Hình 3.15: Biến động hàm lượng As trong đất. 60
Hình 3.16: Biến động hàm lượng Pb trong đất 61
1MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất
đang trở nên đáng báo động. Đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng trong đất
chiếm tỷ lệ rất cao do quá trình phát triển của công nghiệp, nông nghiệp và
khai khoáng trên phạm vi toàn cầu khiến cho nồng độ kim loại nặng ngày
càng gia tăng, vượt giới hạn cho phép nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa có các
biện pháp quản lý, xử lý chúng thích hợp.
Ô nhiễm kim loại nặng trong đất làm ảnh hưởng xấu đến tính chất của
đất, làm giảm năng suất cây trồng và làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
của con người. Chính vì vậy, việc phòng chống, xử lý ô nhiễm kim loại nặng
trong đất có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi
vùng, mỗi quốc gia.
Những phương pháp truyền thống hiện đang áp dụng để xử lý KLN
trong đất bao gồm: rửa đất; cố định các chất ô nhiễm bằng hoá học hoặc vật
Khả năng hấp thụ từng kim loại nặng trong môi trường đất bị ô nhiễm với
nồng độ khác nhau của nó ra sao?
Để tìm hiểu về vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, với sự hướng dẫn của thầy
giáo PGS.TS. Đàm Xuân Vận và sự giúp đỡ của cô giáo Th.S. Trần Thị Phả,
tôi đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng và hấp thu một số kim loại nặng của cây Sậy (Phragmites autralis)
trong môi trường đất khác nhau”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Sậy trong các môi
trường đất bị nhiễm các KLN (As, Pb, Cd, Zn) với nồng độ khác nhau;
- Xác định khả năng tích lũy các KLN: As, Pb, Cd và Zn của cây sậy
trong điều kiện môi trường đất nghiên cứu bị ô nhiễm từng loại KLN (As, Pb,
Cd, Zn) ở các nồng độ khác nhau.
3
- Đánh giá chất lượng môi trường đất sau khi trồng sậy trong điều
kiện thí nghiệm.
- Đưa ra các đề xuất về sử dụng cây Sậy trong xử lý ô nhiễm KLN
trong đất.
3. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu:
- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho thực tiễn sử dụng thực vật xử
lý ô nhiễm KLN trong đất;
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác nghiên cứu sau này;
- Vận dụng phát huy các kiến thức đó vào thực tế.
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Sậy trong môi trường đất bị ô
yếu tố. Đá mẹ là nền móng của đất. Do bị phá hủy vỡ vụn trong quá trình
phong hóa đá nên thành phần khoáng của đất chiếm tới 95% trọng lượng khô.
Nếu đá chứa nhiều cát thì đất sẽ nhiều cát, đá nhiều Kali thì đất giàu Kali,…
+ Sinh vật: chưa có sinh vật thì đá chưa tạo thành đất, trong đó có vai trò
đặc biệt quan trọng của sinh vật, phân hủy xác bã động thực vật tạo thành chất
mùn hữu cơ, tạo nên độ phì cho đất.
Trong mỗi gam đất có từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ sinh vật các loại.
Chúng tích lũy một lượng lớn các nguyên tố dinh dưỡng hòa tan trong quá
trình phong hóa, đặc biệt là đưa vào đất Nitơ phân tử (N
2
) từ không khí ở
dạng chất hữu cơ chứa Nitơ của bản thân chúng. Bên cạnh đó, trong mỗi gam
đất cũng có hàng trăm ngàn động vật nguyên sinh và động vật không xương
sống khác tồn tại.[3].
+ Khí hậu, địa hình: đặc biệt là trị số nhiệt ẩm, ảnh hưởng lớn tới sự
hình thành đất, tác động tới sinh vật và quá trình phong hóa đá. Còn địa hình
đóng vai trò tái phân phối lại những năng lượng mà thiên nhiên cung cấp
cho mặt đất. Cùng ở một nhiệt đọ nghĩa là được hưởng một lượng nhiệt mặt
5
trời cho như nhau nhưng ở địa hình cao thì lạnh và ở địa hình gần với mặt
đất thì nóng…
+ Thời gian: thời gian là một yếu tố đặc biệt. Mọi yếu tố ngoại cảnh tác
động, mọi quá trình diễn ra trong đất đều đòi hỏi một thời gian nhất định.
+ Con người: vai trò của con người khác hẳn những yếu tố kể trên. Qua
hoạt động sống, nhờ các thành tựu khoa học kỹ thuật mà con người tác động
vào thiên nhiên và đất đai một cách mạnh mẽ. Tác động này có thể là tích
cực, phù hợp với quy luật tự nhiên, đem lại lợi ích cho con người như tưới
nước, thủy lợi, tiêu nước hay bón phân cải tạo những vùng đất xấu và trông
Ô nhiễm đất là do con người sử dụng các loại hoá chất trong nông
nghiệp và thải vào môi trường đất các chất thải đa dạng khác. Trong các chất
thải này, có những chất phóng xạ, đất cũng nhận những kim loại nặng từ khí
quyển dưới dạng bụi như: Pb, Hg, Cd, Mo và các chất phóng xạ. Nguồn rác
thải từ đô thị, việc sử dụng phân bón tươi để bón ruộng, nương rẫy cũng đã góp
phần làm ô nhiễm đất [9].
* Hậu quả của ô nhiễm môi trường đất do KLN
Sự tích tụ các chất độc hại, các KLN trong đất sẽ làm tăng khả năng
hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng vật nuôi và gián tiếp gây ảnh
hưởng xấu tới sức khoẻ con người, làm thay đổi cấu trúc tế bào gây ra nhiều
bệnh di truyền, bệnh về máu, bệnh ung thư [24]
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nguồn gốc, đặc điểm một số KLN trong đất
1.2.1.1 Nguồn ô nhiễm kim loại nặng trong đất
Có 2 nguồn ô nhiễm KLN chính là tự nhiên và nhân tạo:
* Tự nhiên:
- Nguồn từ quá trình phong hoá đá:
Nguồn này phụ thuộc nhiều vào đá mẹ, hàm lượng tạo ra không lớn.
Thường thì, hàm lượng của các kim loại trong đá macma nhiều hơn so với
7
trong đá trầm tích, ước tính nguồn tự nhiên của các kim loại vi lượng trong
đất thì có 95% thuộc đá macma và đá biến chất, 5% còn lại thuộc đá trầm
tích. Trong đá trầm tích thì nguồn của các kim loại 80% là trong đá phiến sét,
15% trong đá sa thạch và 5% trong đá vôi. Hàm lượng của Mn, Cr, Co, Ni,
Cu và Zn xuất hiện ở hàm lượng cao trong hầu hết các loại đá (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Hàm lượng của các kim loại vi lượng điển hình trong
các loại đá (g/g)
Đá macma Đá trầm tích
0,13-0,2
1-1,5
0,01-0,08
3-5
4
400-500
1
0,5
10-13
40-52
0,09-0,2
3-3,5
0,08
20-24
10-11
620-1100
0,1-4
7-12
5,5-15
20-25
0,028-0,1
0,5-4
0,05-0,16
5,7-7
35
4-60
0,3
2-9
30
16-30
thép phát thải ra Cu, Ni, Pb.
- Các hoạt động sản xuất công nghiệp
Hiện này cũng không ngừng gia tăng do sự phát triển của các ngành
công nghiệp : Nhựa (Co, Cr, Cd, Hg), Dệt (Zn, Al, Z, Ti, Sn), Vi điện tử (Cu,
Ni, Cd, Zn, Sb), Chế biến gỗ (Cu, Cr, As), Tinh chế (Pb, Ni, Cr). [6].
- Nguồn lắng đọng từ khí quyển
Bao gồm nhiều nguồn khác nhau phát thải ra và lơ lửng trong không khí.
Một số nguồn như: Hoạt động đô thị (Cd, Cu, Pb, Sn, Hg, V), luyện kim (As,
Cd, Cr, Cu, Mn, Ni, Pb, Sb, Tl, Zn), khí thải từ động cơ xe (Mo, Pb (với Br và
Cl), V), đốt nhiên liệu hoá thạch (As, Pb, Sb, Se, U, V, Zn, Cd). Có 4 yếu tố
quyết định đến lượng xâm nhập của các kim loại nặng qua con đường khí
quyển là: Cỡ hạt, độ hoà tan, khoảng cách từ nguồn phát thải đến nơi tiếp
nhận, độ axít của mưa. Có 2 con đường xâm nhập vào đất là lắng đọng khô và
lắng đọng ướt. Các bụi kim loại có kích thước lớn thường lắng đọng khô, còn
có kích thước nhỏ thì di chuyển xa và thường lắng đọng ướt (hoà tan trong
nước mưa).[6].
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Phân bón (As, Cd, Mn, U, V và Zn trong phân phốt phát), phân xanh (As
và Cu trong phân của lợn và gia cầm, Mn và Zn trong phân xanh sử dụng của
các trang trại), vôi (As, Pb), Thuốc bảo vệ thực vật (Cu, Mn, và Zn trong
thuốc diệt nấm, As, Pb sử dụng cho cây ăn quả), Nước tưới (Cd, Pb, Se), sự
ăn mòn kim loại các công cụ (Fe, Pb, Zn). Một số kim loại nặng được đưa vào
đất do sản xuất nông nghiệp được đưa ra ở bảng 1.2: 9
Bảng 1.2: Hàm lượng KLN trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp
Đơn vị: ppm
Nguyên
8-40600
60-3900
1-260
6-5300
50-8000
91-49000
<1-3410
0,1-55
2-7000
1,8-410
-
-
0,9-279
13-3580
82-5894
0,01-100
0,09-21
1,3-2240
1,1-55
30-969
0,3-24
2,1-30
2-172
15-566
0,1-0,8
0,01-0,36
0,4-27
0,05
20-1250
-
-
-
-
-
-
-
0,6-6
11-26
-
-
-
-
-
-
<0,05
-
<20
(Nguồn: Alloway (1990 ) và Fergusson (1990) (Dẫn theo Vũ Hữu Yêm)[28]
- Nguồn từ chất thải đổ vào đất bao gồm nước thải cống rãnh (Cd, Cr,
Cu, Hg, Mn, Mo, Ni, Pb, V, Zn), vật liệu rửa trôi từ các vùng đất dốc (As, Cd,
Fe, Pb), vụn kim loại (Cd, Cr, Cu, Pb, Zn), muội than (Cu, Pb)…
* Sự tích luỹ kim loại nặng vào đất từ khu công nghiệp
Trong những thập kỷ gần đây vấn đề ô nhiễm kim loại nặng đã được đề
(PO
4
)
2
, Pb
4
O(PO
4
)
2
, Pb
5
(PO
4
)
3
OH. Chì tồn tại trong môi trường axit hoặc
môi trường có chứa các ion Cl
-
, CO
3
2-
, SO
4
2-
với nồng độ thấp. Các dạng chì gây
ô nhiễm đất do hoạt động nhân tạo có thể là PbClBr, PbSO
4
, PbS, PbCO
3
Bằng các con đường khác nhau như lắng đọng, khai thác khoáng sản, sử
dụng bùn thải, trầm tích để bón ruộng, mà Zn và những hợp chất của nó được
đưa vào đất, tích luỹ trong đất làm tăng hàm lượng vượt ngưỡng cho phép gây
ra ô nhiễm Zn.
Zn là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể. Kẽm thể hiện vai trò
sinh lý ở nhiều mặt, có vai trò quan trọng trong quá trình oxi hoá khử, tham
gia vào thành phần của các enzyme và quá trình trao đổi chất ở thực vật,
Tuy nhiên nếu hàm lượng Zn cao có thể gây độc cho cây trồng vật nuôi và
con người.
* Cadimi (Cd)
Cd thường tìm thấy trong tự nhiên ở dạng hoá trị II. Trong môi trường
đất, tính linh động của Cd phụ thuộc vào: pH, loại đất, thành phần vật lý, hàm
lượng hữu cơ, trong đó pH được coi là chỉ tiêu quan trọng quyết định tính di
động của Cd. Trong môi trường địa hoá thường thấy Cd đi cùng với Zn và có
ái lực lớn với S. Cd linh động trong môi trường axit hơn Zn.
Adriano đã tổng hợp các dạng tồn tại của Cd như sau: Dạng tao đổi, dạng
khử, dạng cacbonat, dạng hữ cơ, dạng lattice, dnạg sunfit và dạng hoà tan.
Đối với thực vật, mặc dù Cd được xem là nhân tố không cần thiết nhưng
vẫn được hấp thụ qua là và rễ. Cd độc với cây trồng khi nó được tích luỹ
trong than và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây. Khi cây bị
nhiễm độc Cd sẽ có mép lá màu nâu, lá úa vàng, rễ màu nâu, than còi cọc cây
chậm phát triển. Cd còn ảnh hưởng đến tính thấm của màng tế bào, kìm hãm
quá trình sinh tổng hợp của một số protein, ức chế một số enzyme, ảnh hưởng
đến quá trình hô hấp và quanh hợp, thoát hơi nước của thực vật,
* Asen (As)
Asen được biết đến là nguyên tố độc hại tuỳ thuộc vào dạng tồn tại của
nó. Các hợp chất khác nhau thì tính độc của As cũng khác nhau và trong đất
trồng không phải dạng As nào cũng độc. Cây trồng hấp thu rất ít As vì vậy
hàm lượng As trong đất trồng thường không gây nguy hiểm. [10]
trong đất Thụy Sỹ có thể lên tới 3 mg/kg trong vòng 20 - 30 năm tới. Tính di
động gây độc của các KLN còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự thay đổi
13
điện thế ôxy hoá khử, pH, số lượng muối và các phức chất có khả năng hoà
tan những KLN đó ở trong đất.
Ở Ấn Độ, nồng độ các chất như Pb, Cd và Hg cao bất thường, được phát
hiện ở nhiều lạch sông Thane thuộc bờ biển thành phố Bom Bay, các trạm
quan trắc ngoài khơi cũng được báo cáo có chứa Pb với hàm lượng đáng kể.
Ở Pakistan, người ta cũng đã phát hiện thấy nồng độ đáng kể các KLN
trong nước và các cặn lắng ở vùng ven bờ khu vực sông Indus.
Nghiên cứu của Kabata và Henryk (1985) cho thấy: ở Anh, hàm lượng
Cd lớp đất mặt xung quanh vùng khai thác kẽm lên tới 2-336 mg/kg. Ở Mỹ,
những vùng đất lân cận các nhà máy chế biến kim loại, hàm lượng Cd đạt đến
con số khổng lồ 26-1.500 mg/kg [40].
Hàm lượng Cd có trong các chất dùng cho sản xuất nông nghiệp ở mức độ
như sau: bùn thải biến động từ 2- 1.500 mg/kg; phân lân từ 0,1-170 mg/kg; vôi
từ 0,04 - 0,1 mg/kg; phân đạm từ 0,05- 8,5 mg/kg và phân chuồng là 0,03 - 0,08
mg/kg. Điều này chứng tỏ với những nước có ngành công nghiệp hoá học phát
triển mạnh thì những vùng chuyên trồng trọt Cd nói riêng và một số KLN nói
chung là hoàn toàn có thể .
Khi xác định nồng độ Cd trong đất ở những nông trại chuyên tưới và bón
bùn thải ở một số nước Mỹ, Anh, Hà Lan cho kết quả tương ứng là: 1,5 -167
mg/kg; 2,6- 8,3 mg/kg và 7,3- 8,1 mg/kg. Hàm lượng Pb trong bùn thải biến
động từ 50- 3.000 mg/kg, phân lân từ 7- 225 mg/kg, vôi từ 20- 1250 mg/kg,
phân đạm từ 2- 27 mg/kg, phân chuồng từ 6,6- 15 mg/kg và thuốc bảo vệ thực
vật là 60 mg/kg .
Ở một số nước như Đan Mạch, Nhật, Anh và Ailen có hàm lượng Pb cao
hơn 100 mg/kg, đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb, trong khi đó lại khá thấp
khoáng và các chất độc do chiến tranh để lại. Mức độ ô nhiễm bởi các chất
lỏng rắn và khí ở một số nơi khá nghiêm trọng. Tuy nhiên, về quy mô vùng
bị ô nhiễm không lớn, chỉ xảy ra ở ven một số thành phố lớn, khu công
nghiệp và những nơi gia công kim loại không có công nghệ xử lý chất thải
độc hại và những nơi chuyên canh, thâm canh sử dụng phân bón hoá chất bảo
vệ thực vật không hợp lý, không có sự quản lý chặt chẽ [5].
Kết quả nghiên cứu của Trần Kông Tấu, Trần Kông Khánh (1998) [20]
khảo sát trên phạm vi toàn quốc gồm 5 nhóm đất chính cho thấy: đất phù sa
thuộc đồng bằng Sông Hồng có hàm lượng Pb và Zn cao nhất và hầu hết các
loại đất có tỷ lệ hàm lượng các KLN dạng linh động so với dạng tổng số rất
15
cao. Cũng theo 2 tác giả này (1998) khi nghiên cứu kim loại nặng dạng tổng
số và dễ tiêu ở tầng đất mặt 0 – 20 cm của một số loại đất đã đưa ra 7 độc tố
(Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn), tập trung chủ yếu ở hai loại đất chính ở Việt
Nam, trong đó đất feralit phát triển trên đá bazan có hàm lượng các nguyên tố
trên cao nhất (trừ Pb) (Bảng 1.3).
Hàm lượng KLN trong các loại đất khác nhau có giá trị thành phần nguyên
tố khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc đá mẹ. Trong đất Ferrasols phát triển trên
đá vôi hàm lượng các nguyên tố Cu, Mn, Mo tương ứng đạt 52mg/kg, 827mg/kg
và 2,51mg/kg. Trên đất Ferrasols có nguồn gốc Gnai thì hàm lượng của Cu và Mn
có xu hướng ít hơn, tương ứng hàm lượng các nguyên tố này trong đất là 28mg/kg
và 258mg/kg [7].
Bảng 1.3: Kim loại nặng ở tầng đất mặt trong
một số loại đất ở Việt Nam
ĐVT: mg/kg
Loại đất Dạng
Co Cr Fe Mn Ni Pb Zn
1,1
TS 13,6 43,2 42280
22,7 34,9 27,1 86,7 Đất phù sa đồng bằng
Sông Hồng
DĐ 0,24 < 0,36
< 0,83
43,8 < 0,57
0,29 0,6
TS 1,2 9,9 5848 26,0 2,6 9,3 11,6 Đất xám phát triển trên
Granit miền Trung
DĐ < 0,1
< 0,36
< 2,83
0,42 0,62 < 0,51
< 0,51
TS 1,9 25,9 8823 26,0 12,4 23,4 21,4
Đất phèn
DĐ 0,48 < 0,36
10,8 14,5 1,14 < 0,51
Gia Lai Đá bazan Cao su 83 11 105 -
Lâm Đồng Đá bazan Cà phê 49 11 80 -
Nguồn: Hồ Thị Lam Trà và Kazuhiko Egashira, 2001 [35]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nông (2007) [24] cho thấy rằng
hàm lượng các nguyên tố Cd, Pb, As trong đất Bắc Kạn và Thái Nguyên ngày
càng lớn đối với vùng gần đô thị, khu công nghiệp và khu dân dư tập trung.
Tuy hàm lượng các nguyên tố chưa vượt quá TCCP nhưng hàm lượng Cd, Pb,
As khá cao trong vài loại đất ở vùng thành phố Thái Nguyên đang là sự cảnh báo
về môi trường (Bảng 1.5).