ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ CHÍ THỨC “NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ, KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ HẤP THỤ KIM LOẠI NẶNG CỦA CÂY SẬY
(PHRAGMITES AUTRALIS) TRÊN ĐẤT SAU KHAI THÁC
QUẶNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa h
Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo Tiến sĩ - Hoàng Hải và
Phó giáo sư – Tiến sĩ Đặng Văn Minh đã dành rất nhiều gian và tâm huyết
hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Sau đại học - Trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng quý thầy cô trong khoa đã tạo rất nhiều
điều kiện để tôi học tập hoàn thành tốt khóa học.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo và các anh chị Trung tâm
nghiên cứu và Phát triển Vùng - Bộ Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện
cho tôi hoàn thành tốt luận văn.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Học viên
1.6 Ưu điểm và hạn chế của công nghệ thực vật xử lý KLN trong đất 25
1.6.1. Ưu điểm 25
1.6.2. Hạn chế 26
1.7. Một số kết quả nghiên cứu sử dụng thực vật để xử lý đất ô nhiễm
kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
1.8. Một số đặc điểm cơ bản của cây Sậy và tình hình nghiên cứu sử
dụng caay Sậy cải tạo đất ô nhiễm 30
1.8.1. Một số đặc điểm cơ bản của cây Sậy 30
1.8.2. Đặc điểm thực vật học của cây Sậy 31
1.8.3. Ứng dụng của cây Sậy trong cải tạo môi trường 32
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
2.2.1. Địa điểm 34
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 34
2.3. Phạm vi nghiên cứu 34
2.4. Nội dung nghiên cứu 35
2.4.1. Đánh giá thực trạng tài nguyên đất sau khai thác quặng khoáng sản
tại một số mỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 35
2.4.2. Điều tra sự phân bố, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây
Sậy trong các khu khai thác quặng, so sánh mật độ và sự phân bố ở
các mỏ khai thác khác nhau 35
2.4.3. Nghiên cứu khả năng hấp thụ KLN của cây Sậy trên đất sau khai
thác quặng khoáng sản 35
2.4.4. Xây dựng mối tương quan giữa hàm lượng KLN trong đất với hàm
lượng KLN hấp thụ trong cây Sậy 35
2.4.5. Xác định mối tương quan của một số tính chất đất với hàm lượng
3.5.1. Tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp thụ trong cây với
hàm lượng kim loại nặng trong đất và pH 58
3.5.2. Tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp thụ trong cây với
hàm lượng kim loại nặng trong đất và dung tích hấp thu của đất (CEC) 61
3.5.3. Tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp thụ trong cây với
hàm lượng kim loại nặng trong đất và hàm lượng chất hữu cơ (CHC)
trong đất 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD
: Biochemical Oxygen Demand (chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa)
CEC
: Cation Exchange Capacity (khả năng trao đổi cation)
COD
: Chemical Oxygen Demand (chỉ số nhu cầu oxy hóa học)
cs
: Cộng sự
CHC
: Hàm lượng mùn
DW
: Dry weight (khối lượng khô)
EEA
: European Environment Agency (Cục môi trường Châu Âu)
HCBVTV
: Hóa chất bảo vệ thực vật
Bảng 1.8: Hàm lượng tối đa cho phép của các kim loại nặng được xem là
độc đối với thực vật trong đất nông nghiệp 16
Bảng 1.9: Đánh giá ô nhiễm đất mặt bởi các kim loại nặng ở Ba Lan 17
Bảng 1.10: Giới hạn tối đa cho phép hàm lượng tổng số đối với As, Cd,
Cu, Pb và Zn trong đất (tầng mặt) 19
Bảng 1.11: Đặc điểm thực vật học của cây Sậy (Phragmites autralis). 31
Bảng 2.1: Vị trí các điểm lấy mẫu cây và mẫu đất trong khu vực nghiên cứu 37
Bảng 3.1. Sản lượng khai thác chì kẽm tại một số mỏ 41
Bảng 3.2. Kết quả phân tích mẫu kim loại nặng tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.3. Kết quả phân tích một số yếu tố môi trường đất tại khu vực
nghiên cứu 45
Bảng 3.4. Sự phân bố của cây Sậy tại một số mỏ khai thác quặng trong
khu vực nghiên cứu 47
Bảng 3.5: Sự sinh trưởng và phát triển của cây Sậy trên khu vực nghiên cứu 49
Bảng 3.6: Kết quả xác định sinh khối cây Sậy trên các mỏ nghiên cứu 51
Bảng 3.7: Khả năng hấp thụ KLN của cây Sậy trên đất bãi thải sau
khai thác quặng 53
Bảng 3.8: Phương trình tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp
thụ trong cây với hàm lượng kim loại nặng trong đất và pH đất 59
Bảng 3.9: Phương trình tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp thụ
trong cây với hàm lượng kim loại nặng trong đất và dung tích hấp
thu của đất (CEC) 61
Bảng 3.10: Phương trình tương quan giữa hàm lượng kim loại nặng hấp
thụ trong cây với hàm lượng kim loại nặng trong đất và chất
hữu cơ trong đất (CHC) 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
cát sỏi) là 45 mỏ. Số lượng mỏ khoáng sản và sản lượng được đưa vào khai
thác ngày càng tăng. Tình hình khai thác khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên
trong những năm qua cho thấy, số lượng mỏ khoáng sản và sản lượng được
đưa vào khai thác ngày càng tăng. Số lượng doanh nghiệp, đơn vị tham gia
khai thác, chế biến khoáng sản cũng gia tăng nhanh chóng (Dương Văn
Khanh, 2007) [11].
Hoạt động khoáng sản của các doanh nghiệp đã đóng góp vào nguồn thu
ngân sách của tỉnh tăng trưởng liên tục qua từng năm. Mặc dù đem lại nhiều
lợi ích kinh tế nhưng do công nghệ lạc hậu, không có hệ thống xử lý hoặc chỉ
xử lý sơ bộ nên việc khai thác mỏ thường gây nên hiện tượng ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Hoạt động của các mỏ quặng, phi quặng và vật liệu xây
dựng như xây dựng mỏ, khai thác thu hồi khoáng sản, đổ thải, thoát nước
mỏ…đã phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái. Các chất thải từ các hoạt động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
khai thác có chứa kim loại nặng như: Pb, Cd, Zn, As, Ni, Cu,…thường được
thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý gây ô nhiễm nặng nề môi
trường đất và nước (Lương Thị Thúy Vân, 2012 ) [23].
Sau hoạt động khai thác của các mỏ khai thác và chế biến khoáng sản,
thường phải mất nhiều năm chúng ta mới khắc phục được hậu quả của nó. Sau
khai thác, tầng đất mặt bị xáo chộn, trơ sỏi đá, các hiện tượng trượt lở, bồi lấp
và tích tụ các chất rắn khiến cho chất lượng đất và nước ở các vùn khai thác
khoáng sản bị ảnh hưởng. Một số khu vực bãi thải còn có tiềm năng hình
thành dòng axit mỏ, có khả năng hòa tan các kim loại nặng độc hại là nguồn
gây ô nhiễm tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm của khu vực. Quá
trình ô nhiễm đất và nước làm giảm năng suất cây trồng, làm nghèo thảm thực
vật, suy giảm sự đa dạng sinh học. Đồng thời chúng có tác động ngược lại
làm cho quá trình xói mòn, rửa trôi thoái hóa đất diễn ra mạnh hơn. Nhiều
diện tích đất sản xuất nông nghiệp phải bỏ hoang, diện tích đất trống đồi núi
“Nghiên cứu sự phân bố, khả năng sinh trưởng, phát triển và hấp thụ kim
loại nặng của cây Sậy (Phragmites autralis) trên đất sau khai thác quặng
tại tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu sự phân bố, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Sậy trên
đất sau khai thác quặng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá thực trạng môi trường đất sau khai thác mỏ quặng tại Thái
Nguyên.
- Đánh giá khả năng tích luỹ KLN trong thân, lá và rễ của cây Sậy tại các
khu vực nghiên cứu.
- Xác định mối tương quan giữa khả năng hấp thụ KLN trong cây Sậy
với một số yếu tố môi trường đất trong khu vực nghiên cứu.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu sẽ đánh giá một phần hiện trạng tài nguyên đất sau khai thác
khoáng sản tại Thái Nguyên. Đề tài làm sáng tỏ sự phân bố, khả năng sinh
trưởng, phát triển và hấp thụ KLN của cây Sậy trên đất sau khai khoáng. Trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
cơ sở đó đánh giá hiệu quả cải tạo môi trường đất dưới khả năng hấp thu KLN
của các loài thực vật được nghiên cứu. Đồng thời kết quả nghiên cứu đóng
góp, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và phát triển công nghệ thực vật xử lí ô
nhiễm – công nghệ được đánh giá rất cao ở các nước phát triển, nhưng vẫn
đang còn mới mẻ tại Việt Nam.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài xác định những tác động từ khai thác quặng tới tài nguyên đất. Từ
đó đem lại tính khả thi của việc ứng dụng thực vật nói chung và cây Sậy nói
riêng để cải tạo đất ô nhiễm ở các mỏ khai thác khoáng sản tại Việt Nam. Đây
là những cơ sở cho việc lựa chọn loài thực vật có khả năng áp dụng tốt nhất
và nước ngầm.(Lasat, 2000). [39].
Sự tích tụ các chất độc hại, các KLN trong đất xẽ làm tăng khả năng hấp
thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng
xấu tới sức khoẻ con người, làm thay đổi cấu trúc tế bào gây ra nhiều bệnh di
truyền, bệnh về máu, bệnh ung thư (Nguyễn Ngọc Nông, 2007) [18].
Trong những năm gần đây, ô nhiễm KLN đã thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học vì tính chất bền vững của chúng. Độc tính của KLN đối với sinh
vật liên quan đến cơ chế oxy hóa và độc tính gen. Tác hại của KLN đối với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
động vật và con người là làm tổn hại hoặc giảm chức năng của hệ thần kinh
trung ương, giảm năng lượng sinh học, tổn hại đến cấu trúc của máu, phổi, thận,
gan, và các cơ quan khác. Tiếp xúc với KLN trong thời gian dài có thể ảnh hưởng
mãn tính đến thể chất, cơ và quá trình thoái hóa hệ thần kinh dẫn đến biểu hiện các
bệnh Parkinson, bệnh teo cơ, bệnh đa xơ cứng, ung thư…Hơn nữa KLN còn làm
tăng các tương tác dị ứng và gây nên đột biến gen, cạnh tranh với các kim loại cần
thiết trong cơ thể ở các vị trí liên kết sinh hóa và phản ứng như các kháng sinh giới
hạn rộng chống lại cả vi khuẩn có lợi và có hại . Độc tính KLN trong chuỗi thức
ăn là một trong những vấn đề bức xúc về môi trường và sức khỏe cộng đồng trong
xã hội công nghiệp ngày nay.
1.1.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm KLN trong đất
a) Quá trình khoáng hoá đá
Nguồn từ quá trình phong hoá đá: Nguồn này phụ thuộc nhiều vào đá mẹ
nhưng hàm lượng các kim loại nặng trong đá thường rất thấp, vì vậy nếu
không có các quá trình tích lũy do xói mòn, rửa trôi… thì đất tự nhiên ít có
khả năng có hàm lượng kim loại nặng cao.
Bảng 1.1: Hàm lượng trung bình một số KLN trong đá và đất (ppm)
Nguyên
tố
0,17
0,11
0,01-2
0,35
Hg
0,012
0,08
0,19
0,05
0,01-0,5
0,06
In
0,058
0,04
0,044
0,049
0,2-0,5
0,2
Pb
3
24
19
14
2-300
19
Sb
0,2
0,2
1,2
0,2
trường tại những mỏ đã và đang khai thác rất đa dạng như ô nhiễm đất, nước
mặt, nước ngầm. Các tác nhân gây ô nhiễm là axit, kim loại nặng, cyanide,
các loại khí độc v.v… Hiện tượng suy giảm chất lượng nước mặt, nước ngầm
ở nhiều nơi do ô nhiễm kim loại nặng có nguồn gốc công nghiệp như Ni, Cr,
Pb, As, Cu, Se, Hg, Cd … cần phải sớm có giải pháp xử lý. Nhiều kim loại
nặng rất độc đối với con người và môi trường cho dù ở nồng độ rất thấp.
Công đoạn nào của quá trình khai thác khoáng sản cũng đều gây nên ô
nhiễm kim loại vào đất, nước, không khí và cơ thể sinh vật. Sự nhiễm bẩn
kim loại không chỉ xảy ra khi mỏ đang hoạt động mà còn tồn tại nhiều năm
sau kể từ khi mỏ ngừng hoạt động. Theo Lim H. S và cộng sự (2004)[35], tại
mỏ vàng – bạc Soncheon đã bỏ hoang ở Hàn Quốc, đất và nước nhiều khu
vực ở đây vẫn còn bị ô nhiễm một số kim loại ở mức cao [35].
Bảng 1.2: Hàm lượng kim loại nặng trong một số loại đất ở khu mỏ hoang
Songcheon
Đơn vị: mg/ kg
Nguyên tố
Bãi thải
quặng
Đất vùng
núi
Đất
trang trại
Đất bình
thƣờng trên
thế giới
As
3 584- 143 813
695 -3 082
7-626
6
các kim loại cho đất ở những khu vực xung quanh. Hàm lượng các kim loại cao
trong đất trang trại là do sự phát tán kim loại bởi gió, nước từ các bãi quặng
đuôi. Đa số cây trồng ở các khu đất bị nhiễm kim loại đã bị nhiễm As và Zn ở
mức cao.
Môi trường đất tại các mỏ vàng mới khai thác thường có độ kiềm cao
(pH: 8 – 9), ngược lại ở các mỏ vàng cũ, thường có độ axit mạnh (pH: 2,5 -
3,5); dinh dưỡng trong đất thấp và hàm lượng kim loại nặng rất cao. Chất thải
ở đây thường là nguồn gây ô nhiễm môi trường, cả phần trên mặt đất và phần
dưới mặt đất. Ở Úc, chất thải từ các mỏ vàng chứa hàm lượng các kim loại
nặng vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần [24].
Bảng 1.3: Hàm lượng kim loại nặng trong chất thải của một số mỏ vàng
điển hình ở Úc
Kim loại nặng
Hàm lƣợng kim loại nặng tổng số (mg/kg)
As
1 120
Cr
55
Cu
156
Mg
2 000
Pb
353
St
335
Zn
283
(Nguồn: ANZ, 1992) [24]
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, tình trạng khai thác khoáng sản trái
, COD cũng đều xấp xỉ mức cho phép.
- Theo Báo cáo của Trung tâm quan trắc và bảo vệ môi trường Thái
Nguyên (2005) cho biết, nước thải của xí nghiệp khai thác thiếc Hà Thượng,
Đại Từ có dấu hiệu ô nhiễm về kim loại, hàm lượng Zn vượt 7 lần so với
TCVN-5945-1995, hàm lượng Fe vượt gần 2 lần, trong mẫu nước có phát
hiện As, Hg. Ngoài ra nước mang tính axit (pH - 2,5).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Kết quả phân tích các mẫu đất khu vực xí nghiệp thiếc Đại Từ cho thấy:
Chỉ số As trong đất vượt tiêu chuẩn, As từ 13,10 đến 15,48 mg/kg trong khi
tiêu chuẩn là 12 (TCVN 7209-2002).
- Xí nghiệp chì - kẽm làng Híc, Đồng Hỷ: Kết quả phân tích chất lượng
nước thải cho thấy ở tất cả các mẫu, nước thải đã có dấu hiệu ô nhiễm kim
loại nặng, đặc biệt là hàm lượng kẽm trong nước tại các điểm quan trắc đều
vượt từ 2,11 đến 7,23 lần so với tiêu chuẩn cho phép ( TCVN 5045:1995),
hàm lượng chất lơ lửng trong nước (TSS) rất cao.
Mẫu bùn lắng ở 2 điểm lấy mẫu cho thấy có dấu hiệu ô nhiễm kim loại
nặng. Các chỉ tiêu kim loại nặng phân tích nhận được đều cho giá trị rất cao.
Cụ thể, hàm lượng kẽm vượt từ 2,3 đến 2,7 lần, cadimi cao hơn từ 4,5 đến
8,4 lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCVN 7209: 2002) và asen cũng gần xấp
xỉ tiêu chuẩn cho phép (từ 11,37 đến 12,95 mg/l, TCVN 7209:2002 là 12mg/l.
c) Nguồn ô nhiễm KLN trong đất do các hoạt động công nghiệp và nước
thải đô thị
Tác động của quá trình công nghiệp và đô thị đến môi trường đất xảy ra
rất mạng từ cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỉ 18-19, đặt biệt là trong
những thập niên gần đây. Các chất thải công nghiệp ngày càng nhiều và có
độc tính ngày càng cao, nhiều loại rất khó bị phân huỷ sinh học, đặc biệt là
các KLN. Các KLN có thể tích luỹ trong đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ
tiềm tàng cho môi trường.
theo chiều hướng bất lợi tới chất lượng lượng môi trường. Nó không còn mang tính
chất cục bộ như trước nữa, việc phát triển ngành đã và đang làm chất lượng môi
trường giảm sút dưới sự tác động của con người. Theo Nguyễn Thị An Hằng,
(1998) thì sự tác động của nước thải nên đất khu vực công ty pin Văn Điển có dấu
hiệu ô nhiễm Zn cao, hàm lượng Zn chiết xuất HNO
3
1N rất cao, dao động trong
khoảng 198,76-268,25 ppm.
d) Ô nhiễm KLN do hoạt động nông nghiệp
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp con người đã làm tăng đáng kể các
kim loại nặng trong đất. Các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại phân bón
hóa học thường chứa nhiều kim loại nặng (As, Hg, Cu, Cd, Pb v.v…), với khả
năng tồn dư lâu trong đất, tác động tới môi trường đất gây ra sự thay đổi lớn
về số lượng các loài vi sinh vật và các động vật ăn thịt, phá vỡ cân bằng sinh
thái do sự phá hủy phần lớn hệ vi thực vật và động vật, sau đó đến sản phẩm
nông nghiệp, đến động vật và con người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn.
Hầu hết các quặng photphat dùng để chế tạo phân lân đều có chứa một
lượng Cd, hàm lượng này thay đổi tùy theo nguồn gốc địa hóa và vào loại
quặng: đối với quặng có nguồn gốc từ núi lửa, hàm lượng này là 0,15 – 5 mg
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Cd/kg, với quặng có nguồn gốc trầm tích: 5 – 300 mg Cd/kg. Trong chế biến
phân bón công nghiệp, khoảng 60 – 80% Cd trong đá photphat nằm lại trong
thành phần của phân. Hàm lượng thông thường của Cd trong phân photphat là
3 – 110 mg Cd/kg P
2
O
5
/ha/năm sẽ bổ sung vào đất 0,15 – 5,5 g Cd/ha/năm
<1-25
<10
3-30
Bi
-
-
-
<1-100
-
-
-
Cd
0,1-190
<0,1-9
<0,05-0,1
2-3000
<0,1-0,8
<0,05
-
Hg
0,01-2
0,3-3
-
<1-56
<0,01-0,2
-
0,6-6
Pb
4-1000
2-120
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bjerrgard và cs (1991) cho rằng, có nhiều loại thuốc diệt nấm, trừ sâu
gây hại cho mùa màng là các muối của kim loại nặng. Ví dụ như HgCl
2
và các
hợp chất thủy ngân hữu cơ (thuốc trừ sâu), CuSO
4
, Na
3
AsO
4
là thuốc diệt
động vật gây hại như sên cạn (H.aspersa). Trong quá trình sử dụng chắc chắn
các kim loại nặng sẽ dễ dàng xâm nhập vào chuỗi thức ăn gây nên hiện tượng
“phóng đại sinh học” [27].
Với số lượng lớn nông dược tích luỹ trong đất, đặc biệt là các thuốc có
chứa các nguyên tố như Pb, As, Hg có độc tính lớn, thời gian lưu lại trong
đất dài, có loại nông dược thời gian lưu trong đất tới 10 đến 30 năm, những
loại nông dược này có thể được cây trồng hấp thu, tích tụ trong quả và lá rồi
đi vào cơ thể người và động vật qua thực phẩm [27].
Có nhiều loại thuốc diệt nấm, trừ sâu gây hại cho mùa màng là các mối
của KLN. Ví dụ như: HgCl
2
và các hợp chất thuỷ ngân hữu cơ là thuốc diệt
vật gây hại như sên cạn. Trong quá trình sử dụng chắc chắn Hg sẽ xâm
nhập vào chuỗi thức ăn, gây hiện tượng phóng đại sinh học. Khi đó tác
động tới không chỉ động thực vật mà ngay cả sức khoẻ con người.( Lê Văn
Khoa và cs) [13].
Mẫu nghiên cứu
Hàm lƣợng chì
(ppm)
1
Mẫu bùn trong ao chứa nước thải phá ắc quy
2166
2
Mẫu đất lúa gần nơi nấu chì
387,6
3
Mẫu đất giữa cánh đồng
125,4
4
Mẫu đất gần làng
2911,4
(Nguồn: Lê Văn Khoa, 2008) [14]
Trung bình mỗi năm hoạt động tái chế chì đã đưa vào 1 kg đất là 4,34
mg Cu; 2,58 mg Zn; 28,48 mg Pb. Hàm lượng Cu tổng số trong 22 mẫu đất
tại làng tái chế đồng ở xã Đại Đồng huyện Mỹ Văn, Hưng Yên dao động từ
97,18 ppm đến 375,02 ppm trong đó có 14 mẫu hàm lượng Cu nằm trong
khoảng 100 – 200 ppm (trung bình là 152,34 ppm), có 6 mẫu có hàm lượng
Cu dao động từ 200 – 300 ppm (trung bình là 248,80 ppm), 2 mẫu có hàm
lượng Cu trên 300 ppm (trung bình là 369,87 ppm). Toàn bộ các mẫu đất
nghiên cứu đều có hàm lượng Cu tổng số vượt quá TCVN 7209 – 2002 đối
với đất dùng trong nông nghiệp .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Hoạt động sản xuất của làng nghề cơ kim khí ở Phùng Xá, Thạch Thất,
Hà Tây cũng đã ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng kim loại nặng trong đất.
50
100
500
Zn
200
500
3000
As
20
30
50
Cd
1
5
20
Sn
20
50
300
Hg
0,5
2
10
Pd
50
150
600
(Nguồn: Trích theo Lê Văn Khoa, 2008)[8].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
100
200
100
400
50 (100)
500 (1000)
Cd
5
8
3
-
1 (3)
2 (5)
Hg
5
0,3
5
-
2
10 (50)
(Nguồn: Trích theo Lê Văn Khoa, 2008)[8].
Đất bị ô nhiễm kim loại nặng không những làm giảm năng suất sinh học
của cây trồng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng nông sản dẫn tới các tác động
xấu đến sức khỏe con người.
Vì vây, nhiều nước đã quy định mức ô nhiễm đối với mỗi nhóm đất và
phương thức sử dụng đất. Ví dụ ở Ba Lan đưa ra 6 mức ô nhiễm đối với 3
nhóm đất khác nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên