ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------
NGUYỄN VĂN TRÌU
XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TÀI LIỆU
LƢU TRỮ HÌNH THÀNH TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƢ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lƣu trữ học
Hà Nội, 2014
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------
NGUYỄN VĂN TRÌU
XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TÀI LIỆU
LƢU TRỮ HÌNH THÀNH TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƢ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lƣu trữ học
1.2.2.Quản lý, khai thác thông tin TLLT phục vụ cho hoạt động quản lý doanh nghiệp .... 31
1.2.3. Quản lý, khai thác thông tin TLLT phục vụ hoạt động kiểm tra, thanh tra doanh
nghiệp. ................................................................................................................................. 34
1.2.4. Quản lý TLLT góp phần bảo vệ bí mật những thông tin có liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp. .................................................................................................... 37
1.3. Sự cần thiết của việc xây dựng quy trình quản lý TLLT hình thành từ hoạt động
của hệ thống BIDV ............................................................................................................ 39
1.3.1.Quy trình quản lý TLLT và các nguyên tắc quản lý lưu trữ trong hệ thống BID .39
1.3.2. Áp dụng quy trình quản lý TLLT và hiệu quả của công tác lưu trữ trong hệ thống
BIDV. .................................................................................................................................. 40
1.3.3. Xây dựng quy trình quản lý TLLT và việc áp dụng ISO trong công tác lưu trữ
BIDV .............................................................................................................................. 42
1.3.4. Xây dựng quy trình quản lý TLLT để giải quyết những hạn chế trong công tác
lưu trữ BIDV. ...................................................................................................................... 43
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TLLT TRONG HỆ
THỐNG BIDV.............................................................................................................. 46
2.1. Thực trạng tổ chức và quản lý công tác lưu trữ BIDV. ............................................ 46
2.1.1. Thực trạng tổ chức và cán bộ lưu trữ BIDV........................................................... 46
2.1.2. Thực trạng kho lưu trữ BIDV .............................................................................. 48
2.1.3. Công tác ban hành văn bản quản lý về công tác lưu trữ BIDV............................. 50
2.2. Tình hình thực hiện nghiệp vụ trong công tác quản lý TLLT BIDV ....................... 52
2
2.2.1. Công tác thu thập và bổ sung TLLT ....................................................................... 52
2.2.2. Công tác chỉnh lý tài liệu ......................................................................................... 55
2.2.3. Công tác bảo quản TLLT ........................................................................................ 57
2.2.4. Tổ chức khai thác, sử dụng TLLT .......................................................................... 59
2.2.5. Công tác giao nộp TLLT vào các Lưu trữ lịch sử.................................................. 61
CHƢƠNG III: XÂY DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TLLT HÌNH THÀNH TỪ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự ra đời và phát triển của hệ thống các Ngân hàng tại Việt Nam là một
bước ngoặt của lịch sử đánh dấu sự phát triển chung của đất nước trong lĩnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội. Hiện nay ở nước ta, sự phát triển của nền kinh tế kéo
theo đó là hoạt động của các ngân hàng cũng được mở rộng, nhiều ngân hàng lớn
đã xây dựng được một hệ thống các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc trên khắp
các tỉnh/thành phố trong cả nước và ở nước ngoài. Một trong những ngân hàng
lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt nam đó là Ngân hàng
Thương mại cổ phần (TMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) (sau đây
gọi là BIDV), được thành lập từ năm 1957 với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng
kiến thiết Việt Nam (1957-1980), sau đó là Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt
Nam (1981-1989), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (199026/04/2012), từ 27/04/2012 đến nay là Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP)
Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Lịch sử xây dựng, trưởng thành của BIDV là một
chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn với từng thời
kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc
Việt Nam.
Hiện nay, BIDV có khoảng 140 đơn vị thành viên bao gồm các chi nhánh,
các công ty trực thuộc, hiện diện tại nước ngoài (Lào, Campuchia, Myanmar, CH
Séc…), việc chỉ đạo điều hành bằng văn bản trong các hoạt động của hệ thống
BIDV là rất quan trọng và cần thiết, do đó khối lượng văn bản, tài liệu hình
thành hành năm tại BIDV và các đơn vị thành viên là rất lớn. Trong các kho lưu
trữ của BIDV và các đơn vị thành viên hiện có rất nhiều TLLT có giá trị bao
gồm nhiều loại hình tài liệu khác nhau, với nội dung đa dạng và phong phú được
hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan. Những TLLT này cần được tổ
chức quản lý, thu thập, phân loại, xác định giá trị, bảo quản và phục vụ công tác
khai thác và sử dụng của cán bộ trong hệ thống BIDV cũng như giao nộp vào các
Lưu trữ lịch sử. Nhưng trên thực tế, hiện nay công tác lưu trữ tại BIDV mới
bước đầu được quan tâm thực hiện và còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế và tồn tại.
nay đối với công tác lưu trữ trong hệ thống BIDV là cần đẩy mạnh công tác
nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý về công tác lưu trữ, xây dựng
mô hình tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghiệp vụ trong quy trình quản lý
TLLT, nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác lưu trữ và phát
huy giá trị của TLLT của BIDV đối với hoạt động nghiên cứu và các hoạt động
nghiệp vụ khác.
6
2. Mục tiêu, phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu
*Mục tiêu nghiên cứu:
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý TLLT hình thành từ hoạt
động của hệ thống BIDV.
- Phân tích những nguyên nhân chính dẫn đến tồn tại và hạn chế trong công
tác quản lý TLLT BIDV.
- Xây dựng trình tự tiến hành đối với những công việc cụ thể cần thực
hiện nhằm quản lý, kiểm soát và tổ chức khoa học TLLT hình thành trong hoạt
động của hệ thống BIDV.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu, khảo sát việc thực hiện công tác lưu trữ và quản lý TLLT tại
Trụ sở chính BIDV và một số đơn vị thành viên trên địa bàn lân cận.
* Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính là công tác quản lý và thực hiện các nghiệp vụ
liên quan đến công tác quản lý TLLT hình thành từ hoạt động của các đơn vị
trong hệ thống BIDV.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như sau:
- Nghiên cứu, đánh giá vai trò của công tác quản lý TLLT hình thành trong
hoạt động của các doanh nghiệp và sự cần thiết phải xây dựng quy trình quản lý
TLLT hình thành từ hoạt động của hệ thống BIDV.
- Khảo sát, đánh giá những thực trạng còn tồn tại trong công tác quản lý
TLLT hình thành từ hoạt động của hệ thống BIDV.
- Phân tích những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng còn tồn tại trong
công tác quản lý TLLT hình thành từ hoạt động của hệ thống BIDV.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ trong hệ thống BIDV xây
dựng, đề xuất những công việc cần thực hiện nhằm quản lý hiệu quả TLLT hình
thành trong hệ thống BIDV và nâng cao chất lượng của công tác lưu trữ BIDV.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm vừa qua, ngành lưu trữ ở Việt Nam đã có rất nhiều
những công trình khoa học nghiên cứu về công tác lưu trữ được thực hiện một
cách công phu và có đóng góp quan trọng về cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn
công tác lưu trữ. Đây là những đề tài nghiên cứu có thể coi như là kim chỉ nam
cho những cán bộ làm công tác lưu trữ vận dụng vào quá trình tổ chức và thực
hiện công tác lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức một cách có hiệu quả. Một số đề tài
8
lớn như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức các kho lưu trữ ở Việt Nam” do
PGS. Vương Đình Quyền là chủ trì, hay đề tài “Cơ sở khoa học để tổ chức công
quản lý Nhà nước về công tác văn thư lưu trữ” do PGS.TS. Dương Văn Khảm
chủ trì. Ngoài ra còn có một số đề tài khác như Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hệ
thống tổ chức lưu trữ nhà nước” của Trần Thanh Tùng. Điều này cho thấy, hoạt
động nghiên cứu khoa học về công tác lưu trữ ngày càng được quan tâm và thực
hiện mang tính chuyên sâu cao, phục vụ cho công tác lưu trữ được thực hiện có
hiệu quả.
Hiện nay đối với ngành lưu trữ ở Việt Nam, hoạt động quản lý công tác lưu
trữ tại các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, các ngân hàng thương mại đang là
Nhà nước về công tác lưu trữ.
- Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học ngành lưu trữ và
ngành ngân hàng, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về công tác lưu trữ.
- Những văn bản quy định, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về việc tổ
chức quản lý công tác lưu trữ, tài liệu tại các Ngân hàng và các văn bản quy
định, báo cáo của BIDV về công tác lưu trữ của cơ quan.
- Thông tin và tài liệu trên mạng internet và intranet như trang web
http://bidvportal.vn/, http://10.53.3.49/BIDV-vt/, http://www.bidv.com.vn/
7. Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài như sau: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ
lục, nội dung của Luận văn được chia làm 3 chương, bao gồm:
Chƣơng 1. Cơ sở khoa học và pháp lý của việc nghiên cứu xây dựng
quy trình quản lý TLLT hình thành từ hoạt động của hệ thống BIDV.
Nội dung chính bao gồm:
1.1. Tổng quan về hệ thống và TLLT hình thành từ hoạt động của BIDV
1.2. Vai trò của công tác quản lý TLLT hình thành trong hoạt động của các
doanh nghiệp.
1.3. Sự cần thiết của việc xây dựng quy trình quản lý TLLT hình thành
trong hoạt động của hệ thống BIDV
Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý TLLT trong hệ thống BIDV.
Nội dung chính bao gồm:
2.1. Thực trạng tổ chức và quản lý công tác lưu trữ trong hệ thống BIDV
2.2. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ trong công tác quản lý TLLT trong
hệ thống BIDV
Chƣơng 3. Xây dựng quy trình quản lý TLLT hình thành từ hoạt động
của hệ thống BIDV.
Nội dung chính bao gồm:
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY
DỰNG QUY TRÌNH QUẢN LÝ TLLT HÌNH THÀNH TỪ
HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG BIDV
1.1. Tổng quan về quá trình hình thành, phát triển và TLLT của hệ
thống BIDV
1.1.1.Tổng quan về hệ thống BIDV
1.1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển BIDV
Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) mà tiền thân là Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam là một trong những
ngân hàng được thành lập sớm nhất ở Việt Nam (24/06/1957). Từ khi thành lập
cho đến hiện nay, BIDV đã trải qua nhiều lần thay đổi về tên gọi cũng như cơ
cấu tổ chức hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và quy mô tổ chức để phù hợp với
thực tiễn xã hội cụ thể như sau:
- Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26 tháng 4 năm 1957
- Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Việt Nam từ ngày 24 tháng 6 năm 1981
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14 tháng 11 năm 1990
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày
27 tháng 04 năm 2012
Đến nay, sau một quá trình dài hơn 57 năm xây dựng và trưởng thành,
BIDV đã phát triển và trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất ở Việt
Nam với mạng lưới hệ thống các đơn vị thành viên bao gồm các chi nhánh, các
Văn phòng đại diện và các công ty liên doanh góp vốn rộng lớn phân bổ trên
khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước và trên một số nước lân cận như: Lào,
Campuchia, Myanmar và hiện nay có cả các đơn vị có trụ sở tại Châu Âu như
Nga và Cộng Hòa Séc. Nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển, có thể thấy
được quá trình phát triển của hệ thống BIDV qua các giai đoạn của lịch sử quan
trọng của nước ta. Và cũng qua đó chúng ta nhận thấy sự đóng góp của hệ thống
nước; kiểm tra, theo dõi tình hình sử dụng vốn và hoạt động công tác nghiệp vụ
kiến thiết cơ bản; kiểm tra, theo dõi tình hình sử dụng vốn và hoạt động công tác
nghiệp vụ kiến thiết…với chức năng, nhiệm vụ quan trọng đó, sự ra đời của
13
Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được kỳ vọng là sẽ góp phần to lớn vào công
cuộc kiến thiết, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện kịp thời, hiệu
quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cùng với
các ngành kinh tế khác, Ngân hàng Kiến thiết có nhiệm vụ to lớn là tham gia
đánh giá tài sản, tiếp quản các cơ sở kinh tế của các tỉnh miền Nam; mở rộng
mạng lưới của Ngân hàng trên phạm vi toàn quốc; đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáo ứng yêu cầu tình hình
mới.
b. Thời kỳ Ngân hàng Đầu tƣ và Xây dựng Việt Nam (1981 – 1990)
Để thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước sau khi đất nước
được hoàn toàn độc lập và đảm bảo sự phù hợp với giai đoạn mới và phát triển
kinh tế đất nước, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã trải qua những thay đổi to
lớn, có tính bước ngoặt như việc chuyển Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ trực
thuộc Bộ tài chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đổi tên
thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (1981). Theo đó, Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam là ngân hàng chuyên doanh, hoạt động về cấp
phát, tín dụng, thanh toán và dịch vụ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, có
tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp phát vốn hoạt động ban đầu, hạch
toán kinh doanh từ cơ sở và toàn hệ thống.
Sau khi chuyển sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhiệm vụ
chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam vẫn là tổ chức cung ứng
vốn cho lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển
kinh tế theo các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng
trình to lớn có “ý nghĩa thế kỷ” của đất nước, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong
lĩnh vực sự nghiệp và phúc lợi như: công trình thủy điện Sông Đà, cầu Thăng
Long, cầu Chương Dương, cảng Chùa Vẽ, nhà máy xi măng Hoàng Thạch, nhà
máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy đóng tàu Hạ Long,...
c. Thời kỳ Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (1990 - 2012)
Từ năm 1990 đến 26 tháng 04 năm 2012, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng
Việt Nam bước sang một giai đoạn mới, vươn lên đổi mới mạnh mẽ, nhất là từ
khi Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh về Ngân hàng, đó là: Pháp lệnh Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
15
chính. Hai Pháp lệnh này là cơ sở pháp lý quan trọng mở đường cho sự chuyển
đổi mạnh mẽ của hệ thống Ngân hàng nói chung và của Ngân hàng Đầu tư và
Xây dựng Việt Nam nói riêng.
Đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 14 tháng 11 năm 1990, chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định về việc chuyển Ngân hàng Đầu tư và Xây
dựng Việt Nam thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Từ đây, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trở thành một pháp nhân hạch toán độc lập,
được tự chủ về tài chính, được xác định là một doanh nghiệp nhà nước có quyền
huy động vốn trong nước và ngoài nước, được quan hệ với khách hàng thuộc
mọi thành phần kinh tế.
Từ năm 1990, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã thược hiện
thành công thử nghiệm quan trọng của nhà nước ta đó là xóa bỏ bao cấp trong
đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện cơ chế cho vay có thu hồi vốn đối với các
công trình, dự án sản xuất, kinh doanh, đồng thời áp dụng thành công nhiều hình
thức huy động vốn mới trong dân cư để cho vay lại đối với nền kinh tế. Đặc biệt,
từ năm 1995, sau khi chuyển giao nhiệm vụ cấp phát vốn sang Tổng cục Đầu tư
phát triển trực thuộc Bộ Tài chính để bước vào hoạt động thương mại thực sự,
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã trở thành ngân hàng đi tiên phong
phân định rõ khối ngân hàng, khối công ty trực thuộc, khối đơn vị sự nghiệp,
khối liên doanh, làm tiền đề quan trọng cho việc xây dựng đề án cổ phần hoá.
d. Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (Từ 27/04/2012
đến nay)
Cùng với quá trình cơ cấu lại mô hình tổ chức, công tác quản lý hệ thống
cũng đã liên tục được củng cố, tăng cường, phù hợp với mô hình tổ chức và yêu
cầu phát triển mới. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã xây dựng và hoàn thiện kế
hoạch phát triển thể chế, ban hành cơ bản đầy đủ hệ thống văn bản nghiệp vụ,
tạo dựng khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động ngân hàng theo luật pháp, phù
hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Tính đến 26 tháng 4 năm 2012, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tiền thân là Ngân hàng Kiến thiết Việt
Nam, tròn 55 năm xây dựng và phát triển. Đây cũng là thời điểm đánh dấu mốc
quan trọng đó là thực hiện thành công cổ phần hóa (IPO), Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam chính thức đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần
Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình kinh tế trong
nước và trên thế giới đang trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đứng trước
17
những khó khăn như vậy Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam vẫn
đang từng bước xây dựng và củng cố thương hiệu ở trong và ngoài nước. Hiện
nay, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực sự đã trở thành một
ngân hàng thương mại lớn nhất ở Việt Nam với mạng lưới gồm 127 chi nhánh và
trên 551 điểm mạng lưới, 1.300 ATM/POS tại 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc.
Mạng lưới phi ngân hàng với một số đơn vị thành viên như: Công ty cổ phần
chứng khoán BIDV (BSC), Công ty Cho thuê tài chính BIDV, Tổng công ty bảo
hiểm BIDV (BIC) với 20 chi nhánh trong nước và 2 đơn vị liên doanh với nước
ngoài tại lào và Campuchia…; Hiện diện thương mại tại nước ngoài: Lào,
Campuchia, Myanmar, Nga, Séc...; Các đơn vị liên doanh với nước ngoài: Ngân
hàng Liên doanh VID-Public (đối tác Malaysia), Ngân hàng Liên doanh Lào Việt (với đối tác Lào) Ngân hàng Liên doanh Việt Nga - VRB (với đối tác Nga),
Việt Nam, ngoại tệ theo quy định của Pháp luật dưới hình thức sau:
+ Cho vay;
+ Bảo lãnh ngân hàng;
+ Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá
khác;
+ Bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế với các ngân hàng
được thực hiện thanh toán quốc tế;
+ Phát hành thẻ tín dụng;
+ Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận.
* Dịch vụ thanh toán và Ngân quỹ
- Mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước;
- Mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng khác;
- Mở tài khoản tiền gửi và tài khoản thanh toán ở nước ngoài theo quy định
của pháp luật về ngoại hối;
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng;
- Cung ứng các phương tiện thanh toán;
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệch chi, ủy
nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng trừ thẻ tín dụng;
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ;
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác khi
được ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
19
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
trong nước và ngoài nước; tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được
Ngân hàng Nhà nước Chấp thuận.
* Các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng thương mại khác
- Tham gia thị trường tiền tệ: Đấu thầu tín phiếu kho bạc, mua bán công cụ
lĩnh vực bảo hiểm như đã nêu ở trên, BIDV còn thực hiện những hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của pháp luật.
b. Cơ cấu tổ chức
BIDV là một ngân hàng có quy mô hệ thống mạng lưới khá lớn với chức
năng, nhiệm vụ khá đa dạng và phong phú. Chính vì vậy, bộ máy quản lý trong
hệ thống BIDV được tổ chức khá phức tạp với sự phân cấp giữa các đơn vị. Để
có thể hiểu rõ về cơ cấu tổ chức của hệ thống BIDV căn cứ theo Điều lệ Ngân
hàng BIDV ban hành ngày 26/04/2013 và Nghị quyết số 1211/NQ-HĐQT của
Hội đồng quản trị BIDV ban hành ngày 29/07/2013 về việc điều chỉnh mô hình,
chức năng nhiệm vụ của BIDV ta có thể phân chia ra các loại cơ cấu tổ chức
bao gồm: Cơ cấu tổ chức quản lý, Cơ cấu tổ chức trụ sở chính, cơ cấu tổ chức
các chi nhánh. (Sơ đồ cơ cấu tổ chức Phụ lục 01)
- Cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm:
+ Đại hội đồng Cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của BIDV, bao
gồm tất cả các Cổ đông có quyền biểu quyết, hoạt động thông qua cuộc họp Đại
hội đồng Cổ đông thường niên, Đại hội cổ đông bất thường và thông qua việc
lấy ý kiến bằng văn bản.
+ Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị BIDV, có toàn quyền nhân danh
BIDV để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của BIDV không thuộc
thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông.
+ Ban kiểm soát: Là cơ quan do Đại hội đồng Cổ đông bầu ra, thay mặt
các Cổ đông để kiểm soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan và trung thực
mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành BIDV, thực trạng tài chính của
BIDV và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng Cổ đông trong thực hiện nhiệm vụ
được giao.
+ Tổng Giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của BIDV, do
Hội động quản trị bổ nhiệm trong số các thành viên của Hội đồng quản trị và
chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản
trị, trước pháp luật về việc điều hành hoạt động hàng ngày của BIDV và về việc
21
+ Khối Tác nghiệp:
- Trung tâm Dịch vụ khách hàng
- Trung tâm Quản lý và dịch vụ kho quỹ
- Trung tâm Tác nghiệp tài trợ thương mại
22
- Trung tâm Thanh toán.
+ Khối Đầu tƣ:
- Ban Quản lý đầu tư.
+ Khối Hỗ trợ:
- Ban Công nghệ
- Ban Kế hoạch chiến lược
- Ban Pháp chế
- Ban Quản lý dự án khu vực phía Bắc
- Ban Quản lý dự án khu vực phía Nam
- Ban Quản lý tài sản nội ngành
- Ban Thương hiệu và quan hệ công chúng
- Ban Tổ chức cán bộ
- Văn phòng
- Văn phòng Công đoàn
- Văn phòng Đảng ủy.
- Cơ cấu tổ chức các chi nhánh
+ Khối Quản lý khách hàng:
- Các Phòng Khách hàng doanh nghiệp, trong đó bao gồm Tổ Tài trợ
thương mại trực thuộc Phòng Khách hàng doanh nghiệp.
- Các Phòng Khách hàng cá nhân.
+ Khối Quản lý rủi ro:
- Các Phòng Quản lý rủi ro.
+ Khối Tác nghiệp:
lập (năm 1957) tới thời điểm khảo sát. Bên cạnh đó, hiện có một khối lượng tài
liệu khá lớn đang được lưu trữ tại các Ban, trung tâm nghiệp vụ trực thuộc trụ sở
chính và các đơn vị thành viên ở trong nước và ở nước ngoài. Những tài liệu này
phần lớn không được phân loại, chỉnh lý và được đóng gói trong các thùng bằng
tôn để thực hiện bảo quản.
1.1.2.2. Thành phần tài liệu:
Là một Ngân hàng có hoạt động đa dạng liên quan tới nhiều lĩnh vực trong
đời sống xã hội như: tín dụng, bảo hiểm, xây dựng cơ bản, đầu tư tài
chính...Chính vì vậy TLLT hình thành trong hoạt động của hệ thống BIDV cũng
có thành phần khá đa dạng và phong phú với nhiều thành tài liệu khác bao gồm:
24