BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------
HÀ VĂN BÌNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2014
-2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------
HÀ VĂN BÌNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Tác giả luận văn
Hà Văn Bình
KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
-4-
1
AN-QP
:
An ninh, quốc phòng
2
BCH
:
Ban chấp hành
3
CBCC
:
:
Cơ sở vật chất
8
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
9
HTCT
:
Hệ thống chính trị
10
KH-CN
:
Khoa học, công nghệ
11
15
MTTQ
:
Mặt trận tổ quốc
16
UBND
:
Ủy ban nhân dân
17
VH-XH
:
Văn hóa - xã hội
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
……..……………………………………………
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay ............................
3.3. Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp nâng cao
năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở …………
Kết luận chương 3 …………………………..……………………
C. KẾT LUẬN…………………………….………………………...
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
E. PHỤ LỤC
12
12
12
21
32
43
44
44
50
59
70
71
73
73
77
105
107
108
110
114
Bảng 7. Kết quả đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất
106
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Phụ lục 1. Phiếu trưng cầu ý kiến
Phụ lục 2. Thống kê trình độ chuyên môn của cán bộ chủ chốt
trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
10. Phụ lục 3. Thống kê trình độ chính trị của cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
11. Phụ lục 4. Phiếu điều tra năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ
chốt cấp xã ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
12. Phụ lục 5. Danh sách cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Cẩm Xuyên
hiện nay
114
117
118
119
120
-7-
-8Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ các xã, thị trấn (gọi chung là cấp
xã) đã có bước phát triển về chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn bộc lộ những
yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ trước những yêu cầu của tình
hình, nhiệm vụ mới. Vì vậy, một số cán bộ gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí va
vấp, vi phạm trong thực thi nhiệm vụ. Bên cạnh đó, trước tác động tiêu cực của cơ
chế thị trường, một bộ phận CBCC cấp xã có dấu hiệu suy thoái về phẩm chất đạo
đức, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng, lãng phí... bị
kỷ luật. Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng đồng thời
đặt ra đòi hỏi bức thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt
năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp xã.
Cẩm Xuyên là một huyện nằm giữa Thành phố Hà Tĩnh và huyện Kỳ
Anh, nơi có khu kinh tế Vũng Áng – khu kinh tế động lực của tỉnh. Là huyện có
truyền thống cách mạng, có nền kinh tế phát triển. Trong tình hình hiện nay đã
đặt ra hàng loạt các nhiệm vụ nặng nề, phức tạp về xây dựng và quản lý quy
hoạch, quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng kỷ thuật, hạ
tầng xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội,
đảm bảo an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội ...
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên, huyện Cẩm Xuyên phải
có một đội ngũ CBCC nói chung, đội ngũ CBCC cấp xã nói riêng vững mạnh,
có phẩm chất, năng lực, phương pháp, phong cách công tác tốt, nhạy bén, năng
động, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong tình hình mới. Với ý nghĩa
đó, chúng tôi chọn đề tài: " Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ
chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, chuyên
ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, có không ít công trình nghiên cứu về chất
lượng công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong đó có nghiên cứu sâu về năng
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở nhưng lại có những đặc
điểm riêng của từng vùng. Qua đó, nghiên cứu từng nội dung, phương pháp,
cách thức xây dựng đội ngũ CBCC nhằm chọn lọc những vấn đề mang tính
- 10 chung, tính đặc sắc, có cơ sở lý luận sâu sắc để vận dụng trong việc nâng cao
năng lực lãnh đạo đối với CBCC các xã, thị trấn trên địa bàn.
Các công trình từ đề tài, luận văn, luận án và các bài viết đăng trên các
tạp chí được nêu ra ở trên đã cung cấp những thông tin bổ ích dưới các khía
cạnh và các mức độ khác nhau, nhất là những lý luận về công tác cán bộ nói
chung và CBCC trong HTCT cơ sở những năm gần đây, đúc rút nhiều kinh
nghiệm và đề xuất các giải pháp có giá trị.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có luận văn nào nghiên cứu về đội ngũ
CBCC của HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên một cách sâu sắc, toàn diện, hệ
thống dưới góc độ Chính trị học. Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài này trên
cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình trên nhằm hệ thống lại những kiến thức
đã học và góp phần đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và phát
triển huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực lãnh đạo cho đội ngũ CBCC
trong HTCT cơ sở. Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần nâng
cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm
Xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ
+ Nghiên cứu và luận chứng nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận về năng lực
lãnh đạo của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên.
+ Khảo sát, điều tra đầy đủ, có hệ thống về thực trạng năng lực, hiệu quả
lãnh đạo, quản lý của đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh.
phương khác trong công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và xây dựng
HTCT. Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập liên quan đến công tác cán bộ, công tác xây dựng
Đảng và xây dựng HTCT cơ sở ở các trường bồi dưỡng chính trị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, Luận văn gồm 3
chương
Chương 1: Năng lực lãnh đạo và yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của
đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở nước ta hiện nay.
- 12 Chương 2: Thực trạng đội ngũ CBCC và nâng cao năng lực lãnh đạo của
đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của CBCC
trong HTCT cơ sở ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- 13 B. NỘI DUNG
Chương 1
NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH
ĐẠO CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT TRONG HỆ THỐNG CHÍNH
TRỊ CƠ SỞ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Cán bộ chủ chốt và năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm cán bộ
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì:
"Cán bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước; người giữ
chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước" [48; 249]. Theo Luật Cán bộ, công chức: "Cán bộ, công chức
Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) thay
cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”.
HTCT đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. HTCT
nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ. Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước đổi mới quan
trọng trong tư duy chính trị của Đảng ta. HTCT xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa
và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính
vô sản trong các giai đoạn trước “đổi mới”, đồng thời phản ánh một hiện thực
mới về chính trị và dân chủ trong điều kiện đổi mới KT-XH ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Vai trò, vị trí, đặc điểm và tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ
chốt cấp xã
1.1.2.1 Vai trò, vị trí của người cán bộ chủ chốt cấp xã
Bàn về vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng,
C.Mác và Ph. Ăngghen là người đầu tiên nêu ra quan điểm khoa học về cán bộ.
Hai ông khẳng định: "Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử
dụng lực lượng thực tiễn" [31; 184].
Theo quan điểm của hai ông, cán bộ là những người tiêu biểu cho phong
trào cách mạng; có tri thức và trình độ nhận thức cao, biết kết hợp vận dụng lý
luận cách mạng với thực tiễn để tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng,
lãnh đạo quần chúng thực hiện các cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Họ phải
- 17 là những người tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động, có trách nhiệm cao và được quần chúng noi theo.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen về Đảng
của giai cấp công nhân, V.I. Lênin đã đề ra những quan điểm quan trọng về
cán bộ trong quá trình xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Theo
V.I. Lênin, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ đảm bảo
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng. Bởi vì họ vừa là
bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người coi: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc" [21; 269]. Vai trò của người cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, được
thể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đường lối chính sách, cán
bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng. Trong
quan niệm của Người, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà còn có
vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện đường lối. Người nói: "Cán bộ
là người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân
dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được"; "Cán
bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động
cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt" [21; 54].
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu cán bộ phải sâu sát quần chúng,
nắm bắt kịp thời và phản ánh tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của
nhân dân với Đảng và Nhà nước để quyết định đường lối, chủ trương, chính
sách hợp lòng dân. Đối với cơ sở, điều này càng đặc biệt quan trọng. Người
chỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong
quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng" [21; 290]. Người kết luận:
"Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém" [ 21; 273].
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người lãnh đạo, dẫn dắt
quần chúng nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụy
phục vụ nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộ
phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh
đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [20; 131].
- 19 Thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
cán bộ, trong suốt 84 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú
- 20 - Có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, AN
- QP trong phạm vi toàn xã, có khả năng tổ chức công việc và là trung tâm đoàn
kết của tổ chức.
Như vậy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu quan
trọng nhất trong HTCT cơ sở, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành chủ
trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn
hoá xã hội trên địa bàn cấp xã mà mình phụ trách.
1.1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống
chính trị cơ sở
Đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở phần lớn trưởng thành trong thực tiễn
cách mạng ở cơ sở. Do đó, họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội; am hiểu và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, nhiệt tình, tâm huyết với công việc, có kinh nghiệm công tác, khả năng
thuyết phục, vận động quần chúng tốt, được hội viên và nhân dân tín nhiệm. Số
cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, năng
động, nhạy bén, tiếp cận với cái mới nhanh; được các thế hệ cán bộ đi trước
hướng dẫn, giúp đỡ nên họ trưởng thành nhanh chóng, trở thành nguồn cán bộ
lãnh đạo cao hơn ở địa phương hoặc cung cấp cán bộ cho huyện và tỉnh.
Đội ngũ CBCC trong HTCT cơ sở hoạt động trong điều kiện kinh tế ngày
càng phát triển, với đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao, cho nên họ năng động, luôn
tìm tòi, sáng tạo trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh
- quốc phòng, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên nhằm đáp ứng với yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và phát triển quê hương.
Với nhiều chủ trương mới, tích cực nên thuận lợi cho công tác luân chuyển
cán bộ giữa các xã với nhau hoặc giữa xã với huyện. CBCC Đảng, chính quyền cấp
xã là cán bộ, công chức nên thuận lợi trong việc thực hiện chính sách cán bộ theo
qui định của Nhà nước, tạo sự yên tâm, gắn bó của họ với địa phương.
1.1.2.3. Những tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp xã
Như vậy, với vai trò vô cùng quan trọng và trách nhiệm nặng nề người
CBCC có những tiêu chuẩn cần phải có. Để luôn xứng đáng là người tiêu biểu,
đại diện và lãnh đạo nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, tin cậy và uỷ thác.
- 22 Người cán bộ lãnh đạo phải không ngừng rèn luyện tu dưỡng mọi mặt, thống
nhất giữa đức và tài, thực hiện được mục tiêu to lớn là đưa sự nghiệp cách mạng
đến thắng lợi cuối cùng.
1.2. Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của
cán bộ chủ chốt ở cấp xã
1.2.1. Năng lực lãnh đạo
Theo từ điển tiếng Việt, “năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan sẳn có
để thực hiện một hoạt động nào đó” [47; 362].
Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặc
tổng hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt
động và bảo đảm cho hoạt động có kết quả cao…
Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt
động nào đó. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà là
một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Các thuộc
thuộc tính ấy có quan hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh
thể. Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó
được bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách
quan. Đối với những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ
được phát triển và bộc lộ mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực
khác nhau. Năng lực vừa mang tính bẩm sinh, vừa là kết quả của quá trình học
tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người.
Theo Hồ Chí Minh: năng lực con người không phải hoàn toàn do tự
nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có. Vì thế, năng lực
không chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người, mà là kết quả của
sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tập
hoach công tác, kế hoạch phát triển KT-XH phù hợp với thực tiễn ở cơ sở.
Thứ hai, năng lực tư duy lý luận mang tính khái quát, là khả năng liên
kết tri thức các lĩnh vực, các ngành nghề, các bộ phận phong phú đa dạng thành
một chỉnh thể ở mức độ khái quát cao. Đồng thời phân định được tính đặc thù,
tính riêng biệt của các loại lĩnh vực, bộ phận để khi lãnh đạo, chỉ đạo vừa mang
tính lịch sử cụ thể vừa mang tính khái quát tổng hợp.
Thứ ba, năng lực hiện thực hoá tri thức đó là khả năng biến những tri
thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, chương trình, kế hoạch hành
động làm biến đổi hiện thực trực tiếp. Nó thực hiện khả năng vận dụng lý
- 24 luận vào thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn, vận dụng cái chung một cách
đúng đắn vào từng tình huống cụ thể. Đó cũng là khả năng tổng hợp để có cái
nhìn hệ thống, nắm được cái chủ yếu, cái bản chất của sự vật hiện tượng trong
sự vận động của chúng, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn phù
hợp với thực tiễn cơ sở.
Như vậy, năng lực tư duy lý luận của CBCC cấp xã có giá trị định hướng
đúng đắn hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của đội ngũ này. Cơ sở của
năng lực tư duy lý luận là tri thức lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, kho tàng tri thức của nhân loại, đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và sự trải nghiệm trong phong trào cách mạng của thực tiễn địa phương.
1.2.2.2. Năng lực tổ chức thực tiễn
Năng lực tổ chức thực tiễn là năng lực tổ chức vận hành bộ máy HTCT
cơ sở, có nhiệm vụ xác định hoạt động nhịp nhàng cân đối có trật tự, có hiệu lực,
hiệu quả nhằm hiện thực hoá những mục tiêu đề ra. Biểu hiện cụ thể của năng
lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ CBCC cấp xã như sau:
Một là, có khả năng thu nhập và xử lý thông tin liên quan đến mọi mặt
của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng… ở cấp xã
một cách nhanh chóng và có hiệu quả cụ thể, thiết thực. Công tác lãnh đạo
quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo quản lý và khách thể bị
chuyển sang lĩnh vực kiểm tra và gắn với kiểm tra là đôn đốc, uốn nắn, tổ chức
thực hiện đến cùng quyết định”[48; 463].
Công tác kiểm tra giám sát làm tăng hiệu quả các quyết định quản lý,
đảm bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ một cách triệt để, tránh được các căn
bệnh vốn có như qua loa, đại khái, hạn chế các tiêu cực có thể nảy sinh trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ. Năng lực này còn thể hiện ở khả năng đánh giá
hiệu quả việc thực hiện các quyết định và khả năng đúc rút kinh nghiệm thực
tiễn kịp thời vận dụng nó vào cuộc sống.
1.2.2.3 Năng lực sáng tạo và tính quyết đoán
Năng lực sáng tạo là khả năng vận dụng tri thức lý luận và khoa học vào
thực tiễn không rập khuôn máy móc, tìm ra những con đường mới những
phương pháp mới, giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với đòi
hỏi khách quan. Với tư duy năng động, người CBCC cấp xã phải nắm bắt được