Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới (1986 2001 - Pdf 33

Trờng đại học vinh
Khoa lịch sử

--------

Nguyễn Văn Điệp

Khoá luận tốt nghiệp

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới(1986-2001)

Chuyên ngành: lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Giáo viên hớng dẫn: Ths. Trần Vũ Tài

Vinh, 2007


A- Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

Đối ngoại là một lĩnh vực quan trọng và đặc biệt nhạy cảm đối với mọi quốc
gia trên thế giới, đờng lối đối ngoại cùng với đờng lối đối nội quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của đất nớc, của dân tộc. Vì vậy đờng lối chủ trơng chính sách
và hoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi chế độ chính trị, bao giờ
cũng giữ vị trí quan trọng hàng đầu.
ở nớc ta, kể từ khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công đến nay, dới sự
lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hình thành một nền ngoại
giao cách mạng. Kế thừa chủ nghĩa Mác- Lê Nin kết hợp t tởng và phong cách
ngoại giao Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống tinh hoa của dân tộc, văn hoá của

cao chất lợng hiệu quả hội nhập và hợp tác quốc tế xứng đáng với tầm vóc và vị thế
của Việt Nam trên trờng quốc tế.
Việc tìm hiểu, lý giải cơ sở khoa học, tính đúng đắn sáng tạo quá trình đổi
mới đờng lối, t duy đối ngoại của Đảng là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc, nhằm đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp đổi mới đất nớc và
quá trình hội nhập quốc tế. Mặt khác góp phần nâng cao nhận thức t tởng cho sinh
viên, cán bộ đảng viênNâng cao ý thức trách nhiệm và hiệu quả trong từng mặt
của hoạt động đối ngoại của Đảng và nhà nớc ta, đồng thời làm thất bại âm mu thủ
đoạn chống phá của kể thù tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa cho sự nghiệp
đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, góp phần vào sự nghiệp
cách mạng của nhân dân thế giới vì hoà bình độc lập đân tộc dân chủ tiến bộ xã
hội.
Vì những lý do trên tôi chon đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới (1986- 2001) làm khoá luận tốt nghiệp đại
học của mình. Nhằm làm sáng tỏ cơ sở khoa học của quá trình đổi mới đờng lối t
duy đối ngoại của Đảng ta trong hơn 15 năm đổi mới đất nớc(1986- 2001)
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới (19862001) là một chủ đề rộng lớn đợc giới nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm. trong
đó tiêu biểu là các công trình khoa học của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc:
Tổng Bí th Đỗ Mời, Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế
3


giới(1996) Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tổng Bí th Lê Khả Phiêu,
Ngoại giao Việt nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, Số 4,
tháng 8/2000; Chủ; Thủ tớng Nguyễn Mạnh Cầm, Ngoại giao Việt Nam trong thời
đại mới, Tạp chí cộng Sản số 17, tháng 9/2000; Các nhà ngoại giao; Đinh Nho Liêm
Tiến tới xây dựng lý luận ngoại giao Việt Nam; Của Học Viện quan hệ quốc tế: Kỷ
yếu hội thảo khoa học ngày 15/08/2000 Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí

Nguồn t liệu: Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng t liệu gốc từ các văn
kiện,các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IV, V, VI.
VII, VIII, IX. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về
ngoại giao Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay, một số bài viết trên các tạp
chí:Tuần báo quốc tế, tạp chí nghiên cứu quốc tế, tạp chí cộng sản, một số cuốn kỷ
yếu hội thảo khoa học về ngoại giao Việt Nam đợc lu trữ tại phòng đọc th viện của
Học Viện quan hệ quốc tế, th viện quốc gia, phòng đọc trung tâm lu trữ I, th viện
của Viện lịch sử ĐảngTôi cũng sử dụng một số t liệu tranh ảnh, khai thác một số
thông tin từ trang web của Bộ ngoại giao.
Phơng pháp nghiên cứu: Để trình bày vấn đề này tôi đã sử dụng phơng pháp
lịch sử và phơng pháp logíc, cả hai phơng pháp này kết hợp nhuần nhuyễn với nhau
trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra để hỗ trợ cho hai phơng pháp chủ yếu này
khoá luận còn sử dụng phơng pháp thống kê, tổng hợp, su tầm ...
5. Bố cục của Luận văn.

Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung
gồm 3 chơng nh sau:
Chơng 1. Vài nét về công tác đối ngoại của Đảng trớc năm 1986.
Chơng 2. Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi mới t duy đối ngoại(1986 2001).
Chơng 3. Đảng cộng sản việt nam chỉ đạo thực hiện đổi mới đối ngoại(1986 2001).

B - Nội dung
Chơng 1. vài nét về công tác đối ngoại của Đảng
trớc năm 1986
5


1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nớc.
Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc mùa xuân
1975, một kỷ nguyên mới đã mở ra trên đất nớc Việt Nam: Hoà bình độc lập thống

đó Mỹ và phơng Tây chiếm 40 %. Những khó khăn về kinh tế dẫn đến những mâu
thuẫn về chính trị, xã hội trong nội bộ các nớc XHCN. Đây là thời kỳ tiền khủng
hoảng của hệ thống XHCN, những khó khăn đó ngày càng thêm sâu sắc, gay gắt
trong khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ, quá trình quốc tế hoá đang diễn ra
hết sức mạnh mẽ làm cho khoảng cách giữa các nớc XHCN và các nớc TBCN ngày
càng tăng.
CNTB đứng đầu là Mỹ sau 7 năm hoà hoãn Đông - Tây, từ năm 1978 Mỹ thúc
đẩy chạy đua vũ trang gây căng thẳng với Liên Xô và các nớc XHCN, tăng cờng phản
kích phong trào giải phóng dân tộc, chiến lợc ngăn chặn chống Liên Xô là cốt lõi
trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Để chống Liên Xô khi Liên Xô đa quân vào
Apgnixtang và chống Việt Nam khi Việt Nam đa quân đội vào giải phóng Campuchia
khỏi nạn diệt chủng Pônpốt, chính quyền Rigân tiếp tục gây sức ép với Liên Xô và
Việt Nam. Mỹ đòi Liên Xô rút quân khỏi ápganixtăng, Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia và ép quân đội Cu Ba rút quân khỏi Ănggôla.
Thất bại về quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ tiếp tục chống phá
cách mạng Việt Nam bằng chiến lợc diễn biến hoà bình trớc hết là Mỹ lợi dụng
triệt để sự bất đồng trong hệ thống XHCN, tiến hành bao vây cô lập hòng làm suy yếu
Việt Nam, tạo ra dòng ngời Việt Nam di tản ra nớc ngoài. Mỹ ngăn cản Việt Nam vào
LHQ, không chịu thực hiện điều khoản 21 của hiệp định Paris(1973) về trách nhiệm
của Mỹ trong việc hàn gắn vết thơng chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam, phong toả
tài khoản liên quan đến Việt Nam ở nớc ngoài, gây khó khăn cho việc phát triển kinh
tế ở Việt Nam thông qua đội ngũ phản động trong ngụy quân, ngụy quyền cũ và bọn
phản động đội lốt tôn giáo ở Miền Nam Việt Nam, Mỹ đã hỗ trợ cho các hoạt động
khiêu khích, phá hoại, tác động tâm lý gây bạo loạn phản cách mạng ở Miền Nam
Việt Nam.
Sau khi đất nớc thống nhất, một số lực lợng bên ngoài thực hiện chính sách
thù địch chống Việt Nam. Chúng đã nuôi dỡng hỗ trợ bọn phản động Khơme đỏ
lên cầm quyền ở Campuchia lúc đó và gây nên cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam
Việt Nam.
7

8


Những khó khăn to lớn trong và ngoài nớc tồn tại cùng với những khó khăn
chủ quan là mô hình kinh tế đợc xây dựng trong chiến tranh bộc lộ những yếu
kém, không phù hợp với một đất nớc quá độ lên CHXH từ một nền nông nghiệp
lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh mặt khác không thể nói đến những
khó khăn do những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của
Đảng ta. Sai lầm của Đảng trong lĩnh vực lãnh đạo kinh tế thể hiện trên các mặt: đã
vội nhanh chóng xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần; phủ nhận sản xuất hàng hoá
và cơ chế thị trờng; duy trì quá lâu cơ chế quan liêu bao cấp, đầu t dàn trải kém
hiệu quả
Những thuận lợi và khó khăn trên đã đặt ra nhiệm vụ phảI giữ vững và phát
triển những thành quả cách mạng đã đạt đợc, khôI phục phát triẻn kinh tế, thống
nhất đất nớc về mặt Nhà nớc. Chống lại các lực lợng thù địch, rút kinh nghiệm để
xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong đó nhiệm vụ đặt ra cho
hoạt động đối ngoại là phải phá thế bao vây cô lập vè chính trị, cấm vận về kinh tế
của Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch
1.2. Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta(1976 1985)
Nghị quyết Hội Nghị Trung ơng lần thứ 24 (Khoá III) tháng 8.1975 đã nêu
nhiệm vụ cơ bản về đối ngoại của Việt Nam là:
Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của CNXH đồng thời củng cố quốc phòng và an ninh; phát huy tác
dụng của Đảng và Nhà nớc ta trong công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc vì chủ nghĩa xã hội; tăng cờng đoàn kết với Lào,
Campuchia, thực hiện hợp tác lâu dài giúp đỡ lẫn nhau, làm cho ba nớc Đông Dơng
trở thành lực lợng vững chắc của cách mạng và hoà bình ở Đông Nam á; Xây
dựng quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa nớc ta với các nớc XHCN anh em; xây
dựng quan hệ hữu nghị giữa nớc ta với các nớc trong thế giới thứ ba, cùng các nớc
khác trên cơ sở năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình

- Ra sức củng cố và tăng cờng tình đoàn kết anh em và quan hệ hợp tác gắn
bó về mọi mặt của Liên Xô, tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân các nớc XHCN cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc ta.
- Ra sức bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt Lào

10


- Tích cực hoạt động cho một Đông Nam á hoà bình, tự do, trung lập và ổn
định.
- Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại [23;19]
Nh vậy, Việt Nam đã có những điều chỉnh quan trọng trong việc sắp xếp bạn
thù, đặc biệt chúng ta không giữ đợc cân bằng mối quan hệ với Liên Xô và Trung
Quốc nh trớc nữa mà từng bớc đi hẳn với Liên Xô, coi quan hệ với Liên Xô là hòn
đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta.
Việc điều chỉnh này tác động sâu sắc tới nhiều mối quan hệ quốc tế của nớc ta và cũng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Trung Quốc ngày một
chống phá ta quyết liệt, bởi vì Trung Quốc coi Liên Xô là kẻ thù, là đế quốc xã hội.
Bớc sang giai đoạn 1979- 1985 Đại hội V xác định về đối ngoại văn kiện
Đại hội nêu: Trong thời gian tới, công tác đối ngoại phải ra sức tranh thủ những
điều kiện quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn và nhiều mặt cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc. Đặc biệt công tác đối ngoại phải trở thành
một mặt trận chủ động tích cực [23;42].
Tuy nhiên chính sách đối ngoại của nớc ta xuất phát từ nhận thức và đánh
giá tình hình thế giới và quan hệ quốc tế dới ảnh hởng của sự đối đầu quyết liệt
giữa hai phe, hai cực. Do đó, mặt trận đối ngoại vừa phải làm tốt công tác đấu
tranh chính trị, ngoại giao, vừa phải góp phần vào việc mở rộng mối quan hệ kinh
tế quốc tế của đất nớc trong điều kiện quan hệ quốc tế của ta có nhiều khó khăn.
Nhiệm vụ hàng đầu của công tác đấu tranh chính trị là phá sự cấu kết giữa các thế
lực đế quốc và phản động trong âm mu làm suy yếu và gây mất ổn định đất nớc ta;
tăng cờng công tác tuyên truyền đối ngoại, tiến công trên mặt trận d luận quốc tế

thế u tiên phát triển kinh tế do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công
nghệ, nhng t duy thời chiến vẫn còn ngự trị. Mặt khác t duy đó còn thể hiện sự chủ
quan, nóng vội và ít nhiều dập khuôn theo mô hình kinh tế của Liên Xô. Đờng lối
xây dựng đất nớc và chủ trơng đối ngoại ấy tác động rõ rệt đến những bớc đi trong
hoạt động ngoại giao của đất nớc ta trong thời kỳ này.
1.3. Thực trạng công tác đối ngoại của Đảng ta(1976-1986)
1.3.1. Thành tựu.

12


Sau đại thắng mùa xuân 1975, Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh trên t
thế của ngời chiến thắng điều đó làm cho vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế đợc nâng cao, cộng đồng quốc tế ngỡng mộ vừa thông cảm cho những khó khăn của
Việt Nam gặp phải, nhiều tổ chức, nhiều quốc gia ngỏ ý sẵn sàng giúp đỡ, thậm chí
kể cả chính quyền Oasinhtơn. Đầu năm 1977 khi lên cầm quyền Tổng thống Mỹ
Carter đã thi hành một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại với Việt Nam, chủ
trơng bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam. Ngay trớc khi nhậm chức Tổng Thống
Carter thông qua Liên Xô chuyển đến Chính phủ Việt Nam đề nghị về một số kế
hoạch bình thờng bao gồm 3 điểm (1) Việt Nam thông báo tin về ngời Mỹ mất tích
trong chiến tranh (MIA) (2) Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam vào LHQ, sẵn sàng thiết
lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, cũng nh bắt đầu buôn bán với Việt Nam; (3) Hoa
Kỳ có thể đóng góp vào khôi phục Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán cung
cấp thiết bị và các hình thức hợp tác khác. [3;314]
Bên cạnh đó các nớc láng giềng cũng nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam.
Tại tuyên bố Cualalampơ năm 1976 ASEAN sẵn sàng tiếp nhận kết nạp Việt Nam,
cùng với đó là sự ủng hộ nhiệt tình của các nớc anh em trong phe XHCN và các nớc dân chủ, không liên kết:
Tháng 8 năm 1977, Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã cử nhiều đoàn đại biểu
cấp cao đi thăm nhiều nớc trên thế giới nhằm tăng cờng sự đoàn kết, hiểu biết và
đặt quan hệ hợp tác toàn diện với nhau. Tổng bí th Lê Duẩn và Thủ tớng Phạm Văn
Đồng đi thăm Trung Quốc, Liên Xô và các nớc XHCN khác nhằm tranh thủ sự ủng

địch đặc biệt là những ngời của chính quyền cũ đang tìm cách chống phá chính
quyền mới. Trớc tình hình đó Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nớc trong thời kỳ đầu
đi lên xây dựng CNXH đã có đợc những kết quả ban đầu nhất định, tuy vậy sai lầm
là không ít.
Đó là duy ý chí, chủ quan, nóng vội, giản đơn:
Đối nội: Ta vội vàng đề ra đờng lối tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá để từ nền sản xuất nhỏ tiến lên nền sản xuất lớn XHCN điều đó thể hiện sự chủ
quan, duy ý chí. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến ta có phần say sa với chiến
thắng và nghĩ rằng không có việc gì là không làm đợc, có thể chiến thắng đói
nghèo và lạc hậu
Đối ngoại: Cho rằng thế giới đang có ba dòng thác cách mạng và xu thế tất yếu là
sự thắng lợi của phe XHCN và sự suy yếu của phe TBCN. Chính vì điều này mà
14


trong t duy của Đảng ta chậm nhận ra sự thay đổi của thời cuộc. Ta không thấy rõ
cái mâu thuẫn của hai phe còn tồn tại nhng cả hai đều ngấm ngầm đấu tranh nhng
lại hợp tác để phát triển.
Với vấn đề Campuchia ta sai lầm khi đánh giá thực lực của PônPốt, nghĩ
giản đơn rằng chỉ cần đa quân đội vào Plômpênh là tiêu diệt đợc Khơme đỏ và giải
thoát đợc Xihanuc. Thế nhng cả hai mục tiêu ta đều không đạt đợc, tàn quân
Khơme đỏ vẫn còn tồn tại dọc biên giới Thái Lan và gây khó khăn cho bộ đội Việt
Nam. Chúng ta vội áp đặt mô hình của Việt Nam sang Campuchia nghĩa là nhanh
chóng biến Campuchia thành nớc XHCN nh Việt Nam đã có. Thậm chí có lúc bộ
đội Việt Nam can thiệp quá sâu vào Đảng bạn. Từ ba sai lầm trên khiến cho 10
năm bộ đội Việt Nam đa quân vào Campuchia và có thể nói là 10 năm chúng ta bị
sa lầy.
Với vấn đề Trung Quốc: Bớc sang năm 1979, Trung Quốc đa 360 s đoàn áp
sát biên giới Việt Nam thậm chí thâm nhập sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát
đồng bào ta ở các tỉnh biên giới gây ra cuộc chiến tranh Việt Trung. Đó là vết

với Việt Nam.
Tuy nhiên quá đề cao cảnh giác, quá tin tởng vào khả năng của mình Đảng
ta đã có những chính sách đờng lối cha thật phù hợp, cha khéo léo nên ta để lỡ mất
nhiều thơì cơ, cơ hội cho việc thực hiện lộ trình bình thờng hoá quan hệ Việt
Mỹ; mất cơ hội cho tiến trình gia nhập ASEAN sớm hơn mà mãi sau này ta mới
thực hiện đợc.
Chịu ảnh hởng sâu sắc của sự phân cực Đông Tây, chiến tranh lạnh kéo
nên quan hệ của Việt Nam giai đoạn này chủ yếu giới hạn trong hệ thống XHCN,
coi Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của mình.
Trong việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng và giúp nhân dân Campuchia
thoát khỏi hoạ diệt chủng, quân tình nguyện Vịêt Nam đã đánh đổ chế độ Khơme
đỏ phản động và giúp nhân dân bạn xây dựng lại đất nớc. Do nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó có vấn đề Camphuchia mà quan hệ giữa Việt Nam Trung
Quốc ngày càng căng thẳng, cũng do vấn đề Campuchia mà quan hệ giữa Việt
Nam với các nớc Đông Nam á khác khá căng thẳng, xuất hiện tình trạng đối đầu
gay gắt trong một thời gian dài. Tiến trình bình thờng hoá quan hệ Việt Mỹ gặp
nhiều trắc trở, mà một trong những nguyên nhân quan trọng cũng là vấn đề
Campuchia.
16


Đứng trớc tình hình đó Đảng ta cần nhận phân tích một cách sâu sắc những
biến đổi của tình hình quốc tế và trong nớc, cần có những điều chỉnh quan trọng để
đa đât nớc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
1.4. Yêu cầu của việc đổi mới đờng lối đối ngoại.
1.4.1. Bối cảnh quốc tế.
Trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều
biến động to lớn, phức tạp trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội, trong đó
những biến động về chính trị, kinh tế và quan hệ quốc tế đã mở màn cho những bớc phát triển và biến đổi có tính chất bớc ngoặt.
Từ những năm 70 của thế kỷ trớc, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện

bên trong, bên trên với bao vây, cấm vận, phá hoại về kinh tế, cô lập về chính trị,
ngoại giao và răn đe quân sựRõ ràng với bản chất bóc lột và hiếu chiến của chủ
nghĩa t bản vẫn không thay đổi. Mặc dầu cho đến nay một số nớc xã hội chủ nghĩa
đã tan rã, khối quân sự Vacsava không còn, chiến tranh lạnh kết thúcnh ng CNTB
vẫn tiếp tục gây ra chiến tranh, gây ra nhiều tội ác cho nhân loại. Đó là một trong
những yếu tố khách quan đòi hỏi Đảng ta phải đòi hỏi chính sách đối ngoại để có
những đối sách mới phù hợp trong quan hệ quốc tế.
Cùng với tình hình trên, CNXH hiện thực bộc lộ những khuyết điểm, yếu
kém mà nguyên nhân sâu xa là do thiết kế mô hình XHCN giáo điều, máy móc.
Về kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, không chấp
nhận kinh tế thị trờng, vội vàng xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ
nghĩa, cơ cấu kinh tế bất hợp lý, công nghiệp hoá chủ yếu dựa vào công nghiệp
nặng, quy mô lớn; không tận dụng đợc các thành tựu của khoa học công nghệ hiện
đại, năng suất lao động thấp, chi phí lớn, hiệu quả kém, sản xuất không gắn lièn
với thị trờng, không tuân theo quy luật cung cầulàm triệt tiêu động lực phát triển
kinh tế.
Về chính trị, đờng lối chính trị phổ biến là giáo điều, dập khuôn máy móc,
nhận thức rơi vào chủ quan, duy ý chí, không tuân theo quy luật khách quan, nhận
thức lý luận rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, hoặc lý luận tách rời thực tiễnTrong
xây dựng Nhà nớc nặng về hình thức, bộ máy cồng kềnh, quan liêu, kém hiệu lực,
nhiều nơi tình trạng tham nhũng, mất dân chủ nặng, dẫn tới đời sống của nhân dân
khó khăn, một bộ phận nhân dân hoài nghi, dao động, thậm chí mất niềm tin đối
18


với Đảng, với chế độ XHCN. Trong quan hệ quốc tế thì tăng cờng chạy đua vũ
trang, do đó bị cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh, luôn ở tình trạng đối đầu căng
thẳng. Trong nội bộ hệ thống XHCN vẫn còn mối quan hệ bất bình đẳng, bao cấp.
áp đặtHậu quả là bớc vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, cả hệ thống
XHCN rơi vào khủng hoảng toàn diện về kinh tế xã hội. Đứng trớc thực trạng

quả giữa các quốc gia để cùng giải quyết. Trong bối cảnh đó đòi hỏi nớc ta phải
hoà nhập cùng cộng đồng quốc tế, vì một thế giới hoà bình ổn định và phát triển.
1.4.2. Tình hình trong nớc.
Thực tiễn 10 năm xây dựng CNXH (1976 - 1986) dớc sự lãnh đạo của Đảng,
cách mạng Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu quan trọng về kinh tế xã hội,
quốc phòng an ninh và đối ngoại. Công cuộc cải tạo XHCN đã tiến thêm một bớc
đại bộ phận nông dân Nam bộ đi vào con đờng sản xuất tập thể, đồng bào các dân
tộc ở Tây Nguyên có nhiều tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Cùng
với việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, việc thực hiện khoán sản
phẩm cuối cùng đến ngời lao động trong nông nghiệp đã góp phần tạo nên bớc
phát triển trong sản xuất nông nghiệp.
Nhà nớc và nhân dân đã cố gắng chăm lo bảo đảm các nhu cầu quốc phòng
an ninh, thi hành chính sách hậu phơng quân đội. Phát triển sự nghiệp văn hoá thể
thao, giáo dục, y tế góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hoá mới, con
ngời mới. Các hoạt động khoa học kỹ thuật đợc triển khai góp phần thúc đẩy sản
xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. Trong cả nớc xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất
kinh doanh giỏi, nhiều địa phơng, nhiều ngành có cách làm ăn năng động sáng tạo
và đạt đợc thành tích đáng phấn khởi. Trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã
làm thất bại thêm một bớc quan trọng âm mu phá hoại của kẻ thù, củng cố hơn nữa
khả năng quốc phòng của đất nớc, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, củng cố
chính trị ở địa bàn xung yếu, xây dựng lực lợng dự bị. Quân đội đã có bớc phát
triển theo hớng chính quy, hiện đại; sức mạnh chiến đấu đợc nâng cao. Việc kết
hợp kinh tế với quốc phòng và huy động quân đội tham gia xây dựng kinh tế đạt
một số hiệu quả thiết thực nhất là xây dựng các công trình công nghiệp và công
trình giao thông.
Quân và dân ta tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ quốc tế với Lào và
Campuchia, củng cố liên minh chiến lợc ba nớc trên bán đảo Đông Dơng, cùng
nhau tăng thêm thế lực cho cách mạng mỗi nớc.

20

thống các chủ trơng chính sách đối ngoại cho phù hợp với điều kiện trong và ngoài
nớc, nhằm tạo ra môi trờng thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tranh thủ đợc nhiều
hơn nữa tiềm năng và các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
21


Tóm lại, trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thế giới có nhiều
biến động phức tạp trên tất cảc các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và
quan hệ quốc tế. Nó có tác động to lớn đến tình hình mọi mặt của mọi quốc gia
trong cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó cách mạng Việt Nam đã giành đợc nhiều
thành tựu quan trọng, song cũng đứng trớc nhiều khó khăn, thách thức. Nhận thức
đúng thực trạng đó Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề xớng đờng lối đổi mới toàn
diện đất nớc, trong đó có đổi mới t duy, đờng lối đối ngoại mà thực chất là từng bớc đổi mới đờng lối, đổi mới chính sách và các chủ trơng, biện pháp trong công tác
đối ngoại cho phù hợp với tình hình trong nớc và quốc tế. Cho phép khai thác hiệu
quả nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nớc.

Chơng 2. Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi mới t duy
đối ngoại(1986 2001)
2.1. Giai đoạn 1986 1991.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đờng lối đổi
mới toàn diện đát nớc, đây là một bớc ngoặt lịch sử trên con đờng xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ
sự thật, Đại hội đã đánh giá khách quan thành tựu, những khuyết điểm và nguyên
nhân của 10 năm (1976 - 1986). Trên cơ sở đó Đại hội kết luận: Đối với nớc ta,
đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống
22



23


thắng lợi. Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, cái chiêng có to, cái tiếng
mới lớn[27;126]
Trong lúc nền kinh tế nớc ta còn yếu kém lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật
còn nghèo nàn, đời sống của nhân dân và cán bộ Đảng viên còn nhiều khó khăn ;
cộng với sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, đòi hỏi Đảng phải đổi mới chính sách
đối ngoại, coi đối ngoại là một chính sách quan trọng để đảm bảo độc lập chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời mở rộng hội nhập quốc tế để thu hút nguồn lực
từ bên ngoài nh: vốn, khoa học công nghệ; kinh nghiệm quản lý kinh tếđể xây
dựng và phát triển đất nớc. Đại hội VI xác định quan điểm chỉ đạo công tác đối
ngoại là: Dơng cao ngọn cờ hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp
chủ nghĩa yêu nớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, giữ
vững độc lập tự chủ, tăng cờng hợp tác và làm tốt nghĩa vụ quốc tế với nhân dân
thế giới, trong lúc tranh thủ hoà bình ổn định để tập trung xây dựng đất nớc, phát
triển kinh tế, đồng thời cảnh giác và bảo về an ninh, phòng thủ đất nớc, tuyệt đối
không lơ là mất cảnh giác, coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây là sự vận dụng
sáng tạo học thuyết của chủ nghĩa Mác- Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô
sản trong điều kiện lịch sử mới. Giai cấp vô sản chỉ có thể thực hiện thắng lợi sứ
mệnh của mình khi biết tổ chức và đoàn kết lại, nghĩa là phải biết kết hợp chủ
nghĩa yêu nớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Đồng thời
quan điểm trên cũng xác định tính thống nhất hữu cơ giữa nhiệm vụ đối ngoại với
nhiệm vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với việc xác định rõ đờng lối, quan điểm đổi mới, Đại hội VI của Đảng
cũng xác định chính sách đối ngoại đối với từng nớc, từng khu vực, cụ thể là: đối
Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa, Việt Nam xác định Liên Xô là đối tác quan
trọng nhất. Liên Xô luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa
thế giới, luôn có ảnh hởng sâu sắc, giữ vai trò quyết định, chi phối quá trình phát
triển của thể giới và cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sự giúp đỡ của Liên Xô đối với

và nhân dân lao động ở các nớc t bản chủ nghĩa chống áp bức, bóc lột, chống chạy
đua vũ trang, vì hoà bình, dân chủ, việc làm, cải thiện mức sống cho ngời lao động.
ủng hộ chính sách đoàn kết, tập hợp mọi lực lợng dân chủ, tiến bộ của các Đảng
Cộng sản và công nhân.

25


Trích đoạn Phát triển quan hệ với nhiều nớc ở các châu lục. Đẩy mạnh ngoại giao đa phơng Chủ động mở rộng và nâng cao hiệuquả hoạt động ngoại giao với kinh tế đối ngoại.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status