Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010 - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THÚY HÀ

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THÚY HÀ

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62.22.56.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Quang Minh


1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU...... 21
Chương 2. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 1991-2001 ...............26
2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG HOẠT
ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001
......................................................................................................................... 26
2.1.1. Đối ngoại nhân dân trước năm 1991 .................................................... 26
2.1.2. Đặc điểm, tình hình trong giai đoạn mới ............................................... 33
2.2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN ........... 40
2.2.1. Chủ trương của Đảng ........................................................................... 40
2.2.2. Sự chỉ đạo của Đảng ............................................................................. 48
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 63
Chương 3. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 ................................. 66


3.1. NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI CỦA TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ
TRONG NƯỚC............................................................................................... 66
3.1.1. Tình hình thế giới .................................................................................. 66
3.1.2. Tình hình trong nước ............................................................................. 70
3.2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN ........... 74
3.2.1. Chủ trương của Đảng ........................................................................... 74
3.2.2. Sự chỉ đạo của Đảng ............................................................................. 79
Tiểu kết chương 3.......................................................................................... 101
Chương 4. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .......................................... 103
4.1. NHẬN XÉT............................................................................................ 103
4.1.1. Một số ưu điểm .................................................................................... 103
4.1.2. Một số hạn chế .................................................................................... 110
4.1.3. Một số kết quả đạt được của hoạt động đối ngoại nhân dân ............. 124
4.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ..................................................................... 131

Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM

The Asia - Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á-Âu

BCHTƯ

Ban Chấp hành Trung ương

ĐCSVN

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐNND

Đối ngoại nhân dân

ĐTNCSHCM

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Eds

Edited
Chủ biên

EU

ODA

Official Development Assistance


Hỗ trợ phát triển chính thức
PACCOM

People's Aid Coordinating Committee
Ban điều phối viện trợ nhân dân

POW

Prisoners in war
Tù nhân chiến tranh

TAFTA

Khu vực tự do thương mại xuyên Đại Tây Dương

TCPCPNN

Tổ chức phi chính phủ nước ngoài

MTTQVN

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

VUFO


giữa nhân dân các nước với nhau). Theo đó, các quốc gia khác nhau về tư
tưởng chính trị, tiềm lực kinh tế, trình độ phát triển có các chính sách và thực
hiện các hoạt động ĐNND theo các hình thức, nội dung và mục đích khác
nhau. Thậm chí các tổ chức chính trị - kinh tế khu vực (EU, ASEAN, v.v),
cũng đã xây dựng chiến lược cụ thể cho hoạt động ĐNND của mình, nhằm
thúc đẩy sự hiểu biết và mối quan hệ lâu dài giữa các thành viên và các đối
tác của họ. ĐNND được xem là phương tiện, là công cụ phục vụ hoạt động

1


chính trị của các quốc gia, các cường quốc, các nước phát triển, các nước
đang phát triển và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế.
Trước những biến động và xu thế của thế giới cuối thế kỷ XX, Đảng
cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã kịp thời chuyển hướng chiến lược đối ngoại
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Việt Nam thực hiện đường lối
đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ đối
ngoại, theo tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới. Nếu trong thời kỳ chiến tranh cách mạng,
ĐNND đã trở thành một kênh quan trọng làm nhiệm vụ thông tin, tuyên
truyền góp phần tạo dựng “ngoại lực” ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa
của dân tộc, phá thế bị bao vây, cô lập. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
ĐNND ngày càng phát huy vai trò và vị trí quan trọng trong việc thực hiện
đường lối, chính sách đối ngoại, góp phần quảng bá mạnh mẽ hình ảnh về đất
nước, con người và văn hóa Việt Nam cũng như đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế, cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) giúp tăng cường sự hiểu biết, giao lưu,
hợp tác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đất nước, bảo
vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, củng cố vị thế quốc
tế của Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với
hoạt động ĐNND.
3.2. Phạm vi
Về nội dung khoa học: ĐNND là một lĩnh vực hoạt động rất rộng, phức
tạp, có nhiều vấn đề đang vận động, phát triển, cần được tiếp tục nghiên cứu,
tổng kết, đưa ra những nhận định có tính khoa học. Thực hiện mục đích nghiên
cứu, luận án tập trung làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của
Đảng đối với hoạt động ĐNND trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa.
Mặt khác, chủ thể thực hiện công tác ĐNND rất đa dạng và phong phú nên
luận án tìm hiểu hoạt động ĐNND của một số tổ chức chính trị - xã hội chịu

3


trách nhiệm chính về hoạt động ĐNND như Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
Việt Nam (VUFO), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên đoàn Lao
động Việt Nam (LĐLĐVN), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN),
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ĐTNCS HCM), Hội Cựu chiến binh
Việt Nam, và Hội Nông dân Việt Nam.
Về thời gian: giới hạn về thời gian của đề tài là từ năm 1991 đến năm
2010, nhưng để có một cái nhìn toàn diện, có tính kế thừa và liên tục nghiên
cứu sinh cũng khái quát hoạt động ĐNND của Việt Nam trước năm 1991.
Năm 1991, trong hoàn cảnh đất nước gặp khó khăn mọi mặt, kinh tế
khủng hoảng, bị bao vây cấm vận, tình hình thế giới và khu vực đang có
những biến động lớn, phức tạp, chưa định hình, ĐCSVN đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những
định hướng lớn về đối ngoại. Thực hiện định hướng chiến lược đề ra trong
Cương lĩnh năm 1991, qua các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng đã xây dựng thành

- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước.
- Tài liệu báo cáo tổng kết của một số tổ chức chính trị - xã hội về hoạt
động đối ngoại và hợp tác quốc tế hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu
trữ Quốc gia, Cục lưu trữ thuộc Văn phòng Ban chấp hành Trung ương
ĐCSVN, ban Hợp tác quốc tế của Trung ương MTTQVN, Trung ương Đoàn
TNCSHCM, Trung ương Hội LHPN Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân,
Trung ương Hội Cựu chiến binh, VUFO.
- Các công trình nghiên cứu về đường lối đối ngoại của Việt Nam, về
quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên
thế giới qua các thời kỳ, kỷ yếu hội thảo khoa học, các bài báo, sách có liên
quan do các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện nghiên cứu Quan
hệ Quốc tế thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Ngoại
giao, Đại học Quốc gia Hà Nội…
- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, các nguồn thông
tin được khai thác qua các website của các cơ quan Đảng và Nhà nước, thông
cáo báo chí… cũng được sử dụng để làm rõ một số nội dung có liên quan.

5


- Các luận án, luận văn và các nguồn tư liệu hiện đang được lưu trữ tại
các thư viện như thư viện Quốc gia, thư viện Quân đội, thư viện Học viện
ngoại giao, thư viện Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh), Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Hà Nội và Phòng tư liệu khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Hà Nội…
- Một số công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về ngoại giao và hoạt động đối ngoại

- Nhận thức về một số vấn đề tồn tại, những thuận lợi và khó khăn,
bước đầu đưa ra sự đánh giá, nhận xét hiệu quả thực hiện chủ trương ĐNND
của ĐCSVN và rút ra những bài học kinh nghiệm.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và
học tập cho những môn học có liên quan như Lịch sử Đảng, quan hệ quốc tế
và đường lối cách mạng của Đảng. Đồng thời, luận án có thể là tài liệu tham
khảo hữu ích cho đội ngũ những người làm công tác đối ngoại, công tác giáo
dục tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác
giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương, 10 tiết:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, trình bày khái quát tình
hình nghiên cứu về ĐNND trong và ngoài nước, khái quát những nội dung về
ĐNND đã được các công trình nghiên cứu và thể hiện, đồng thời chỉ ra những
vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết.
Chương 2. Sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại nhân
dân giai đoạn 1991-2001, giới thiệu khái quát về hoạt động ĐNND của Việt
Nam trước năm 1991, nêu bật bối cảnh dẫn tới sự hình thành chủ trương mở
rộng ĐNND của Đảng trong thập niên cuối thế kỷ XX, phân tích chủ trương
của Đảng về ĐNND cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND
từ năm 1991 đến năm 2001.

7


Chương 3. ĐCSVN lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn
2001-2010, cùng với việc làm rõ bối cảnh lịch sử những năm đầu thế kỷ XXI,
chương 3 nêu bật chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động
ĐNND trong thời kỳ mới, từ năm 2001 đến năm 2010.
Chương 4. Nhận xét và kinh nghiệm

chưa có nghiên cứu của học giả nước ngoài. Khảo cứu các công trình viết về
hoạt động ĐNND Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể chia thành
những nhóm sau:
1.1. NHÓM CÔNG TRÌNH ĐỀ CẬP ĐẾN ĐỐI NGOẠI NHÂN
DÂN VIỆT NAM
Các công trình viết về đối ngoại nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

9


Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho nền ngoại giao hiện
đại Việt Nam. Nội dung ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh được các nhà
nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Các công trình nghiên cứu chủ yếu được công
bố là các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành.
Bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân của tác
giả Vũ Xuân Hồng, được đăng trên Tạp chí Cộng sản số 697 năm 2003 [88]
nêu bật phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐNND là thêm bạn, bớt
thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi
ích chân chính của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới; kết hợp công tác
đối ngoại của Đảng với ngoại giao của nhà nước và ĐNND, tạo thành sức
mạnh tổng hợp của mặt trận ngoại giao; nhân dân làm đối ngoại nhưng cần
được tổ chức để phát huy tối đa vai trò và lợi thế; ĐNND phải có nội dung hoạt
động phong phú, hình thức đa dạng và linh hoạt, hướng tới hiệu quả thiết thực.
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống những quan điểm mang bản chất cách mạng và khoa học
sâu sắc, là nền tảng tư tưởng về ĐNND để toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nghiên
cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện trong hoạt động đối ngoại, đặc biệt là các
hoạt động ĐNND trong quan hệ quốc tế luôn biến động không ngừng.
Tác giả Phạm Hoàng Điệp có bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người mở
đường cho Ngoại giao nhân dân Việt Nam được đăng trên Tạp chí Đối ngoại số

Tạp chí Thông tin đối ngoại số 4 năm 2012. Tác giả khẳng định vị trí, vai trò
cũng như thành tựu của ĐNND dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh đã đóng góp cho tiến trình cách mạng dân tộc. Bên cạnh
đó, tác giả cũng khẳng định những thành tựu của hoạt động thông tin đối ngoại
và chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại. Phần kết của bài viết, tác giả nêu ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt dộng thông tin đối ngoại và việc
vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐNND vào hoạt động thông tin
đối ngoại sao cho hiệu quả cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả cho
ĐNND trong tình hình mới.
Bài viết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân
dân trong điều kiện hiện nay của Nguyễn Năng Nam và Trần Hồng Khánh

11


đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3/2012. Các tác giả đã khái quát tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác ĐNND tập trung ở bốn nội dung: Một là, thực
hiện phương châm thêm bạn bớt thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với
đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân
thế giới; Hai là, kết hợp công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà
nước và ĐNND, tạo thành sức mạnh tổng hợp của mặt trận ngoại giao; Ba là,
phát huy tối đa vai trò và lợi thế của ĐNND; Bốn là, ĐNND phải có nội dung
hoạt động phong phú, hình thức hoạt động đa dạng và linh hoạt, hướng tới hiệu
quả thiết thực. Tác giả khẳng định: …cả về lý luận và thực tiễn, ĐNND trong
tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm mang bản chất cách
mạng và khoa học sâu sắc, sáng ngời. Đó chính là nền tảng tư tưởng của
ĐNND mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu,
quán triệt và tổ chức thực hiện sáng tạo trong hoạt động ngoại giao và ĐNND.
Với những bài viết này, các tác giả đã khẳng định ĐNND là một trong
những nội dung quan trọng trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Các tác giả

chủ yếu tập trung vào hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
và các tổ chức thành viên. Liên hiệp là đầu mối hoạt động ĐNND, tuy nhiên
hoạt động ĐNND còn được thực hiện bởi số lượng chủ thể đông đảo khác từ
tổ chức đến các cá nhân. Do vậy cuốn sách có tính chất giới thiệu sơ lược về
ĐNND nói chung và ĐNND của Liên hiệp nói riêng, đồng thời đưa ra một số
mốc cơ bản về xây dựng tổ chức, đội ngũ, không đi sâu vào sự lãnh đạo của
Đảng đối với hoạt động ĐNND.
Trong cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao do PGS.TS Vũ
Dương Huân biên soạn, NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 [105], tác
giả sử dụng thuật ngữ ngoại giao nhân dân để chỉ hoạt động đối ngoại do các tổ
chức nhân dân như thanh niên, phụ nữ, công đoàn, Hội cựu chiến binh, Hội nông
dân, hoạt động đối ngoại của các tổ chức nghề nghiệp (Hội văn học, nghệ thuật,
Hội kiến trúc, Hội sử học…) thực hiện nhằm tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết và
hợp tác giữa các dân tộc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển quan hệ nhà
nước. Bên cạnh việc khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của ĐNND, tác giả đồng

13


thời nói rõ “đặc điểm của ngoại giao nhân dân là rất rộng rãi, rất mềm mỏng,
không gò bó về quy định lễ tân, có thể đi đầu, đi trước tại những nơi mà ngoại
giao nhà nước chưa thể triển khai” [105: tr.27].
Cuốn Hỏi - đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng
và Nhà nước ta do Bộ Ngoại giao biên soạn, NXB Chính trị quốc gia ấn hành
năm 2012 [23] gồm những câu hỏi và câu trả lời về tình hình thế giới hiện nay
như: vấn đề nổi cộm về chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại.
Cuốn sách trình bày sự đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực
đối ngoại cũng như quan hệ của Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế
nhằm giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
đất nước. Dưới dạng hỏi - đáp, cuốn sách chứa đựng nhiều thông tin được

thể hiện một cách tiếp cận mới về ĐNND, khẳng định tầm quan trọng của
ĐNND trong thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, ĐNND không phải là công tác dân
vận, hai lĩnh vực khác nhau về đối tượng, chủ thể, mục đích và nội dung.
Bài viết Phát huy mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo trong thực hiện
đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam của tác giả
Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Công tác tôn giáo số 8 năm 2012 [123].
Tác giả khẳng định tính đặc thù, phức tạp, nhạy cảm của tôn giáo và hoạt
động đối ngoại tôn giáo, trên cơ sở đó đưa ra những trọng tâm của công tác
đối ngoại tôn giáo trong thời gian tới. Bài viết cho thấy một lĩnh vực quan
trọng của hoạt động ĐNND đó là đối ngoại tôn giáo, qua đó khẳng định tầm
quan trọng của ĐNND và góp phần xây dựng “mặt trận” ĐNND toàn diện,
đem lại những thành tựu đối ngoại quan trọng, nâng cao vị thế và tầm ảnh
hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Các công trình viết về hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội
Đối ngoại, hợp tác quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là từ sau Đại hội lần thứ IX của
Đảng1. Với lợi thế riêng của mình, mỗi tổ chức chính trị - xã hội lại thực hiện hoạt
động ĐNND với những đặc trưng riêng.
1

Nhiệm vụ trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
(http://hoilhpn.org.vn/NewsDetail.asp?Catid=2&NewsId=5&lang=VN, cập nhật ngày 27/9/2004)

15


Trước hết, hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội được
trình bày khái quát trong tổng thể các hoạt động của từng tổ chức, trong các
cuốn giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển hoặc kỷ yếu, văn kiện các kỳ
Đại hội đại biểu toàn quốc của các tổ chức chính trị - xã hội. Công đoàn Việt


16


Bên cạnh đó, nghiên cứu về hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị xã hội còn là đề tài cho nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ như: Đảng
với hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến
năm 2010 của học viên cao học Hồ Thị Liên Hương (khóa 2010-X) [107],
Hoạt động đối ngoại của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh từ năm
1996-2012 của sinh viên Lại Thị Thu Thủy (khóa 2009-X) [160], Hoạt động
đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2012 của sinh
viên Phí Thị Loan (khóa 2009-X) [121], ngành Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử
Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu về hoạt động ĐNND của các đoàn thể, tổ
chức chính trị - xã hội đã nhấn mạnh một trong những chủ thể thực hiện hoạt
động ĐNND là các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, không phải tổ chức
chính trị - xã hội nào cũng phát huy được thế mạnh để hoạt động ĐNND thực
sự đạt hiệu quả cao. Qua những nghiên cứu tổng quan cho thấy trong hệ thống
các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam hiện nay, một số tổ chức có thế mạnh
về hoạt động ĐNND tiêu biểu là Hội LHPNVN, Tổng LĐLĐ Việt Nam, Hội
Nông dân Việt Nam. Các tổ chức này là lực lượng chủ đạo thực hiện hoạt
động ĐNND dưới sự chỉ đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Các công trình nghiên cứu về ĐNND Việt Nam trong mối quan hệ hữu
nghị giữa Việt Nam với các nước
Bài viết của tác giả Lê Văn Phong với nhan đề Ngoại giao nhân dân
nhân tố quan trọng trong mối quan hệ Việt - Mỹ đăng trên Tạp chí Đối ngoại
(8) năm 2011 [143] đã khẳng định ĐNND là nhân tố quan trọng hàng đầu
trong tiến trình phát triển quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ. Trong bài viết của
mình, tác giả tái hiện lịch sử quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ qua các hoạt động
ĐNND từ những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) cho
tới khi nhân dân Mỹ sát cánh, ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân

đối với hoạt động ĐNND qua từng thời kỳ cách mạng. Đề tài này được thể hiện
trong một số bài viết đăng trên các tạp chí và một luận án tiến sĩ chuyên ngành
Lịch sử ĐCSVN được bảo vệ tại Hội đồng khoa học Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status