ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------

PHÍ THỊ LOAN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------

PHÍ THỊ LOAN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Hiển

Hà Nội - 2019


Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

ARF

ASEAN Regional Forum
Diễn đàn Khu vực ASEAN

ASEAN
ECOSOC
EU
FAO

Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
United Nations Economic and Social Council
Hội đồng Kinh tế Xã hội của Liên hợp quốc
European Union
Liên minh châu Âu
Food and Agriculture Organization of the United
Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc

FTA
H5N1
IOM

Free Trade Area
Hiệp định thương mại tự do


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam, bên cạnh các cuộc chiến đấu anh dũng bảo vệ độc lập chủ quyền của đất
nước, các chính quyền luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ
cho công cuộc xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm. Quá trình đó tạo
dựng nên những truyền thống và bản sắc độc đáo của nền ngoại giao Việt
Nam. Những truyền thống và bản sắc tốt đẹp ấy càng được bồi đắp, phát huy
khi đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Cùng với các
mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa…, mặt trận ngoại giao luôn đóng
vai trò trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nền ngoại giao của một quốc gia bao gồm ngoại giao chính thức và
ngoại giao không chính thức. Ngoại giao chính thức được tiến hành bởi các
3


nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngoại giao không chính thức là ngoại giao
được thực hiện bởi chủ thể không phải là các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước
có thể là các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức nghề nghiệp, cá nhân… Nền
ngoại giao Việt Nam được hợp thành bởi ba bộ phận bao gồm hoạt động đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam; ngoại giao của Nhà nước và hoạt động
đối ngoại nhân dân. Trong đó công tác đối ngoại nhân dân có vai trò phối hợp
và phục vụ cho công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao Nhà nước. Công
tác đối ngoại nhân dân có vai trò quan trọng, có nội dung, phương thức hoạt
động phong phú, đa dạng, có tiếng nói linh hoạt, có thể tiến hành các biện
pháp đối ngoại ở những nước, những hoàn cảnh cụ thể mà đối ngoại của Đảng
và ngoại giao Nhà nước chưa thực hiện được.
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam, cùng với
hoạt động đối ngoại của Đảng và ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối

nghiên cứu mà các công trình khoa học có những cách tiếp cận và giải quyết
vấn đề khác nhau. Tác giả chia các công trình, tài liệu nghiên cứu theo mức
độ liên quan khác nhau đến nội dung của luận văn cụ thể như sau:
2.1. Những công trình nghiên cứu về hoạt động đối
ngoại nhân dân
Có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về
hoạt động đối ngoại nhân dân. Tiêu biểu có thể kể đến đó là Vũ Dương Huân
(2002) (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới 1975 2002, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội; Lưu Văn Lợi (2005), Ngoại giao
Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội… Ngoài ra còn có
nhiều tạp chí, báo chuyên ngành về đối ngoại có nhiều bài báo nổi bật như bài
viết của tác giả Nguyễn Danh Quỳnh với tựa đề “Đa phương hóa, đa dạng hóa
trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam sau chiến tranh lạnh” đăng trên Tạp
chí Lý luận chính trị, số 7 năm 2003; bài viết của tác giả Vũ Dương Ninh:
“Quan hệ đối ngoại Việt Nam 1975 – 1995: Nhìn lại và suy nghĩ” đăng trên
Tạp chí Lý luận chính trị, số 4…

5


Cuốn Hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt Nam do nhà xuất bản
chính trị quốc gia phát hành tại Hà Nội năm 2003 có giới thiệu về quá trình
hình thành, phát triển hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt Nam. Bên cạnh
đó còn có cuốn Hỏi đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta do Bộ Ngoại giao biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia phát hành, cuốn sách dưới dạng hỏi – đáp chứa nhiều thông tin về
chính sách đối ngoại của Đảng nhưng không đi sâu vào hoạt động đối ngoại
nhân dân. Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên tạp chí như bài viết “Đối
ngoại nhân dân một nhịp cầu” đăng trên Tạp chí Đối ngoại, số 4(4) năm 2009
của tác giả Phạm Văn Chương. Tác giả Vũ Thị Như Hoa với bài viết “Ngoại
giao nhân dân trong công cuộc đổi mới ở nước ta” đăng trên Tạp chí Giáo

đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2009), Tài liệu bồi dưỡng cán
bộ Mặt trận cơ sở, Hà Nội; UBTƯMTTQVN (2016), Báo cáo tóm tắt dự án
điều tra, khảo sát thực trạng đề xuất giải pháp đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới (2016), Hà
Nội. Những cuốn sách, tài liệu này giành nhiều trang giới thiệu về hoạt động
đối ngoại nhân dân, những thành tựu và hạn chế trong hoạt động đối ngoại
của Mặt trận nhưng không đi phân tích hoạt động đối ngoại của Mặt trận mà
chỉ tổng kết một số thành tựu đạt được trong hoạt động đối ngoại của Mặt trận
nhiệm kỳ Đại hội VI (2004 - 2009) và đưa ra giải pháp trong nhiệm kỳ tiếp theo.
Một số Đề án, chuyên đề, báo cáo khoa học về hoạt động đối ngoại của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phần lớn do cán bộ Mặt trận thực hiện được lưu
tại UBTƯMTTQVN hoặc đăng tải trên Tạp chí Mặt trận. Bao gồm các đề tài
cấp bộ: Đề án về hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, nghiệm thu tháng 4 năm 2003; Tăng cường
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, nghiệm thu năm 2002 - 2003; Căn cứ lý luận và thực tiễn của
việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình tập hợp, vận động quần chúng của
7


Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nghiệm thu năm 2005 - 2006. Một số bài viết trên
Tạp chí Mặt trận: Nguyễn Mạnh Cầm (2009), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đổi
mới, tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại trong thời kỳ mới,
Tạp chí Mặt trận, số 71, tr. 46-50; Hoàng Hải (2009), “Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với công tác người Việt Nam ở nước ngoài”, Tạp chí Mặt trận, số 70, tr.
55-59; Trần Đắc Lợi (2009), “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại
nhân dân trong thời kỳ mới”, Tạp chí Mặt trận, số 73; Hà Văn Núi, “Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân, tham gia hội
nhập quốc tế”, Tạp chí Mặt trận, số 63, tháng 1, năm 2009; Nguyễn Mạnh

- Trình bày chủ trương và phân tích sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015.
- Nêu lên những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và phân tích
những nguyên nhân, đồng thời, rút ra những các kinh nghiệm lịch sử có giá trị
tham khảo cho hiện tại về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chủ trương, biện pháp của Đảng nhằm lãnh đạo hoạt động đối ngoại
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015.
- MTTQVN hiện thực hóa chủ trương đối ngoại của Đảng từ năm 2001
đến năm 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
(Do đặc điểm hoạt động đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Đảng vừa là thành viên, vừa là lãnh đạo Mặt trận nên sự lãnh đạo của Đảng
chủ yếu là hoạch định chủ trương. Trên cơ sở đó, Mặt trận đề ra chủ trương và
tổ chức thực hiện chủ trương đó. Vì vậy Luận văn tập trung làm sáng tỏ điều
kiện lịch sử và chủ trương của Đảng cũng như quá trình thực hiện chủ trương
đó trên một số lĩnh vực cụ thể về tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước; duy trì, nâng cao quan hệ với các đối tác truyền
thống, mở rộng quan hệ với các đối tác mới; xây dựng đường biên giới hòa

9


bình, hữu nghị với các nước láng giềng và công tác đối với người Việt Nam ở
nước ngoài).
+ Bối cảnh lịch sử thế giới, khu vực và trong nước trong những năm từ
2001 đến năm 2015 có tác động đến chủ trương đối ngoại của Đảng

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong Luận văn là phương
pháp lịch sử, phương pháp logic. Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài.
6. Những đóng góp của Luận văn
- Về mặt khoa học: Đề tài “Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015” đóng góp vào việc
làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng trong hoạt động đối ngoại của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015. Trên cơ sở tìm hiểu phương
hướng đối ngoại của Mặt trận trong những hoạt động cụ thể, nhận thấy
những ưu điểm cũng như hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng, đồng
thời rút ra một số kinh nghiệm lịch sử để làm tốt hoạt động đối ngoại ở các
thời kì tiếp theo.
- Về mặt thực tiễn: Ở một mức độ nhất định Luận văn cung cấp tài liệu
tham khảo, có giá trị nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động
đối ngoại của MTTQVN.
7. Bố cục Luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, Luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Chủ trương của Đảng và việc hiện thực hóa của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động đối ngoại từ năm
2001 đến năm 2005.
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng và việc thực hiện của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động đối ngoại từ năm 2006 đến năm 2015.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.

Chương 1
11



đồng đều, tội phạm xuyên quốc gia gia tăng, một số quốc gia có nguy cơ
12


không giữ được văn hóa truyền thống dân tộc, bị truyền bá văn hóa không
lành mạnh.
Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để lựa chọn
và quyết định con đường phát triển. Chênh lệch giàu nghèo giữa các nước
ngày càng mở rộng.
Khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai
trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Cuộc
cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ cao tác động sâu rộng
đến mọi mặt của đời sống quốc tế. Các ngành công nghệ cao phát triển như vũ
bão đặc biệt là công nghệ thông tin thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và khu
vực hóa, làm tăng nhu cầu hợp tác quốc tế và đối thoại để khai thác, cùng đối
phó với những nảy sinh từ quá trình này. Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển
trở thành xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Nhân
tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và dần dần trở thành nhân tố chủ đạo
trong quan hệ quốc tế đặc biệt là kinh tế tri thức. Trào lưu cải cách thể chế, cơ
cấu kinh tế ở các quốc gia trên thế giới trở thành phổ biến và làm thay đổi căn
bản bộ mặt kinh tế, xã hội của thế giới. Để tồn tại và phát triển, các quốc gia
trên thế giới đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế, coi đó là nhân tố quyết
định sức mạnh tổng hợp của quốc gia và nhanh chóng hội nhập vào xu thế
chung trong cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu.
Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt. Mặc
dù hòa bình thế giới được củng cố nhưng tình hình vẫn chưa hoàn toàn ổn
định thậm chí còn phát triển theo hướng phức tạp và đa dạng. Khả năng xảy
ra chiến tranh thế giới bị đẩy lùi song những cuộc xung đột vũ trang, xung đột
sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, khủng bố vẫn còn xảy ra ở nhiều khu
vực. Cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng đơn cực và đa cực trong quan hệ

1

Ngày 26/12/2004, một trận động đất mạnh 9,3 độ richter ở Ấn Độ Dương tạo ra trận sóng thần khủng khiếp
đánh vào bờ biển của 14 nước, cướp đi sinh mạng của hơn 220.000 người và được coi là thảm họa lớn nhất
được ghi nhận trong lịch sử hiện đại.

14


Cùng với xu thế hợp tác kinh tế thế giới, các nước Đông Nam Á tích
cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và nỗ lực khắc phục khủng
hoảng kinh tế năm 1997.
Các đặc điểm trên quy định tính đa phương, đa dạng trong quan hệ
quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước. Những chuyển biến tình
hình thế giới và khu vực luôn luôn phức tạp, khó lường, nó tác động trực tiếp
tạo ra những cơ hội và thách thức cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Tình hình trong nước:
Trải qua 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội 1991 - 2000 và 15 năm đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn. Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã tổng kết những thành tựu
đạt được:
“Kinh tế tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình
quân hằng năm 7%. Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất
lương thực. Việc nuôi trồng và khai thác thủy sản, hải sản được mở rộng. Giá
trị sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm tăng 13,5%. Hệ thống kết cấu hạ
tầng: bưu chính - viễn thông, đường sá, cầu, cảng, sân bay, điện, thuỷ lợi...
được tăng cường. Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu đều phát triển.
Năm 2000 đã chặn được đà giảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu chủ
yếu đều đạt hoặc vượt kế hoạch đề ra” [18, tr. 167].

lập quan hệ với các đảng cầm quyền ở một số nước. Các đoàn thể nhân dân,
các tổ chức chính trị - xã hội, uỷ ban hoà bình và các hội hữu nghị đẩy mạnh
ngoại giao nhân dân cả về quy mô và địa bàn, góp phần tích cực vào thắng lợi
của Đảng và Nhà nước ta trên mặt trận đối ngoại” [18, tr. 169].
Những thành tựu đó đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ
mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân
tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế.

16


Bên cạnh những kết quả đạt được, đất nước còn phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức
cạnh tranh thấp. Một số vấn đề văn hoá - xã hội bức xúc và gay gắt chậm
được giải quyết. Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Mặt khác,
các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”,
xuyên tạc lịch sử, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xúi giục, kích động ly
khai đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng, miền khác nhằm
hỗ trợ các phần tử chống đối gây rối trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước như vậy, công tác đối
ngoại của Đảng và công tác đối ngoại nhân dân trong giai đoạn 2001 – 2005
có nhiều thuận lợi và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Trong tình hình
đó Việt Nam buộc phải điều chỉnh chính sách đối ngoại sao cho phù hợp trên
các lĩnh vực đặc biệt là an ninh – chính trị, đối ngoại nhằm giữ vững độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nhưng vẫn tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế trên
nhiều mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, bảo vệ môi
trường… Chủ động nâng cao công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại làm

đến năm 2019, MTTQVN bao gồm 44 tổ chức thành viên là một bộ phận cấu
thành hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là công cụ
thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm mục đích chung là
phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ
và giàu mạnh có vị trí xứng đáng trên trên trường quốc tế.
1.1.2. Chủ trương của Đảng
Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trước sự thay đổi nhanh chóng tình hình quốc tế, khu vực và trong
nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2001 tổng kết những thành
tựu và hạn chế qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII của Đảng, đồng thời khẳng định và bổ sung chủ trương đối ngoại
18


được đề ra từ Đại hội VIII nhằm đáp ứng đòi hỏi tình hình mới. Đại hội IX
tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa
dạng hóa các mối quan hệ với nhiệm vụ là tiếp tục giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định phát triển. Đại hội nêu rõ cần phải mở rộng quan hệ đối ngoại
với các tổ chức quốc tế, khu vực, các đảng, các vùng lãnh thổ, các trung tâm
kinh tế: “Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các
nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ
chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không
dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các
bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu
và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy
tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Chính phủ cùng các bộ, ngành và

[18, tr. 147]. Đại hội IX nhấn mạnh cần tham gia vào các hoạt động
mang tính toàn cầu: ủng hộ và cùng nhân dân thế giới đấu tranh nhằm loại
trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và mọi phương tiện chiến tranh
hiện đại khác, bảo vệ hòa bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ
trang, tôn trọng độc lập chủ quyền và quyền lựa chọn con đường phát triển
của mỗi dân tộc trên thế giới góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế
quốc tế dân chủ, công bằng [18, tr. 147].
Để đẩy mạnh và tăng cường hiệu quả hoạt động đối ngoại, Nghị quyết
Đại hội IX nhấn mạnh phải đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ nghiên cứu,
làm tốt công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới, kịp thời có những chủ
trương, chính sách đối ngoại khi tình hình thay đổi. Tăng cường công tác
thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại. Về đội ngũ làm công tác đối ngoại

20


cần bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực, đạo đức, phẩm chất kể
cả các cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại [18, tr. 147-148].
Bên cạnh chủ trương về quan hệ với các đối tác, các tổ chức khu vực và
trên thế giới, Đảng đặc biệt quan tâm đến bộ phận người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Đảng và Nhà nước chủ trương bảo hộ quyền lợi chính đáng, giúp đỡ nâng cao
ý thức cộng đồng, tăng cường đoàn kết tương trợ, giữ gìn bản sắc văn hóa và
truyền thống dân tộc; tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào về thăm quê hương,
giúp đỡ gia đình, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp xây dựng đất
nước… Ngày 26/3/2004, Bộ Chính trị ra “Nghị quyết 36/NQ-TW về công tác
đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị quyết khái quát tình hình người
Việt Nam ở nước ngoài, về những đóng góp của họ với quê hương: “Cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan
hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả

dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối
quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp
tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và
điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động
đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”
[41, tr. 3].
Nghị quyết đề ra những nhiệm vụ chủ yếu là thông qua các hoạt động
ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều
bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán
và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh
sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu
hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải

22


quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên
quan đến vấn đề quốc tịch.
- Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê
hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy
định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở
nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Có hình
thức thích hợp tổ chức thu thập ý kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi
ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt
Nam ở nước ngoài. Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút,
trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công
cuộc phát triển đất nước.
- Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở
nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước.
- Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status