TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
************
NGUYỄN THỊ THẢO
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991
ĐẾN NĂM 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
Th.s TRẦN THỊ THU HÀ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 và sự động viên của gia đình, bạn bè. Em xin chân thành
cảm ơn.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo,
Th.s Trần Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn em suốt thời gian qua để em hoàn
thành khóa luận.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, mặc dù đã rất cố gắng nhưng
những vẫn đề em trình bày trong khóa luận cũng không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự
đóng góp ý kiến của các bạn để khóa luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa.
: Diễn đàn khu vực ASEAN
AU
: Liên minh Châu Phi
BCHTƯ
: Ban Chấp hành Trung ương
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CT/TW
: Chỉ thị Trung ương
ĐCSVN
: Đảng Cộng sản Việt Nam
NGO
: Tổ chức phi chính phủ
Nxb
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ............................................. 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................... 4
5. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 5
6. Bố cục của khóa luận ................................................................................. 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương 1. ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN
DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001............................................................ 7
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
CỦA ĐẢNG .................................................................................................. 7
1.1.1 Cơ sở lý luận ..................................................................................... 7
1.1.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin .............................................................. 7
1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh ............................................................... 8
1.1.2 Cơ sở thực tiễn ................................................................................ 12
1.1.2.1 Bối cảnh quốc tế ....................................................................... 12
1.1.2.2 Bối cảnh trong nước ................................................................. 15
1.2 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI NGOẠI
NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 ......................................... 16
1.2.1 Quan điểm chủ trương của Đảng về đối ngoại và đối ngoại
nhân dân ................................................................................................... 16
1.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động đối ngoại nhân dân .............. 20
1.3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 ................................................................ 25
1.3.1 Phong trào hòa bình......................................................................... 25
1.3.2 Phong trào đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh ....................... 27
1.3.3 Hoạt động hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các
nước .......................................................................................................... 29
1.3.4. Công tác vận động phi chính phủ nước ngoài................................ 31
3.2. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM .................................................. 71
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, nhân tố quốc tế
luôn giữ một vai trò quan trọng. Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển
được nếu không có quan hệ với thế giới bên ngoài.
Đầu thập niên 90 đến những năm đầu của thế kỷ XXI, kinh tế tri thức ngày
càng phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp có những bước phát triển
nhảy vọt, thúc đẩy xã hội hóa vật chất phát triển, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế,
phát triển nhiều ngành kinh tế mới. Cải cách và mở cửa xuất hiện như một trào lưu
tại nhiều nước trên thế giới. Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế mang lại cơ
hội cho nhiều nước và khu vực, đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối
với tất cả các nước, nhất là những nước đang và kém phát triển.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam, ta đã tiến hành các hoạt động
ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, đối ngoại nhân dân là bộ
phận cấu thành quan trọng của mặt trận ngoại giao nước nhà, góp phần thực hiện
nhiệm vụ, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, phục vụ sự nghiệp cách
mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, công tác đối ngoại
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên mặt trận đoàn kết rộng rãi chưa
từng có của nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta, đóng góp
to lớn vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp thống nhất đất nước. Bước sang những
năm đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, khó
lường và xuất hiện những yếu tố bất lợi cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các thế lực thù địch gia
tăng chính sách cường quyền, áp đặt, can thiệp thô bạo vào chủ quyền của các quốc
gia – dân tộc, sự bùng phát của các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa
nước. Do đó, ở Việt Nam đã có nhiều ấn phẩm và công trình nghiên cứu về hoạt
động đối ngoại nhân dân. Tiêu biểu như cuốn sách “Hoạt động đối ngoại nhân dân
Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2003, do Liên hiệp các tổ chức hữu
nghị Việt Nam biên soạn. Cuốn sách đã trình bày các hoạt động ngoại giao nhân
dân của Việt Nam từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945 đến
thời kì đất nước hòa bình, ổn định và phát triển năm 2003. Cuốn “Đối ngoại Việt
2
Nam thời kì đổi mới” Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2005, cuốn sách đã trình
bày các quan điểm, chủ trương của hoạt động đối ngoại từ khi thự hiện đường lối
ngoại thời kì đổi mới (từ năm 1986), qua đó để thấy được đường lối đối ngoại của
Đảng là đúng đắn. Bài viết “Công tác đối ngoại nhân dân” Tạp chí lý luận chính
trị, tháng 3/2006, trang 20 – 25, “Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế
kỉ XXI” của Lê Thị Tình, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2009. Trong những năm thế kỉ
XXI hoạt động đối ngoại nhân dân của Đảng đã có sự thay đổi mới, nhiều hoạt động
đối ngoại nhân dân được phát triển hơn cả về chiều rộng và chiều sâu, Đường lối
đối ngoại của Đảng ngày càng phù hợp với sự phát triển của đất nước cũng như thế
giơi.“Việt Nam trong thế giới của thập kỉ thứ hai thế kỉ XXI”, Nguyễn Trung, Tạp
chí nghiên cứu và thảo luận, số 18, tháng 3/2010, quá trình Việt Nam ra hội nhập
cùng thế giới đạt được nhiều thành công vững chắc, quan hệ hữu nghị của Việt Nam
với các nước được mở rộng hơn. Luận án “ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt
động đối ngoại nhân dân từ năm 1986 - 2006” Lê Thị Tình, Học viện Chính trị
hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012, Luận án cho thấy quan điểm và chủ
trương của Đảng về đối ngoại nhân dân ngày càng đổi mới và phát triển, cùng với
nhiều hoạt động đối ngoại nhân dân phi chính phủ mới hơn . Luận văn “Ngoại giao
nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh” Phạm Thị Huyền Trang, Học viện Ngoại
giao, tháng 7/2013, Tư tưởng ngoại giao nhân dân của Hồ Chí Minh được trình bày
cụ thể, qua đó thấy được tầm nhìn chiến lược của Đảng trong vấn đề đối ngoại nhân
hoạt động đối ngoại nhân dân diễn ra rất phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội. Tuy nhiên do khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của một
khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành Lịch sử Đảng, đề tài chỉ đề cập đến vài mặt nổi
trội của hoạt động này trong từng giai đoạn để minh họa cho việc hiện thực hóa chủ
trương, chính sách đối ngoại nhân dân của Đảng vào trong thực tiễn cuộc sống, xã
hội.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng, kế thừa và tiếp thu
các nguồn tư liệu: Các văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội; Các tài liệu lưu trữ của
4
Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương; những bài nói, bài viết của các đồng chí
lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ Ngoại giao; Một số sách, báo, tạp chí về đối ngoại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ đề ra, khóa luận quán triệt và
tuân thủ hệ thống quan điểm, nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp nghiên
cứu chủ yếu của khóa luận là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra,
khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so
sánh…
5. Đóng góp của khóa luận
5.1. Về mặt lý luận
Tái hiện những nét chính yếu quá trình hoạch định và lãnh đạo thực hiện
đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng từ năm 1991 đến năm 2011. Khóa luận đã
1.1.1.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng
lý luận, những quy định của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại cũng được xây dựng trên
nền tảng lý luận này.
C.Mác, Ănghen, Lênin không trực tiếp đề cập đến vấn đề đối ngoại nhân
dân. Nhưng theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác, quần chúng nhân dân làm ra lịch sử. Lịch sử xã hội là lịch sử
của con người do chính con người tạo ra thông qua hoạt động tồn tại và chủ yếu là
hoạt động sáng tạo của mình. Quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia bắt đầu từ sự
trao đổi sản phẩm thừa giữa các bộ lạc và trải qua các thời kì lịch sử mở rộng về
không gian và lĩnh vực (buôn bán, giao lưu hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và hòa
bình, giao lưu văn hóa…).
Trong một nước, dân là gốc. Đường lối chính trị và chính sách đối ngoại của
chính phủ một nước có đáp ứng được nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân
thì mới được nhân dân chấp nhận, thực hiện và mới có hiệu quả. Thái độ của nhân
dân có tác động quyết định đối với sự tồn tại và khả năng hoạt động của chính phủ.
V.I.Lênin từ nhận thức về vai trò của nhân dân ngày càng tăng trong lịch sử
đã đi đến kết luận về ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của các dân tộc đối với chính
sách đối ngoại của các quốc gia. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Lênin rất
7
coi trọng công tác vận động quốc tế ủng hộ cách mạng và nhân dân nước Nga, đặc
biệt là vận động nhân dân, các cá nhân và tổ chức chính trị - xã hội các nước. Sau
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Lênin đã cùng với Đảng và Nhà nước Xô
Viết, các đảng anh em ở các nước, vận động phong trào nhân dân rộng lớn ủng hộ
và bảo vệ chính quyền Xô Viết. Hoạt động đối ngoại nhân dân (ngoại giao nhân
dân) của nước Nga Xô Viết và sau đó là Liên Xô đã góp phần quan trọng thực hiện
các nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước Xô Viết, chủ yếu là nguyên tắc chủ nghĩa
chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn. Muốn tranh thủ được sự
ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập tự chủ đúng đắn. Tư tưởng độc lập
tự chủ và tự lực tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh xa lạ với sự biệt lập và chủ
nghĩa biệt phái. Để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong bối cảnh
thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp
tác quốc tế và coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối
cách mạng Việt Nam, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm
tăng thêm khả năng tự lực tự cường, tạo điều kiện làm chuyển biến so sánh lực
lượng có lợi cho cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc.
Là một chiến sĩ quốc tế chân chính Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập
của dân tộc mình, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc khác. Trong
quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Campuchia, Trung Quốc cũng
như với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh thực hiện nhất quán quan
điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời
mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt
Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó.
Thứ ba, Đoàn kết tập hợp tất cả các lực lượng có thể tập hợp được, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong hoạt động đối ngoại. Xuất phát từ
nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống văn hóa Việt Nam, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn đề cao vai trò, sức mạnh của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Theo Người, đoàn kết làm nên sức mạnh, đoàn kết làm nên thành công. Trong hoạt
động đối ngoại của mình, Người luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế
giới, cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong đoàn
9
kết tập hợp lực lượng Người luôn phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là kẻ thù để có kế sách
Trong quan hệ đối ngoại, phải biết lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù để phân
hóa kẻ thù, sao cho ít kẻ thù nhất, nhiều bầu bạn nhất. Phải biết thắng từng bước,
“kết hợp giữa đánh và đàm” để xây dựng và chuyển hóa lực lượng tiến tới giành
thắng lợi hoàn toàn. Tuy nhiên, sử dựng phương thức “vừa đánh, vừa đàm” là một
vấn đề nghệ thuật. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đứng đầu là nhà ngoại
giao bậc thầy Hồ Chí Minhthường nhắc nhở rằng: Chúng ta cần nêu cao tinh thần tự
lực cánh sinh, chống tư tưởng sợ Mỹ, tư tưởng đàm phán khi chưa có điều kiện
thuận lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp
đỡ của nước ngoài, không tin tưởng vào sức mình.
Chính việc sử dụng đa dạng, linh hoạt, phong phú nhiều phương thức đối
ngoại khác nhau, mà Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy hết
sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại vào cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, đưa đến thành công của cách mạng Việt Nam.
- Đối tác của hoạt động đối ngoại trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Một trong những nguyên tắc trong quan hệ quốc tế song phương hay đa
phương mà chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra từ rất sớm, đó là việc phải xác định được
đối tác mà mình định xây dựng quan hệ: là bạn, là đồng minh, hay kẻ thù. Trên cơ
sở đó, xây dựng chủ trương, đường lối và mục tiêu với từng đối tác cụ thể. Khi xác
định đúng bản chất của đối tác, kể cả đó là kẻ thù, những người cộng sản không
phải chỉ biết thủ tiêu mối quan hệ, mà trái lại phải duy trì mối quan hệ với các đối
tác đó, trên nguyên tắc đã được xác định sao cho quyền lợi dân tộc và mục tiêu cuối
cùng của cách mạng không bị xâm hại.
Trên nền tảng tư tưởng đó, với tư tưởng đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm
bạn với tất cả các nước dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng biên độ đối tác
trong hoạt động đối ngoại không chỉ đối với các đảng phái, Chính phủ của các
nước, mà còn với các cá nhân, thuộc các tầng lớp, nghề nghiệp có khuynh hướng
chính trị khác nhau, đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ có tình
cảm với Việt Nam trên toàn thế giới, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân
1.1.2.1. Bối cảnh quốc tế
Trong những năm 1991 đến năm 2001, tình hình thế giới diễn biến hết sức
nhanh chóng, phức tạp, có những đột biến lớn làm thay đổi cục diện chính trị thế
12
giới. Các nước, các dân tộc đối diện nhiều vấn đề mới bao gồm những cơ hội, điều
kiện thuận lợi để phát triển và cả những khó khăn, thách thức không nhỏ.
Về tình hình chính trị: Vào đầu thập niên 90, một trật tự thế giới mới dần
được hình thành nguyên nhân là do sự sụp đổ của các nước Xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu và Liên Xô (năm 1991) khiến trật tự thế giới hai cực tồn tại trong suốt nửa
thế kỉ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt. Lực lượng trên thế giới thay đổi
theo chiều hướng có lợi cho Mỹ và các nước tư bản phát triển, đẩy phong trào cách
mạng thế giới vào tình thế bất lợi và khủng hoảng, thoái trào mang tính toàn cầu.
Về tình hình kinh tế: Có những biến động lớn:
Thứ nhất, ưu tiên phát triển kinh tế trở thành một xu hướng chung của mọi
quốc gia dân tộc.
Chiến tranh Lạnh tuy không phủ nhận vai trò kinh tế, song về cơ bản sức
mạnh chính trị quân sự trở thành nhân tố chủ yếu đảm bảo vị trí cường quốc của
một quốc gia. Tuy nhiên, khi chiến tranh Lạnh kết thúc, hòa hoãn trong quan hệ
quốc tế trở thành xu thế chủ đạo, cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước trên thế
giới đang dần thay thế cho cuộc chạy đua về vũ trang. Tất cả các nước trên thế giới
đều điều chỉnh đường lối, tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội, cố gắng ổn định
kinh tế, đồng thời mở rộng cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, tăng cường
hợp tác với quốc tế nhằm đưa đất nước phát triển. Như vậy, kinh tế đã trở thành
nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, đảm bảo vai trò vị trí
của các quốc gia đó trong đời sống quốc tế.
Thứ hai, xu hướng liên kết khu vực trở thành điểm nổi bật của kinh tế thế
giới.
giữa yêu cầu cao của xã hội hóa lực lượng sản xuất với những điều chỉnh về mặt
quan hệ sản xuất càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn. Xu thế
vận động của toàn cầu hóa đang tạo điều kiện cho tất cả các nước – miễn là không
tự khép kín, đóng cửa – thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, tuyên truyền,
quảng bá về nước mình, dân tộc mình đến với các nước, các dân tộc khác. Đây là
điểm thuận lợi, tích cực cho phần nhiều các nước đang mong muốn hiểu biết lẫn
nhau, tiến tới hợp tác cùng phát triển. Nhưng mặt khác cũng có thể nhận thấy rõ, đó
là không ít quốc gia, nhân danh toàn cầu hóa, nhân danh hợp tác, chia sẻ lợi ích…
14
để áp đặt, cưỡng bức hình ảnh, mô hình của nước mình, quốc gia mình đối với các
nước khác, dân tộc khác.
Bước chuyển biến của bối cảnh quốc tế còn gắn liền với sự phát triển mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ. Với bản chất của nó, toàn cầu hóa
và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vận
động liên tục và đều có một điểm chung đó là đang tạo ra những điều kiện để các
quốc gia hướng đến xây dựng một nền kinh tế tri thức. Những thành tựu khoa học
mới và tốc độ quay vòng từ nghiên cứu khoa học tới việc ứng dụng tạo ra những
hiệu quả và hiệu suất cực kỳ lớn trong hoạt động kinh tế - thương mại là nền tảng
cơ bản của nền kinh tế này.
Như vậy, nhìn chung sau chiến tranh lạnh các quốc gia trên thế giới vừa tập
trung ưu tiên giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở trong nước vừa đẩy mạnh đấu
tranh giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Do đó, xu thế hòa bình,
hợp tác cùng phát triển, giải quyết mọi tranh chấp bất đồng thông qua đàm phán
thương lượng chính trị trở thành xu thế chủ đạo trong đời sống quốc tế đương đại.
1.1.2.2. Bối cảnh trong nước
Năm 1991, đánh dấu Việt Nam thực hiện sự nghiệp đổi mới gần được 5
năm, nhưng trên nhiều mặt vẫn gặp những khó khăn nghiêm trọng. Trong khi đất
đất nước vẫn chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, số người không có
việc làm hoặc việc làm thất thường rất lớn, đời sống văn hóa tinh thần có biểu hiện
suy thoái, chất lượng giáo dục giảm, nhiều giá trị đạo đức bị suy đồi…
Như vậy, với những yếu tố mới của bối cảnh quốc tế và trong nước xuất
hiện, đòi hỏi Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo, chủ động đón nhận thời cơ, tranh thủ
vốn, khoa học – công nghệ hiện đại của thế giới để xây dựng đất nước vững mạnh
về mọi mặt, đồng thời chủ động ứng phó với những nguy cơ, thách thức mới.
1.2. QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI NGOẠI NHÂN
DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001
1.2.1. Quan điểm chủ trương của Đảng về đối ngoại và đối ngoại nhân dân
Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VII (6/1991) nhiệm vụ lịch sử là tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đường lối
đổi mới, tìm cách đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời
ngăn chặn những ảnh hưởng xấu do tác động của việc CNXH ở Đông Âu và Liên
16
Xô đang tan rã từng phần, hoàn thành những đường nét cơ bản về con đường đi lên
CNXH ở nước ta. Thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ
lên CNXH và chiến lược ổn định, phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”. Đại hội
VII xác định mục tiêu tổng quát là vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã
hội, đua đất nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng.
Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát nêu trên, trên cơ sở nhận thức
sâu sắc hơn bối cảnh quốc tế và trong nước trước những diễn biến phức tạp của hệ
thống XHCN thế giới, chính sách đối ngoại của Đảng được Đại hội đề ra là:
“Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện
quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp
– 1995) mà Đại hội VII đề ra: “Vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa
nước ta cơ bản vượt qua khủng hoảng hiện nay”. “Chúng ta gia sức giữ vững hòa
bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo môi trường và điều kiện quốc tế
thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đóng góp tích cực
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội” [3, tr.4-5].
Để thực hiện những nhiệm vụ đó, về công tác đối ngoại Đảng chỉ rõ: “Phải
có chính sách khôn khéo, cách làm có hiệu quả để mở rộng hợp tác với bên ngoài
nhằm khai thác tốt nhất tiềm lực và lợi thế bên trong”.
Vì vậy, chúng ta mở rộng “đa dạng hóa và đa phương hóa” quan hệ đối
ngoại cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học - kĩ thuật, cả về Đảng, Nhà nước
và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, trên nguyên tắc: “Tôn trọng
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng và cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ vững và phát huy
những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc” [3, tr.6].
Cũng trong văn kiện này, lần đầu tiên đối ngoại nhân dân được ghi rõ trong
Nghị quyết của Đảng với nhiệm vụ: “Mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân
dân nhằm giữ gìn hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc
tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời
góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc
18