đảng lãnh đạo xây dựng xây dựng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 1996 2000 (1) - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
---***---

PHẠM THỊ THÙY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (1996 - 2000)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
---***---

PHẠM THỊ THÙY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (1996 - 2000)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGÔ THỊ LAN HƯƠNG



Phạm Thị Thùy


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH:

Công nghiệp hóa.

HĐH:

Hiện đại hóa.


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN ........................................ 6
1.1. Một số khái niệm ................................................................................. 6
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông thôn ................. 11
1.3. Tính tất yếu thực hiện công nghiệp hóa, hiên đại hóa nông nghiệp,
nông thôn ................................................................................................. 13
Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN ( 1996 – 2000).... 16
2.1. Tình hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trước
năm 1996.................................................................................................. 16
2.2. Qúa trình Đảng lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

vào thời kì phát triển mới. Đó là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau,
trong đó phải kể tới tác động tích cực từ những thành quả trong công cuộc
thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
của Đảng.
Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới cho
thấy nông nghiệp nông thôn luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng đối với đời
sống xã hội. Những sản phẩm do nông nghiệp, nông thôn tạo ra không hoạt
động sản xuất nào thay thế được, tuy nhiên để nông nghiệp, nông thôn phát
triển có hiệu quả, đòi hỏi phải có hình thức bước đi phù hợp.
1


CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam là chủ trương lớn và
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, vì trong quá trình này đã thúc đẩy nền
kinh tế đất nước phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho dân cư ở
nông thôn, tạo điều kiện để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị - xã hội
của đất nước, đưa nông thôn nước ta phát triển văn minh, hiện đại.
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định: “Đặc biệt coi trọng
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phát triển công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu” [12, tr.96].
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một quá trình lâu dài cần được
tiến hành theo cách tuần tự, không nóng vội, không thể tùy tiện. Qúa trình này
được thực hiện không nhằm mục đích tự thân mà phục vụ các mục tiêu kinh
tế - xã hội của nông thôn cũng như của cả nước. Vì vậy nếu ta không nhìn
nhận và phân tích một cách sâu sắc quá trình chuyển đổi và phát triển của nền
nông nghiệp hiện nay thì sẽ có thể tìm ra những giải pháp vĩ mô cũng như vi
mô đúng và phát huy được hiệu quả trong quá trình CNH, HĐH nền nông
nghiệp của đất nước.
Thực tế lịch sử đã chứng minh trong những năm gần đây nhờ có đổi

nghiệp, nông thôn. Vì vậy tôi đã quyết định chọn cho mình một giai đoạn
(1996 - 2000) làm đề tài khóa luận của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo của chủ trương CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn, kết quả đạt được và những yếu kém, khuyết
điểm trong quá trình Đảng lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ
năm 1996 - 2000, qua đó rút ra một số kinh nghiệm, góp phần vào quá trình
hoàn thiện hơn chủ trương của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
thúc đẩy sản xuất phát triển thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ
kinh tế, xã hội trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ yêu cầu khách quan, chủ trương của Đảng về CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Trình bày sự lãnh đạo của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, làm rõ những thành tựu cũng như yếu kém trong quá trình thực hiện chủ
trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 - 2000.
Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm, Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 - 2000.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Khóa luận nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo
của Đảng đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta từ
1996 - 2000.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở thế kỉ XVII, XVIII khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây
âu, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử
dụng máy móc. Những khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm CNH, HĐH
nói riêng, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã
hội, của khoa học công nghệ. Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này
trong từng giai đoạn phát triển sản xuất của nền kinh tế xã hội có ý nghĩa to
lớn về lý luận và thực tiễn.
Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những
kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành CNH, và từ những thực tiễn CNH ở Việt
Nam trong thời kì đổi mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành
Trung ương khóa VII (7/1994) Đảng đã xác định:
“CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức
lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện
đại trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ
nhằm tạo ra năng suất lao động cao” [10, tr.65].
Khái niệm CNH trên đây được Đảng ta xác định rộng trên những quan
niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ và
quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và phương pháp
tiên tiến, hiện đại cùng với kĩ thuật và công nghệ cao. Như vậy, CNH theo tư

6


tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất, kĩ
thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan
niệm trước đây.

giúp đỡ của quốc tế. CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở cũng gây
ra không ít trở ngại do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do
“trật tự” của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không
có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu. Vì thế CNH, HĐH phải đảm bảo xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Những đặc điểm trên đây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay, vừa đem lại những thuận lợi cũng như thách thức
buộc chúng ta phải có những chủ trương, chính sách và bước đi đúng đắn,
nhằm đưa kinh tế nước ta phát triển bền vững.
1.1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa
IX Đảng ta đã đưa ra khái niệm về CNH, HĐH như sau:
“CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn công nghiệp chế biến và thị
trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các
thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa
thiết bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
của nông sản hàng hóa trên thị trường”.
“CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng tăng tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành
công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quy hoạch phát triển
nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công

8


bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa

Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển nông nghiệp, nông thôn mà còn bao
hàm cả việc phát triển các hoạt động; các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, đời sống,
văn hóa, tinh thần của người nông thôn phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp
ở nông thôn và cả nước nói chung.
Trước tình hình thực tiễn của đất nước, sau Đại hội VI của Đảng (năm
1986), Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóaVIII) một lần nữa
khẳng định: phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH và hợp
tác hóa, dân chủ hóa. Trong những năm trước mắt cần đẩy mạnh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phù hợp với sự phát triển kinh tế nông
nghiệp hàng hóa, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người nông dân. Trong
đó phải giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông sản.
Tháng 11 năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Một số vấn đề
phát triển nông nghiệp, nông thôn” khẳng định quan điểm, mục tiêu nhất
quán của Đảng ta là: coi trọng CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp, đưa
nông nghiệp lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kì quan trọng trong cả trước
mắt và lâu dài. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa nhất là nông - lâm - thủy hải
sản qua chế biến, tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trước hết phải giữ vững mục tiêu đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia trong mọi tình huống.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định:
“... ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò của giai
cấp nông dân trong thời kì đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và các nguồn
lực cần thiết cho CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn;
thực hiện tốt các chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn
diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã
hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ những vùng khó khăn, phân bố

10




Phát triển lý luận Mác - Lênin về vấn đề phát triển nông nghiệp, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Đối với một nước nghèo, lạc hậu như nước ta, phát triển nông nghiệp
là vấn đề cốt lõi của nền kinh tế ”. Trong phát triển nông nghiệp, sản
xuất nông nghiệp có vị trí quan trọng, Người nói “Sản xuất nông nghiệp,
trước hết là sản xuất lương thực là việc làm cần thiết cho đời sống của
nhân dân, là bộ phận cực kì quan trọng trong kế hoạch kinh tế nông
nghiệp” [20, tr.5].
Theo quan niện của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì: nông nghiệp, nông thôn
và nông dân có vị trí quan trọng đối với xã hội, Người nói:
“Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế nước ta lấy
nông nghiệp làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ
trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn,
nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”
[18, tr.45].
Trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp là một trong ba bộ
phận quan trọng không thể thiếu được, vì nông nghiệp là cơ sở để phát triển
các ngành kinh tế khác. Người nói “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền
kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng là nông nghiệp, công nghiệp và
thương nghiệp. Ba mặt cộng tác quan hệ mật thiết với nhau, thương nghiệp là
khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp” [20, tr.147].
Người chỉ rõ: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển,
cho nên nông nghiệp và công nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau
phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh
chóng đi đến mục đích” [19, tr.545].
Về xây dựng nông thôn mới, Người dạy: Muốn cơm no, áo ấm thì mọi
người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Người nói:
“Nhiều gia đình cộng lại mới thành một xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, hạt

hóa. Nhờ đó năng suất lao động của họ đạt hiệu quả cao, tạo sự phân công sâu
sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
13


Ở nước ta, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm cuối thập kỉ
70 đến giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX, xuất phát điểm từ khủng hoảng kinh tế
nông nghiệp, nông thôn, do chậm trễ trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và
chính sách sản xuất nông nghiệp đã cản trở sự phát triển của lực lượng sản
xuất, làm cho lương thực, thực phẩm thiếu hụt triền miên, đồng thời do sai
lầm trong lựa chọn hình thức, bước đi thực hiện CNH đất nước, thiên về phát
triển công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ không được chú trọng, dẫn đến
nhiều mặt hàng tiêu dùng không được đảm bảo phục vụ cho nhu cầu của đời
sống xã hội.
Tình hình trên đã ảnh hưởng lớn đến phát triển chung của nền kinh tế
quốc dân. Trước thực trạng đó, những tư duy về đổi mới kinh tế, đặc biệt là
trong nông nghiệp, nông thôn ra đời từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khóa IV (8/1979), Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (1/1981), nội dung
chính về CNH xã hội chủ nghĩa do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
(3/1982), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) và sự hoàn thiện về
cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khoá
VI (4/1988), Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa VI
(3/1989),... Đã từng bước đi vào thực tiễn đời sống xã hội mở ra bước ngoặt
mới thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển.
Thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội
cho thấy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có vai trò quyết định đối với sự
ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tạo cơ sở phát triển cho các ngành
công nghiệp, tăng cường khả năng quốc phòng an ninh đất nước.
Công cuộc đổi mới tuy giành được những thành tựu to lớn, song nền
kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp là

Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN ( 1996 – 2000)

2.1. Tình hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
trước năm 1996
2.1.1. Chủ trương của Đảng
Sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước của nhân dân ta kết thúc thắng lợi đây là một trong những chiến thắng
vẻ vang, oanh liệt nhất của dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã đánh bại đế quốc
Mĩ, một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự hùng mạnh vào bậc nhất thế giới,
mở ra kỉ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam, đó là kỉ nguyên cả nước độc
lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ hết sức
khó khăn, lại phải tiến hành trong những điều kiện đất nước vừa trải qua
những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng trở nên nặng nề và gian nan
hơn. Những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX, do cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp kéo dài đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, dẫn tới
khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.
Trong bối cảnh đó, để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và đưa
nền kinh tế phát triển bền vững, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã
quyết định đổi mới đất nước một cách toàn diện. Trong đó, Đảng đã vạch ra
đường lối đổi mới và xác định phương hướng đổi mới trong quản lí nông
nghiệp: Phải bố trí lại cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa nông nghiệp nước ta
tiến lên một bước theo hướng sản xuất hàng hóa lớn.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI cũng đã tổng kết những thành
tựu đạt được cũng như những khó khăn, yếu kém cần được khắc phục trong

16




hội ổn định, an ninh - quốc phòng được giữ vững. Tuy nhiên, nền nông
nghiệp nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất kĩ
thuật kém, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh
tranh kém, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) của Đảng đã đề ra
những định hướng lớn trong đó có quan điểm: phải đảm bảo cho sự tăng
trưởng kinh tế gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước CNH, thoát khỏi tình trạng nông
nghiệp lạc hậu, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế
biến; phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Đảng
coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã
hội. Đồng thời xác định:
“Phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu tích
lũy từ nền kinh tế, tăng thêm vật chất làm cho người lao động ổn định
từng bước, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”
[10, tr.63].
Triển khai những định hướng đó, tháng 6 năm 1993 tại Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khóa VIII), Đảng ra Nghị quyết về “Tiếp
tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”. Hội nghị nhấn mạnh
quan điểm phải đặt sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
theo hướng sản xuất hàng tiêu dùng trong quá trình CNH, HĐH đất nước, coi
đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu. Đồng thời đề ra những
phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đó.
Đảng chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở thực
hiện chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc có
hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn tăng tỉ trọng những ngành này
trong cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Kế thừa những quan điểm


quan trọng để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển. Trong điều
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status