Đảng lãnh đạo xây dựng và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1975) - Pdf 12

Bộ Giáo dục v Đo tạo Học viện Chính trị - Hnh chính quốc gia
Hồ Chí Minh trịnh thị hồng hạnh Đảng lãnh đạo xây dựng v hoạt động
của vnh đai diệt mỹ ở chiến trờng miền nam
(1965-1973)

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 22 56 01 tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và Th viện Học
viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Những công trình của tác giả đ công bố
liên quan tới đề ti luận án
1. Hồng Hạnh (2002), Thế trận Vành đai diệt Mỹ - thế trận lòng
dân, Bộ T lệnh Quân khu 5 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Vành đai diệt Mỹ trên chiến trờng Khu 5, Một sáng tạo của
chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
tr. 545-555.
2. Trịnh Hồng Hạnh (2003), Đấu tranh chống chiến dịch Bình
định cấp tốc của Mỹ - ngụy ở miền Đông Nam Bộ 1968-1969,
Tạp chí Lịch sử Đảng, (9), tr.42-44, 52.
3. Trịnh Hồng Hạnh (2004), Vành đai diệt Mỹ - nhân tố góp phần
đánh bại chính sách bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở
Đông Nam Bộ, Bộ T lệnh Quân khu 7 - Tỉnh ủy Tây Ninh: Vành
đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến
tranh giải phóng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 635-641.
4. Trịnh Hồng Hạnh (2006), Quá trình hình thành Vành đai diệt Mỹ
trên chiến trờng Khu 5, Tạp chí Lịch sử Đảng, (10), tr. 49-53.
5. Trịnh Thị Hồng Hạnh (2007), Quá trình xây dựng Vành đai diệt
Mỹ Củ Chi, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4), tr. 18-21.
6. Trịnh Hồng Hạnh (2008), Tìm hiểu vai trò của vành đai diệt Mỹ
trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Bộ Quốc phòng,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Về cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Tết Mậu Thân 1968, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

Mỹ (VĐDM) nhanh chóng xuất hiện ở Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu
Long, bao vây những căn cứ xuất phát hành quân, căn cứ hậu cần - kỹ
thuật của quân Mỹ đợc thiết lập trên những địa bàn có tầm quan trọng
chiến lợc.
Ngay từ khi xuất hiện và trong suốt quá trình tồn tại (từ 1965 đến 1973),
VĐDM đã phát huy vai trò, tác dụng quan trọng của nó. Cuộc chiến đấu của
quân dân vành đai đã ghìm chặt một bộ phận quan trọng lực lợng quân Mỹ
ở miền Nam trong các căn cứ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực Quân
giải phóng mở các chiến dịch lớn ở những hớng chiến lợc.
Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, sự lãnh đạo của Đảng, sự chủ
động sáng tạo của các cấp bộ đảng trong quá trình xây dựng, phát triển và

2
phát huy vai trò, tác dụng của VĐDM sẽ góp phần tái hiện đầy đủ hơn cuộc
đấu tranh anh dũng của quân dân ta ở miền Nam, lý giải rõ hơn một trong
những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nớc. Từ đó, đúc rút một số kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn trong xây
dựng thế trận quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính vì thế, tôi
chọn vấn đề: Đảng lnh đạo xây dựng và hoạt động của vành đai diệt
Mỹ ở chiến trờng miền Nam (1965-1973) làm đề tài luận án tiến sĩ lịch
sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
VĐDM là một hình thức đánh giặc độc đáo, sáng tạo, là chủ đề thu
hút sự quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà sử học trong nớc và
nớc ngoài, đợc đề cập ở các sách, báo, hội thảo khoa học về cuộc
chiến tranh giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam. Có thể tìm hiểu
theo các cụm sau:
2.1. Các công trình lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc đã
đợc xuất bản: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975) của

2.3. Một số luận văn thạc sĩ lịch sử nghiên cứu về một VĐDM hoặc
VĐDM ở một vùng.
2.4. Một số bài công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành đã trình
bày khái quát hoặc đề cập tới một số khía cạnh thuộc về VĐDM, trên từng
mặt và ở từng địa bàn cụ thể.
2.5. Trong một số sách, báo của các tác giả nớc ngoài, đặc biệt là của
các tác giả Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đợc đề cập khá cụ thể từ nhiều
chiều cạnh. ở khối tài liệu này, ngời nghiên cứu nắm thêm đợc t liệu
mới, những nhận xét, đánh giá về quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam,
về chính sách, chiến lợc quân sự của Chính phủ Mỹ, nhất là về chiến lợc
đóng chốt, phát triển các căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam; những nỗ lực
cũng nh sự ứng phó lúng túng, bị động của quân Mỹ trên chiến trờng, ở
ngay cả xung quanh hệ thống căn cứ quân sự Mỹ.
Tóm lại, những t liệu trong và ngoài nớc thuộc về hoặc liên quan tới
chủ đề VĐDM đã đợc công bố là tơng đối đa dạng, phong phú. Nhiều
vấn đề liên quan đến quá trình hình thành, đấu tranh trên VĐDM đã đợc
đặt ra để phân tích, đánh giá. Song, các tài liệu đó chỉ đề cập đến VĐDM ở
một mức độ nhất định trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ từ
1965 đến 1973, chủ yếu trên góc độ nghiên cứu lịch sử quân sự, lịch sử
chiến tranh, lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Đến nay cha có một công trình
nào nghiên cứu một cách hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với
quá trình hình thành, xây dựng, đấu tranh của các lực lợng trên VĐDM,
làm nổi bật sự sáng suốt, tài tình của Trung ơng Đảng, sự sáng tạo của các
cấp bộ đảng địa phơng trong quá trình tìm cách đánh Mỹ, thắng Mỹ.

4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1. Mục đích
- Làm rõ thêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ơng Đảng; nêu bật sự
vận dụng sáng tạo và chủ động đờng lối chiến tranh nhân dân (CTND) của

quân Mỹ rút khỏi mỗi căn cứ cụ thể.

5
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên: Lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh; những quan điểm cơ bản của
Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh cách mạng, CTND; vai trò của
Đảng và quần chúng nhân dân trong lịch sử.
5.2. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu đợc sử dụng chủ yếu trong luận án bao gồm: các nghị
quyết, chỉ thị, điện văn, báo cáo của Trung ơng Đảng, TƯCMN, các Khu
uỷ, các cấp bộ đảng địa phơng, chủ yếu từ 1965-1973; các công trình
nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ; các bài nói, viết, hồi ký của
một số đồng chí lãnh đạo, lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử; tài
liệu của Chính quyền Việt Nam cộng hòa, Chính phủ Mỹ; sách, báo,
phim, ảnh t liệu nớc ngoài, chủ yếu là của các tác giả Mỹ, về cuộc chiến
tranh Việt Nam.
5.3. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch sử kết hợp phơng pháp
lôgíc, đồng thời kết hợp sử dụng các phơng pháp phân tích, thống kê, so
sánh, đối chiếu.
6. Đóng góp khoa học của luận án
- Xây dựng hệ thống t liệu tơng đối hoàn chỉnh về quá trình Trung
ơng Đảng, các cấp bộ đảng địa phơng lãnh đạo xây dựng và chỉ đạo hoạt
động của VĐDM.
- Nêu bật quá trình lãnh đạo chủ động, linh hoạt, sáng tạo của Trung
ơng và các cấp bộ đảng.
- Làm nổi bật các hình thức tổ chức, lực lợng, phơng thức hoạt
động và xây dựng thế trận, vai trò, tác dụng của VĐDM trên chiến

tranh cục bộ
Chủ động, quyết tâm đánh thắng Mỹ xâm lợc đợc thể hiện tại Hội
nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (Khóa III) tháng 3-1965,
tiếp đó là tại Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng tháng
12-1965. Hội nghị hạ quyết tâm đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân
chống Mỹ, cứu nớc, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lợc của đế
quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ chống
Mỹ, cứu nớc là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi ngời Việt Nam
yêu nớc, kêu gọi nhân dân cả nớc hãy đoàn kết nhất trí triệu ngời
nh một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc.

7
Trong khoảng thời gian đó, tại Khu 5, trớc tình hình Mỹ ồ ạt đổ quân,
tiến hành càn quét, bắn phá, lập vành đai trắng, xây dựng căn cứ quân sự,
Thờng vụ Khu uỷ, Quân khu uỷ và Bộ T lệnh Quân khu 5 kịp thời đề ra
nhiệm vụ về công tác t tởng và tổ chức, chủ động chuẩn bị đón đánh quân
Mỹ. VĐDM nhanh chóng hình thành ở những địa phơng có căn cứ quân
Mỹ, trớc hết là Đà Nẵng, Chu Lai. Chủ trơng xây dựng VĐDM chứng tỏ
sự nhạy bén, sáng tạo trớc tình hình cách mạng cấp bách của Đảng bộ Khu
5, thể hiện tinh thần táo bạo trong chỉ đạo CTND ở địa bàn đầu tiên phải
trực diện đối mặt với quân Mỹ.
VĐDM là hệ thống những làng xã chiến đấu áp sát, bao quanh các căn
cứ quân sự Mỹ, đợc tổ chức thành thế trận vây hãm và tiến công địch ngay
tại căn cứ trên chiến trờng miền Nam.
Theo dõi sát diễn biến tình hình chiến trờng, Bộ Chính trị, Quân ủy
Trung ơng, Bộ Tổng t lệnh đã có những chỉ thị quan trọng cho TƯCMN,
cho lãnh đạo, chỉ huy các chiến trờng, các địa phơng miền Nam. Trong
th gửi TƯCMN tháng 11-1965, đồng chí Lê Duẩn - Bí th thứ nhất Ban
Chấp hành Trung ơng Đảng, đã chỉ đạo cụ thể nhiều vấn đề về CTND,
trong đó có công tác mở rộng, phát triển vành đai diệt Mỹ.

đạo của Thờng vụ Tỉnh uỷ, sự điều hành của Ban chỉ huy quân sự tỉnh.
Nhiệm vụ chủ yếu của Ban chỉ huy vành đai là tổ chức xây dựng vành đai,
điều hành hoạt động đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị (ĐTCT) và binh
vận của toàn bộ lực lợng vũ trang (LLVT), lực lợng chính trị (LLCT).
Thế trận vành đai thờng đợc phân chia thành tuyến hoặc khu vực.
Quân và dân vành đai thực hiện nhiều cách đánh giặc linh hoạt, sáng tạo,
điển hình là bám thắt lng địch mà đánh, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân
sự và ĐTCT, binh vận.
Những điều kiện dẫn tới sự ra đời và phát huy vai trò của Vành đai
diệt Mỹ:
Điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng
suốt, kịp thời của Đảng trong chiến tranh cách mạng miền Nam, trực tiếp là
sự chủ động, sáng tạo của tổ chức Đảng các cấp trên chiến trờng.
Điều kiện thứ hai là sự phát triển của phong trào cách mạng ở địa phơng.
Điều kiện thứ ba là xây dựng thế trận vành đai liên hoàn, vững chắc,
bảo đảm cho các lực lợng trụ bám đánh địch. VĐDM không phải là một
tập hợp đơn giản những làng xã chiến đấu, thôn ấp chiến đấu có sẵn, mà
đợc tổ chức lại để trở thành một hệ thống gắn bó, liên hoàn và tăng khả
năng chiến đấu trên tất cả các phơng diện liên quan. Điều có ý nghĩa quyết
định đảm bảo sức mạnh và tính bền vững của các VĐDM là hình thành và
củng cố ban chỉ huy chung. VĐDM còn có cả một mặt trận CTND rộng
lớn, bao gồm các thôn, xã ở trong khu vực căn cứ và các vùng xung quanh.

9
Điều kiện thứ t là tổ chức xây dựng các lực lợng chiến đấu, công tác
trên vành đai. Trớc hết, đó là xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ huy bao gồm
Ban chỉ huy vành đai (BCHVĐ), các chi bộ, tổ đảng và đảng viên, các chi
đoàn và đoàn viên, lực lợng nòng cốt trong các tổ chức quần chúng (Thanh
niên, Nông hội, Phụ nữ). Thứ hai là xây dựng LLCT quần chúng. Thứ ba
là xây dựng LLVT của phong trào CTND.

căn cứ, kho tàng. Gọng kìm bình định đợc nâng ngang tầm với gọng kìm
tìm diệt.
Trớc tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt, ngày 17 tháng 7 năm
1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nớc vợt mọi gian
khổ, hy sinh, đánh thắng Mỹ xâm lợc. Lời kêu gọi thiêng liêng Không
có gì quý hơn độc lập, tự do là ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt
Nam, là chân lý của thời đại, động viên mạnh mẽ lòng yêu nớc, dũng
khí cách mạng của nhân dân ta.
Tháng 10-1966, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
họp, đề ra nhiệm vụ cụ thể trớc mắt cho quân dân miền Nam. Nhiệm vụ
lập vành đai diệt Mỹ, phát triển chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị
đợc Bộ Chính trị đề ra cho vùng tranh chấp và vùng nông thôn do địch
kiểm soát. Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ ba (26-9 đến
6-10-1966) tổng kết 12 kinh nghiệm và khả năng to lớn của phong trào
chiến tranh du kích ở miền Nam, trong đó đề cập đến Vành đai diệt Mỹ.
Trung ơng Cục miền Nam ra chỉ thị: Phát huy mạnh mẽ thế chủ động tấn
công quyết đánh bại âm mu bình định nông thôn năm 1967 của Mỹ -
ngụy (1-1-1967).
ở Đông Nam Bộ, quân dân vành đai góp phần cùng quân dân các địa
phơng đánh bại 3 cuộc hành quân cấp quân đoàn là áttơnborơ, Xêđaphôn
và Gianxơn City, nỗ lực đấu tranh chống tìm diệt và bình định.
VĐDM ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển với những nét đặc thù.
Phong trào toàn dân đánh giặc phát triển mạnh mẽ, sáng tạo nhiều cách
đánh Mỹ, nhiều Dũng sĩ diệt Mỹ xuất hiện.
ở Trung Trung Bộ, đấu tranh quân sự phát triển các hình thức: bắn bia,
bắn tỉa, đánh phá giao thông, cơ giới, đặc công , LLVT sử dụng các loại vũ
khí Mỹ, cải tiến diệt xe tăng, máy bay Mỹ.
Phong trào ĐTCT buộc địch phải đối phó ngay tại hậu phơng, góp phần
quan trọng vào chống phá kế hoạch bình định. Công tác binh vận cũng có
bớc phát triển, cùng với hình thức phát tán truyền đơn, viết khẩu hiệu bằng

quyền Mỹ rất nỗ lực, huy động sức mạnh tối đa của nền công nghiệp quân
sự hiện đại vào hai cuộc phản công chiến lợc ở miền Nam, đánh phá,
phong toả miền Bắc, song đã bị thất bại nặng nề cả về quân sự, chính trị và
ngoại giao. Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lợc
lần thứ ba (dự định từ tháng 12-1967 đến tháng 4-1968).
Đầu tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp, ra Nghị quyết về tổng công kích,
tổng khởi nghĩa, quyết tâm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân
dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành

12
thắng lợi quyết định. Trong tháng 1-1968, Trung ơng Cục và Quân uỷ
Miền gấp rút hoàn thành kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa.
Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ơng, dới sự lãnh đạo của Khu ủy, tỉnh
ủy, cùng với toàn chiến trờng, công tác chuẩn bị trên mặt trận VĐDM
đợc xúc tiến khẩn trơng.
Trong dịp Tết Mậu Thân, trong khi LLVT ta tiến công mạnh vào hàng
loạt mục tiêu trong khu vực nội thành, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định, Đà
Nẵng, Huế, thì ở vùng ven và vùng đồng bằng, rừng núi, nhất là ở khu vực
VĐDM, quân và dân các địa phơng đã dốc sức phục vụ, tham gia cuộc
Tổng tiến công.
Thắng lợi to lớn và toàn diện của quân dân ta trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lợc
Chiến tranh cục bộ, buộc đế quốc Mỹ phải bắt đầu quá trình xuống
thang chiến tranh, chủ trơng phi Mỹ hoá chiến tranh rồi chuyển sang
chiến lợc Việt Nam hóa chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nớc.
Sau những thất bại trong Tết Mậu Thân, quân Mỹ và quân Sài Gòn mở
các chiến dịch phản kích quy mô lớn hòng đẩy lùi chủ lực Quân giải phóng
ra khỏi vùng ven, các căn cứ quân sự và hậu cần, các đầu mối giao thông
huyết mạch; tăng cờng đàn áp, khủng bố quyết liệt các cơ sở cách mạng,
ráo riết tiến hành bình định cấp tốc tranh chấp vùng nông thôn đồng bằng

Vùng nông thôn, đặc biệt là các khu vực trọng điểm xung quanh Sài
Gòn, vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Khu 5 trở thành địa bàn
tranh chấp quyết liệt. Phong trào CTND địa phơng sa sút, gặp vô vàn khó
khăn. Bộ đội chủ lực mất nhiều căn cứ đứng chân. Cơ sở cách mạng bị tổn
thất. Trong khi đó, về t tởng, một số cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo khu,
tỉnh chủ quan cho rằng quân Mỹ đã rút, quân ngụy không thể đơng đầu nổi
với ta, dẫn đến coi thờng các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch.
2.1.2. Đảng lnh đạo toàn dân khắc phục khó khăn, khôi phục thế
trận và lực lợng
Tháng 11-1968, trong Chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị
Trung ơng Đảng vạch rõ khuyết điểm là cha đánh giá hết âm mu thâm
độc và hành động phản kích điên cuồng của địch vào nông thôn, vì vậy
không kịp thời chuyển hớng chiến lợc khi tình hình đã thay đổi.
Thực hiện chủ trơng của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8
Trung ơng Cục miền Nam (10-1968) về phát huy thắng lợi của cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Xuân 1968, ngày 31-1-1969, TƯCMN ra Chỉ thị:
Nắm vững thời cơ, kiên quyết xốc tới, giành thắng lợi to lớn Xuân 1969,
khẩn trơng giành thắng lợi quyết định trong thời gian tới.

14
Ngày 10-5-1969, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng họp, ra Nghị quyết Về
tình hình và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó nêu
rõ một trong các nhiệm vụ là đánh vào hệ thống căn cứ quân sự của Mỹ,
những vị trí cuối cùng của chiến lợc phòng ngự của chúng, có tác dụng rất
quan trọng trợ lực cho tiến công quân sự và khởi nghĩa ở thành thị và nông
thôn, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đập tan âm mu của địch duy trì
lâu dài một số căn cứ quân sự ở miền Nam.
Nghị quyết này là cơ sở cho việc tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh tiến tới giải
phóng hoàn toàn miền Nam. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Hội
nghị lần thứ 9 Trung ơng Cục miền Nam (7-1969) đề ra phơng hớng,

Quảng Đà (8-1969, 11-1969, 5-1970) đề ra nhiệm vụ động viên toàn Đảng
bộ, toàn quân, toàn dân nỗ lực cao nhất, đánh bại âm mu bình định nông
thôn của địch.
Cuộc đấu tranh chống bình định, lấn đất, giành dân và giữ dân, giữ
quyền làm chủ diễn ra vô cùng quyết liệt, giằng co, dai dẳng. Cuộc chiến
đấu diễn ra thầm lặng, ác liệt, kéo dài. Từ giữa năm 1970 trở đi, CTND trên
vành đai dần dần hồi phục. Tuy nhiên, phong trào bộc lộ một số hạn chế
nh đấu tranh chống địch bình định cha hiệu quả, có nơi đấu tranh làm
lỏng thế kìm kẹp nhng lại cha cơng quyết lãnh đạo quần chúng nổi dậy
phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ.
Nhìn chung, trớc sự phản kích của địch, các địa phơng không còn đủ
các điều kiện để duy trì hoạt động và áp lực vành đai mạnh nh trớc (thiếu
lực lợng, thiếu địa hình, thiếu tổ chức và chậm chuyển hớng về nông
thôn). Từ năm 1969, quân Mỹ bắt đầu rút, một số VĐDM (Bình Đức,
Rạch Kiến, Củ Chi) chấm dứt vai trò đánh Mỹ. Trong khi đó, tại những nơi
khác, dới sự lãnh đạo của các khu uỷ, tỉnh uỷ, từ cuối năm 1970, quân và
dân trên các VĐDM vợt qua khó khăn gian khổ, từng bớc phục hồi lực
lợng, khôi phục thế trận CTND, tiếp tục bao vây, tấn công các căn cứ cho
đến khi quân Mỹ buộc phải rút hết khỏi chiến trờng miền Nam.
Tháng 5-1971, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng họp, đề ra nhiệm vụ giành
thắng lợi quyết định trong năm 1972. Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị
lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ơng Đảng (họp từ ngày 27-1 đến ngày 11-
2-1972) nêu rõ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nớc là nhiệm vụ hàng đầu của
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, mục tiêu buộc Mỹ rút khỏi miền Nam
toàn bộ lực lợng quân sự, không còn căn cứ quân sự, không còn nhân viên
quân sự hoặc cố vấn.
Ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lợc năm 1972 chính thức mở
màn trên hớng Trị - Thiên, sau đó các hớng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,
Tây Nam Bộ cũng nổ súng tấn công địch. Quán triệt sự chỉ đạo của Trung
ơng Đảng, cuộc đấu tranh trên các VĐDM nhằm tiêu hao sinh lực địch,

các LLVT sáng tạo những cách thức đánh địch thích hợp: khi chúng cố thủ
trong căn cứ, ngoài căn cứ, khi chúng tấn công vùng giải phóng, ở mọi nơi,
mọi lúc. Các cách đánh phát triển trên VĐDM là đánh xe cơ giới Mỹ trên
đờng giao thông, gài lựu đạn ở những nơi quân Mỹ đi qua, bắn tỉa, đánh
bằng bẫy chông, mìn, bằng pháo cối luồn sâu

17
Đi đôi với đánh Mỹ, quân và dân trên các vành đai tích diệt trừ tề điệp
ác ôn, làm trong sạch địa bàn, chống phá âm mu bình định của địch. Điểm
nổi bật trên các vành đai diệt Mỹ là chiến tranh nhân dân phát triển sâu
rộng. Từ cụ già đến các em thiếu nhi, từ thanh niên đến phụ nữ, ai ai cũng
tham gia đánh Mỹ, bằng mọi vũ khí, mọi hình thức
Đấu tranh chính trị
Trong thời gian VĐDM mới hình thành, tổ chức ĐTCT là vấn đề khó
đối với các cấp lãnh đạo. Qua thực tế, ĐTCT với Mỹ dần dần trở thành một
yêu cầu bức thiết của quần chúng trong các vùng có Mỹ đóng quân.
Các tổ chức Đảng trong khi lãnh đạo quần chúng ĐTCT phải có biện
pháp để giữ đợc thế hợp pháp cho quần chúng. Tiếp đó, các cấp uỷ đảng,
BCHVĐ lãnh đạo ĐTCT để bảo vệ tính mạng, tài sản, duy trì cuộc sống
bình thờng của nhân dân.
Công tác binh vận
Việc tiến hành công tác binh vận với binh lính Mỹ và Nam Triều Tiên,
thời gian đầu, có những khó khăn nhất định. Qua thực tiễn đấu tranh, quân
và dân trên các vành đai rút ra kinh nghiệm: làm tốt việc tranh thủ ngời
thông ngôn; trực tiếp nói chuyện với binh lính Mỹ bằng cách làm dấu, ra
hiệu, biểu thị thái độ phản đối; rải truyền đơn; gọi loa vào đồn Mỹ
Sản xuất bảo đảm nguồn hậu cần tại chỗ
Các cấp lãnh đạo trên vành đai chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu
với sản xuất và bảo vệ sản xuất. Chiến đấu để tiêu diệt địch, phá tan âm
mu, quân sự, chính trị, kinh tế của địch, đồng thời phải bảo vệ và phát triển

diệt địch và tiêu diệt địch để giữ vững quyền làm chủ.
Bốn là, góp phần phá âm mu bình định của địch, giữ vững vùng giải
phóng, tạo điều kiện cho lực lợng vũ trang đánh sâu vào căn cứ quân sự Mỹ.
Cuộc chiến đấu của quân và dân vành đai đã góp phần cùng các địa
phơng trên toàn miền Nam làm thất bại nỗ lực bình định của địch. Vùng
giải phóng, vùng làm chủ xung quanh các VĐDM đợc giữ vững và mở
rộng tạo điều kiện cho LLVT tổ chức các trận đánh vào căn cứ quân sự Mỹ.
Địa bàn vành đai là nơi tập kết lực lợng và vũ khí, phơng tiện chiến
đấu; là bàn đạp xuất phát tiến công, góp phần quan trọng vào cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đánh bại chiến lợc Chiến tranh
cục bộ- đỉnh cao nhất trong toàn bộ nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
3.2. Những kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo tổ chức xây dựng,
đấu tranh trên vành đai diệt Mỹ
3.2.1. Quán triệt đờng lối chiến tranh nhân dân, t tởng chiến lợc
tiến công, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh địa phơng
Nắm vững t tởng chiến lợc tiến công của Đảng, Khu uỷ 5, Khu uỷ
Đông Nam Bộ, Khu uỷ 8, 9 chủ trơng kiên quyết dựa vào thế trận, lực

19
lợng sẵn có, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động tiến công địch.
Tại những địa bàn quân Mỹ đóng, các cấp uỷ lãnh đạo xúc tiến ngay việc
lập VĐDM để phá kế hoạch lập vành đai trắng bảo vệ căn cứ, phá thế ổn
định của chúng. Cuộc đấu tranh trên các VĐDM cho thấy, chỉ có chủ động
tiến công, tiến công liên tục và tiến công toàn diện mới bảo vệ đợc cơ sở,
bảo vệ đợc lực lợng và thế trận, bảo vệ đợc nhân dân, tiêu diệt đợc địch.
3.2.2. Đặt công tác chính trị, t tởng lên hàng đầu, nâng cao ý chí
kiên cờng một tấc không đi, một ly không dời, thực hiện ba bám,
bốn bám
Công tác t tởng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ
hoạt động của Đảng trong chiến tranh cách mạng. Trên mặt trận vành đai -

lợng du kích, hỗ trợ phong trào ĐTCT và binh vận, bảo vệ và mở rộng
vùng giải phóng. Các cấp lãnh đạo trên VĐDM quán triệt sâu sắc phơng
châm đấu tranh quân sự, ĐTCT đi đôi, thực hiện ba mũi giáp công của
Đảng. Tuỳ thực tế từng lúc, từng nơi và yêu cầu đấu tranh mà vận dụng linh
hoạt các phơng thức đấu tranh cho phù hợp.
3.2.5. Tăng cờng công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò của tổ
chức đảng
Tăng cờng công tác xây dựng đảng bộ địa phơng, đặc biệt là chi bộ cơ
sở vững mạnh, thực sự là hạt nhân lãnh đạo phong trào CTND ở địa phơng,
là vấn đề cốt tử, quyết định quá trình tồn tại cũng nh phát huy đầy đủ vai
trò, tác dụng của các VĐDM trên chiến trờng miền Nam.
Để có đợc phong trào quần chúng đấu tranh kiên cờng, bền bỉ với
địch thì trớc tiên phải xây dựng đợc chi bộ đảng kiên cờng, đội ngũ
cán bộ, đảng viên phải trụ bám địa bàn, dựa vào dân, gắn bó với nhân
dân, nêu cao tính tiền phong gơng mẫu trong mọi mặt xây dựng cũng
nh chiến đấu.
Trong thời kỳ hiện nay, Đảng phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó nhiệm vụ quan trọng là phải nâng cao
chất lợng các tổ chức cơ sở đảng, đảm bảo cho đảng bộ thực sự là hạt nhân
chính trị, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo thực hiện
thắng lợi các chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nớc, các nhiệm vụ chính trị của địa phơng. 21
kết luận

Năm 1965, khi quyết định đa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền
Nam và tiến hành đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân, giới
cầm quyền Mỹ tin tởng rằng, bằng sức mạnh kinh tế và quân sự, với đội

huyết mạch, đảm bảo cho một đội quân tác chiến chủ yếu dựa vào vũ khí,
kỹ thuật hiện đại. Thế nhng, cùng với quá trình hình thành hệ thống căn cứ
quân sự Mỹ là sự xuất hiện hệ thống VĐDM. Tổ chức thế trận kiểu vành đai
bao vây căn cứ quân sự Mỹ ở chiến trờng miền Nam từ 1965 đợc hình
thành trớc tiên ở những địa phơng thuộc Khu 5 là Đà Nẵng, Chu Lai, An
Khê, đến Trảng Lớn, Củ Chi ở Đông Nam Bộ, và Rạch Kiến, Bình Đức ở
đồng bằng sông Cửu Long Do qui mô, tính chất, đặc điểm địa hình, đối
tợng tác chiến cũng nh khả năng về lãnh đạo, lực lợng mà mỗi địa
phơng tổ chức thế trận với những nét đặc thù, thể hiện tính đa dạng của
VĐDM. Có vành đai nhỏ do làng xã xây dựng, nhng lại có vành đai liên
xã, liên huyện trong một tỉnh hoặc nhiều tỉnh; có vành đai ở đồng bằng ven
biển, vành đai ở vùng rừng núi, hay vành đai vùng sông nớc
Làng xã chiến đấu xung quanh căn cứ quân Mỹ đợc tổ chức lại, đặt
dới sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, huyện ủy, sự điều hành của BCH quân sự
tỉnh. Nhiệm vụ của BCH là tổ chức, điều hành hoạt động quân sự, chính trị,
binh vận của toàn bộ LLVT, LLCT trên vành đai. Thế trận vành đai đợc
hình thành bởi các tuyến, các khu vực tùy theo điều kiện địa hình của mỗi
địa phơng. Thông thờng, mỗi vành đai có tuyến 1 là tuyến trực tiếp tiếp
xúc với căn cứ quân sự Mỹ. Tiếp đến là tuyến trung gian. Sau cùng, mỗi
vành đai đều có tuyến 2. Đây là tuyến tiếp giáp, chuyển tiếp với vùng giải
phóng, vùng làm chủ, vùng hành lang, vùng căn cứ địa của cách mạng miền
Nam. ở mỗi tuyến, hạ tầng là hệ thống công sự, trận địa, hầm bí mật, hào
giao thông đảm bảo việc trụ bám địa bàn để sản xuất và chiến đấu của quân
và dân vành đai cũng nh các tổ đội du kích, các đơn vị bộ đội địa phơng,
bộ đội chủ lực đến tác chiến. Trong điều kiện bị đánh phá dữ dội, triền
miên, để trụ vững, LLVT vành đai phải dựa chắc vào sự ủng hộ, giúp đỡ,
chở che, đùm bọc, tham gia một cách chủ động, tích cực, hiệu quả của
nhân dân các làng xã trên vành đai. Nh vậy, thế trận vành đai là bớc
phát triển mới, đồng thời là biểu hiện sinh động ở trình độ cao của thế
trận CTND miền Nam trong điều kiện mới; là thế trận của lòng dân, của

tiến công.
Suốt quá trình tồn tại và phát triển, VĐDM đã phát huy vai trò quan
trọng góp phần cùng quân và dân ta trên khắp chiến trờng đánh thắng các
nỗ lực chiến tranh của đế quốc Mỹ. Gắn bó chặt chẽ với quá trình này và là
nhân tố có ý nghĩa quyết định hàng đầu là sự chủ động, sáng tạo trong lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của đảng bộ các cấp, của đội ngũ cán bộ
đảng viên trực tiếp trụ bám trên mặt trận vành đai, tinh thần đấu tranh bền
bỉ, kiên cờng của quần chúng nhân dân. Để tạo ra và củng cố thế trận
CTND xung quanh căn cứ quân sự Mỹ cũng nh để phát huy mạnh mẽ vị

24
trí, vai trò của nó trong toàn bộ cuộc chiến tranh, các tổ chức đảng, đoàn thể,
LLVT ba thứ quân và quần chúng nhân dân suốt những năm tháng ấy đã
khắc phục muôn vàn gian khổ, hy sinh; giữ vững niềm tin và quyết tâm;
quán triệt và vận dụng linh hoạt, chủ động, sáng tạo đờng lối, chủ trơng
của Đảng, tìm tòi những hình thức tổ chức, những biện pháp đấu tranh; kiên
trì trụ bám địa bàn, đẩy mạnh tiến công địch về quân sự, chính trị, binh vận,
giữ vững và mở rộng quyền làm chủ. Bằng sự hy sinh thầm lặng nhng rất
đỗi lớn lao, bằng cuộc đấu tranh bền bỉ và kiên cờng, suốt những năm trực
tiếp đơng đầu với quân xâm lợc Mỹ, đội ngũ cán bộ đảng viên và LLVT
cùng nhân dân trên các vành đai đã lập nên bao chiến công, góp phần xứng
đáng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc.
Những kinh nghiệm tích lũy đợc từ quá trình đấu tranh trên mặt trận
vành đai không những góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của
Đảng về chiến tranh cách mạng, về nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại
mà hơn thế, còn mang giá trị có ý nghĩa cập nhật trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Thực tiễn xây dựng VĐDM đã để lại nhiều
kinh nghiệm, bài học có giá trị đối với xây dựng, củng cố nền quốc phòng
toàn dân vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
nh, quán triệt sâu sắc chủ trơng của Trung ơng Đảng, bám sát thực tiễn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status