Công đoàn trong việc nâng cao ý thức chính trị của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay - Pdf 33

1

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của
GCCN, của ngời lao động. Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc tập
hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng GCCN. Vai trò này của Công
đoàn Việt Nam đã đợc Hiến pháp Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Luật Công đoàn khẳng định.
Từ khi ra đời, qua các chặng đờng lịch sử gian khổ và vinh quang
của đất nớc, Công đoàn Việt Nam đã trởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ
vai trò của mình, đặc biệt trong việc tuyên truyền giáo dục, giác ngộ ý thức
chính trị cho GCCN, để GCCN thấy rõ và từng bớc hoàn thành SMLS của
mình. Công đoàn Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cách
mạng nớc ta, đã xứng đáng với niềm tin của Đảng, là chỗ dựa vững chắc
của Nhà nớc và là trờng học CNCS của GCCN.
Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi lớn lao và đầy phức tạp.
Cách mạng khoa học và công nghệ có bớc tiến nhảy vọt thúc đẩy mọi mặt
đời sống xã hội. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình
phát triển lực lợng sản xuất. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, lôi cuốn
ngày càng nhiều nớc tham gia... Trong khi đó thì CNXH ở Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, CNTB hiện đại lại đang nắm u thế về nhiều mặt... Thế giới đang
chứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có
hợp tác vừa có đấu tranh. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục
diễn ra gay gắt. Những vấn đề toàn cầu đang đặt ra trách nhiệm nặng nề cho
nhân loại: bảo vệ môi trờng, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi dịch bệnh
hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế...
Đất nớc sau nhiều năm đổi mới đã có những thành tựu to lớn và rất
quan trọng làm cho thế và lực của chúng ta lớn mạnh lên nhiều. Thế nhng,





3

ớng XHCN, xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò của Công
đoàn để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nớc, nhiều nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã tập trung nghiên cứu về
GCCN và Công đoàn. Có thể liệt kê một số tác giả, tác phẩm mới đợc công bố
những năm gần đây nh: "Giai cấp công nhân Việt Nam mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn " của Bùi Đình Bôn, Nxb Lao động, 4-1996; "Một số vấn đề về
giai cấp công nhân và lao động Việt Nam" của Văn Tạo, Nxb Chính trị
quốc gia, 4-1997; "Đảng Cộng sản Việt Nam với giai cấp công nhân và Công
đoàn Việt Nam", Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Ban T tởng - văn
hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000; "Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc", Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam - Viện Công nhân và Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội,
1999...
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu về GCCN và lao động trên
các tạp chí, các báo nh: "Giai cấp công nhân phát huy truyền thống vẻ vang
đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc" của Lê Khả
Phiêu, Báo Nhân Dân, 1998, ngày 6 tháng 11; "Xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử" của Nguyễn Viết Vợng,
Báo Nhân Dân, 1998, ngày 1 tháng 11; "Vấn đề xây dựng giai cấp công
nhân vững mạnh trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta" của
Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Khoa học Chính trị, 1998, số 1; "Giai cấp công
nhân Việt Nam tự nhận thức về giai cấp mình trong thời đại mới" của Văn
Tạo, Tạp chí Lao động và Công đoàn, tháng 1 năm 2000; "Công đoàn Việt
Nam với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng" của Cù Thị Hậu, Tạp
chí Cộng sản, tháng 4 năm 2000; "Mấy suy nghĩ về công tác đào tạo, quy
hoạch cán bộ Công đoàn hiện nay" của Lê Phan Ngọc Rỉ, Tạp chí Lao

nhiệm vụ sau đây:
Một là: Làm rõ khái niệm "ý thức chính trị", những biểu hiện của ý
thức chính trị của GCCN Việt Nam và sự cần thiết phải nâng cao ý thức
chính trị của GCCN trong giai đoạn hiện nay.


5

Hai là: Phân tích vai trò quan trọng của Công đoàn trong việc nâng
cao ý thức chính trị của GCCN Việt Nam. Qua đó, đánh giá đúng những
thành tựu và hạn chế của việc thực hiện vai trò này trong thời gian vừa qua.
Ba là: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Công
đoàn trong việc nâng cao ý thức chính trị của GCCN nớc ta để GCCN thực
sự trở thành giai cấp tiên tiến của xã hội, là giai cấp đi đầu trong sự nghiệp
CNH, HĐN của đất nớc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn bàn đến vai trò của Công đoàn Việt Nam, nhng chủ yếu ở
các hoạt động tác động đến ý thức chính trị của GCCN. Cũng nh vậy, luận
văn đề cập đến GCCN Việt Nam, nhng tập trung chính vào các biểu hiện
của ý thức chính trị của giai cấp này.
Bối cảnh thực tiễn của các vấn đề đợc nêu ở luận văn chỉ chủ yếu
giới hạn trong giai đoạn đổi mới đất nớc hiện nay.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, phơng pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phơng pháp phân tích và
tổng hợp, phơng pháp so sánh và điều tra xã hội học trong việc nghiên cứu
để thực hiện đợc nhiệm vụ và đạt đợc mục đích mà luận văn đề ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Quan niệm về ý thức chính trị của GCCN thông qua việc chỉ ra

quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn học, nghệ
thuật... sớm muộn cũng biến đổi theo. Tuy nhiên, ý thức xã hội cũng có tính
độc lập tơng đối, nó có những t tởng tiến bộ, vợt trớc so với tồn tại xã hội và
nó có tác động trở lại đối với tồn tại xã hội.
ý thức xã hội đợc thể hiện dới nhiều hình thái cụ thể nh chính trị,
pháp quyền, đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo,khoa học... Mỗi hình
thái ý thức xã hội phản ánh một đối tợng nhất định, một phạm vi nhất định
của tồn tại xã hội nhng giữa chúng có mối liên hệ với nhau. ở mỗi thời đại,
tùy theo những hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể mà thờng có những hình thái
ý thức nào đó nổi lên hàng đầu, ở chúng biểu hiện tập trung ý thức của thời
đại đó và tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác. Tuy nhiên, trong
tính tổng thể của ý thức xã hội, thì ý thức chính trị có tầm quan trọng. Nó
quyết định đến xu hớng và bản chất của các hình thái ý thức xã hội khác.
Vậy, ý thức chính trị là gì?


8

Để hiểu ý thức chính trị, cần bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm
chính trị và ý thức. Chính trị theo nguyên nghĩa của nó, là những công việc
nhà nớc hay công việc xã hội liên quan với Nhà nớc, là phạm vi hoạt động
gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt
nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nớc.
Theo Lênin, cái quan trọng nhất trong chính trị là "Tổ chức chính
quyền nhà nớc", chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng
xã hội về vấn đề nhà nớc; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc
nhà nớc; là tổng hợp những phơng hớng, những mục tiêu đợc quy định bởi
lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các
giai cấp, các đảng phái, các Nhà nớc để thực hiện đờng lối đã đợc lựa chọn
nhằm đạt đợc những mục tiêu đã đặt ra.

Nhà nớc bao giờ cũng là Nhà nớc của một giai cấp nhất định, bị chi
phối trực tiếp của một đảng phái nào đó. Bên cạnh những đảng phái cầm
quyền là nhiều đảng phái khác nữa (cả đảng đối lập và đảng không đối lập)
đại biểu cho hệ t tởng, cho lợi ích của các giai cấp trong xã hội. Mọi quan hệ
giữa các đảng phái ấy là chính trị. Vì thế ý thức chính trị đồng thời với việc
nhìn nhận Nhà nớc, là thái độ đối với hoạt động của các đảng phái.
Trung tâm của đời sống chính trị là quyền lực chính trị. Quyền lực
chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh giai cấp, tập đoàn
xã hội, nó nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình:
"Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một
giai cấp để trấn áp một giai cấp khác" [29, tr. 628]. Quyền lực chính trị nói
lên thực chất hoạt động chính trị của mọi giai cấp, mọi đảng phái trong xã
hội có giai cấp. Giai cấp nào, nhóm xã hội nào cũng muốn nắm, muốn chi
phối quyền lực chính trị. Vì nắm đợc quyền lực chính trị là nắm đợc công
cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác,
nhóm xã hội khác theo hớng có lợi cho giai cấp mình, nhóm mình. Do đó, ý
thức chính trị còn thể hiện ở sự nhận thức đợc nhu cầu, lợi ích chính trị, hay
nói cách khác, là sự nhận thức về quyền lực chính trị. Đối với mỗi công dân


10

nói chung thì nhu cầu và lợi ích chính trị thể hiện ở sự nhận thức đợc quyền
và nghĩa vụ công dân.
Chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn
giữa các giai cấp trở nên gay gắt không thể điều hòa đợc. Trong xã hội có
giai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kết cấu giai cấp nhất
định, trong đó có những giai cấp cơ bản, những giai cấp không cơ bản và
những tầng lớp xã hội. Vì vậy, ý thức chính trị còn thể hiện ở quan điểm
giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích chính trị mà các giai cấp, tầng lớp

giá trị, mà ngợc lại, nó có nội dung rất phong phú, bao hàm đợc nhiều mặt
của đời sống chính trị, và ở một mức độ nào đó nó đã phản ánh đợc bản
chất của các vấn đề chính trị. So với cấp độ t tởng - lý luận thì ý thức chính
trị ở cấp độ thực tiễn - đời thờng có điểm mạnh ở chỗ nó gần hơn với hiện
thực trực tiếp của đời sống chính trị, do đó nó có thể phản ánh đầy đủ, toàn
vẹn hơn những chi tiết của đời sống chính trị. Vì vậy, ý thức chính trị thực
tiễn - đời thờng là kho tàng để ý thức chính trị có tính lý luận tìm kiếm và
khái quát thành nội dung của mình.
ở cấp độ thứ hai - cấp độ t tởng - lý luận, ý thức chính trị đợc biểu
hiện là những t tởng, quan điểm chính trị đã đợc hệ thống hóa thành một
chỉnh thể mang tính hợp lý, tính khoa học, phản ánh đợc mối liên hệ bản
chất, tất yếu, phổ biến của các hiện tợng trong đời sống chính trị, đợc diễn
tả dới dạng các khái niệm khoa học và đỉnh cao là các học thuyết chính trị hệ t tởng chính trị. Hệ t tởng - chính trị là hệ thống những quan điểm t tởng
thể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định, đợc cụ thể hóa trong cơng lĩnh chính trị, trong đờng lối chiến lợc và sách lợc của chính đảng và
luật pháp, chính sách của Nhà nớc. Hệ t tởng chính trị không tách rời tổ
chức và cơ quan chính trị, thông qua các tổ chức và cơ quan đó mà một giai
cấp nhất định tiến hành cuộc đấu tranh cho lợi ích giai cấp.
Hệ t tởng chính trị của giai cấp nắm chính quyền có vai trò rất to lớn
trong đời sống xã hội. Nó tác động trở lại cơ sở kinh tế thông qua các tổ
chức nhà nớc, biểu hiện ở chỗ nó thông qua quyền lực nhà nớc để bảo vệ và
phát triển nền tảng kinh tế mà giai cấp cầm quyền là ngời đại diện cho quan


12

hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị trong xã hội đó. Hệ t tởng chính trị còn
giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội nói chung. Thông
qua tổ chức nhà nớc sẽ xác lập vị trí chi phối của hệ t tởng - chính trị của
giai cấp cầm quyền trong văn hóa, nếp sống và mọi lĩnh vực tinh thần của
đời sống xã hội. Bằng cách đó giai cấp cầm quyền hy vọng hình thành đợc

lợi ích chính trị của cả cộng đồng xã hội hoặc của một nhóm xã hội, một
giai cấp, một tầng lớp nào đó trong cộng đồng. Đó là chuẩn mực giá trị
chung về nhu cầu, lợi ích chính trị đợc cả cộng đồng chấp nhận.
ý thức chính trị cá nhân là sự đánh giá, thái độ, sự hiểu biết của
từng cá nhân về những vấn đề hiện thực của đời sống chính trị. Vì vậy, ý
thức chính trị cá nhân rất đa dạng, phong phú và mang đậm màu sắc chủ
quan. Một vấn đề hiện thực của đời sống chính trị có thể đợc nhìn nhận dới
những lăng kính khác nhau. Cho nên, trong thực tiễn giáo dục ý thức chính
trị cho mỗi cá nhân cần khuyến khích tính tích cực sáng tạo đồng thời phải
có sự định hớng để tránh những nhận thức không đúng dẫn đến những hậu
quả tiêu cực.
ý thức chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân có quan hệ
chặt chẽ với nhau. ý thức chính trị cộng đồng cũng là ý thức chính trị
của một xã hội, của một nhóm ngời, một tập đoàn ngời. Vì vậy nó chỉ tồn
tại, phát triển, thể hiện thông qua ý thức chính trị của mỗi cá nhân. Tất
nhiên, ý thức chính trị cộng đồng không phải là phép cộng giản đơn của
các ý thức chính trị cá nhân mà nó là chất mới đợc kết tinh từ những tinh
hoa của các ý thức chính trị cá nhân, nó đợc cả cộng đồng chấp nhận.
Ngợc lại, mỗi cá nhân là một phần tử đơn nhất tạo thành cộng đồng xã
hội, đợc hình thành và phát triển trong quan hệ xã hội, mỗi cá nhân đều
sống trong một xã hội cụ thể, một giai cấp cụ thể nên ý thức chính trị của
cá nhân đều mang nội dung nào đó của ý thức chính trị cộng đồng, đều bị
chi phối, bị định hớng bởi ý thức chính trị cộng đồng. Tất nhiên, ý thức
chính trị cộng đồng ảnh hởng đến ý thức chính trị cá nhân không nh
nhau. Mỗi cá nhân có hoàn cảnh kinh tế, nghề nghiệp, môi trờng giáo


14

dục, kinh nghiệm sống v,v... riêng nên lĩnh hội, tiếp thu ý thức chính trị

15

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, hệ t tởng chính trị thống trị
trong xã hội bao giờ cũng là hệ t tởng chính trị của giai cấp thống trị về
kinh tế - giai cấp nắm chính quyền. ý thức chính trị của các giai cấp bị
trị khác, thờng chịu ảnh hởng hệ t tởng chính trị (ý thức chính trị) của
giai cấp thống trị. Tuy nhiên, sự ảnh hởng này chỉ là tơng đối. Cùng với
cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực kinh tế, cuộc đấu tranh giai cấp trên
lĩnh vực t tởng cũng diễn ra quyết liệt giữa giai cấp thống trị và giai cấp
bị trị và làm cho hệ t tởng chính trị của giai cấp thống trị bị suy yếu.
Trong xã hội không có đối kháng giai cấp - xã hội XHCN, hệ t tởng
chính trị của GCCN giữ vị trí thống trị. Nhng hệ t tởng chính trị của GCCN
là tiến bộ, cách mạng, nó phản ánh đợc những nhu cầu, lợi ích chính trị cơ
bản của toàn thể nhân dân lao động nên có vai trò chủ đạo, định hớng đúng
đắn cho ý thức chính trị của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội nhằm
mục đích giải quyết tốt những quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp
trong quá trình xây dựng CNXH.
Để nghiên cứu ý thức chính trị của một xã hội, một giai cấp, một
tầng lớp, một nhóm xã hội, một cá nhân nào đó cần phải thông qua những
quan hệ lớn phản ánh đời sống chính trị. Đó là nhận thức về vị trí và vai trò
của giai cấp mình đối với sự phát triển của xã hội; là thái độ đối với các bộ
phận cơ bản trong hệ thống chính trị (nhà nớc, đảng phái v,v...); là sự nhìn
nhận những nội dung chính trị quan trọng (chế độ, chính thể, đờng lối,
chính sách v,v... phát triển đất nớc); thái độ đối với các giai cấp, tầng lớp cơ
bản trong xã hội (bạn đồng minh, kẻ thù) v,v... Tùy theo đối tợng tìm hiểu
mà các quan hệ chủ yếu thể hiện ý thức chính trị nêu trên đợc cụ thể hóa và
sắp xếp với những vị trí khác nhau.
Vận dụng những vấn đề đã phân tích ở trên để nghiên cứu ý thức
chính trị của GCCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa rất quan
trọng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nếu không có một


17

Giác ngộ về giai cấp (ý thức về giai cấp) là sự nhận thức về chính
bản thân mình trong mối quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác và với tiến
trình phát triển chung của xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta,
giác ngộ về giai cấp là yếu tố hàng đầu của ý thức chính trị của GCCN. Ngời công nhân có hay cha có sự giác ngộ giai cấp, có sự giác ngộ giai cấp cao
hay thấp lại đợc biểu hiện ở hai vấn đề là:
- Ngời công nhân hiểu về giai cấp mình ra sao? Có SMLS (vai trò)
nh thế nào? Tại sao lại có SMLS ấy? Điều kiện để có thể thực hiện đợc sứ
mệnh này?
Ngời công nhân cha có sự giác ngộ giai cấp khi không hiểu đợc
hoặc hiểu sai lệch về những vấn đề nêu trên.
Có ý thức chính trị hay ý thức giai cấp khi ngời công nhân biết đợc
những ý khái quát rằng: GCCN là giai cấp của những ngời lao động trong
công nghiệp hiện đại, tạo ra phần lớn sản phẩm vật chất cho xã hội, có
SMLS là xóa bỏ chế độ TBCN, chế độ ngời áp bức bóc lột ngời, xây dựng
chế độ XHCN tiến lên CNCS. Sở dĩ GCCN có SMLS ấy là vì GCCN có vai
trò quan trọng trong kinh tế và các mặt phát triển khác của xã hội, có tinh
thần cách mạng triệt để, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lý luận cách mạng,
khoa học dẫn đờng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh.
Để hoàn thành SMLS của mình, GCCN phải có một trình độ giác ngộ chính
trị nhất định, phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phải xây dựng đợc
khối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Có ý thức chính trị cao, hay ý thức giai cấp cao, khi ngời công nhân
nắm đợc những vấn đề nêu trên một cách đầy đủ, có tính lý luận nhất định,
đồng thời liên hệ đợc với thực tiễn và nhất là có niềm tin vào vai trò lịch sử
của giai cấp mình, tích cực chống lại những quan điểm xuyên tạc, phủ nhận
SMLS ấy.




19

luật với một Nhà nớc thuộc giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá
trình kinh tế - xã hội nhằm duy trì và phát triển chế độ xã hội nhất định nào
đó. Vì vậy, sự nhận thức về các tổ chức trong hệ thống chính trị của GCCN
nớc ta chính là hiểu biết về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Nhà nớc Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và về các tổ chức chính trị - xã hội, mà trớc hết
là về tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp mình là tổ chức Công đoàn Việt
Nam.
- Đối với Đảng:
ý thức chính trị kém khi ngời công nhân không có hiểu biết nhất
định về Đảng, xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, thờ ơ với những hoạt
động của Đảng, không có ý thức phấn đấu để đợc đứng trong hàng ngũ của
Đảng.
Ngời công nhân có ý thức chính trị khi nhận thức đợc rằng Đảng
Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trung
thành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là bộ
phận hợp thành vừa là lực lợng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN. Ngời
công nhân thấy đợc tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
sự nghiệp đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN. Ngời công nhân quan
tâm đến hoạt động của Đảng mà cụ thể là hoạt động của các tổ chức cơ sở
Đảng trong các đơn vị của mình.
Ngời công nhân có ý thức chính trị cao, ngoài những hiểu biết
trên,còn phải hiểu đợc mục đích của Đảng là xây dựng nớc Việt Nam độc
lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành công
CNXH và cuối cùng là CNCS; hệ t tởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin
và t tởng Hồ Chí Minh; Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí và
hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện

Ngời công nhân có ý thức chính trị nhận thức đợc rằng Công đoàn
là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của GCCN, của ngời lao động;
cùng với cơ quan nhà nớc và các tổ chức kinh tế - xã hội khác chăm lo, bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức và những ngời lao


21

động khác; tham gia quản lý nhà nớc, quản lý xã hội; tham gia kiểm tra,
giám sát hoạt động của cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế nhằm thiết thực
bảo vệ lợi ích trớc mắt và lợi ích lâu dài của công nhân, viên chức, lao động,
của tập thể, của Nhà nớc một cách căn bản, từ gốc và có hiệu quả; giáo dục
công nhân, viên chức và những ngời lao động khác nhận thức đầy đủ về lợi
ích cá nhân gắn với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, giáo dục kỷ luật lao động,
giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, tuyên truyền, giáo dục công nhân,
viên chức, lao động vững tin vào đờng lối chính sách của Đảng, sự nghiệp
đổi mới của đất nớc...
Ngời công nhân có ý thức chính trị cao, bên cạnh việc nhận thức đợc những vấn đề trên, còn phải thấy rằng Công đoàn là một thành viên quan
trọng trong hệ thống chính trị XHCN, là sợi dây nối liền Đảng với quần
chúng, là ngời cộng tác đắc lực của Nhà nớc; Công đoàn hoạt động dới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản; ngời công nhân phải có ý thức tham gia hoạt
động của tổ chức Công đoàn và có ý thức trong việc xây dựng tổ chức Công
đoàn vững mạnh.
Biểu hiện thứ ba về ý thức chính trị của GCCN là thái độ đối với sự
nghiệp đổi mới của đất nớc.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nớc là do Đảng ta khởi xớng và
lãnh đạo thực hiện và đợc đánh dấu từ Đại hội VI (1986). Từ đó đến nay,
đất nớc đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Thái độ của
ngời công nhân về vấn đề này nh thế nào cũng là một thể hiện quan trọng
về trình độ ý thức chính trị của mình.

những quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình đợc ghi trong Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam; đồng thời hiểu biết và tuân
thủ những quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể trong quy chế của ngành, địa phơng,
đơn vị mình đề ra.
Có ý thức chính trị cao khi ngời công nhân không những hiểu đợc
những quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của mình mà còn đấu tranh để đạt đợc


23

những lợi ích chính đáng và tự giác trong việc thực hiện những nghĩa vụ
của mình.
Biểu hiện thứ năm về ý thức chính trị là thái độ của ngời công nhân
đối với bạn đồng minh và ngời sử dụng lao động trong đó có giới chủ.
Đối với bạn đồng minh, có ý thức chính trị khi ngời công nhân nhận
thức đợc rằng cần phải liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
để tạo thành một lực lợng cách mạng đông đảo, mới có thể xây dựng thành
công xã hội mới.
Có ý thức chính trị cao khi ngời công nhân, không những hiểu đợc
tính tất yếu của liên minh trong đấu tranh giành chính quyền cũng nh trong
xây dựng xã hội mới, mà còn nắm đợc nội dung của liên minh công - nông trí thức, liên minh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Đặc
biệt, ngời công nhân có ý thức chính trị cao còn phải vận dụng đợc những
đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc về vấn đề này để tham gia xây
dựng kế hoạch hoạt động của đơn vị mình nhằm xác lập trực tiếp mối quan
hệ giữa công nhân trong đơn vị mình với nông dân và tầng lớp trí thức, từ
đó làm cơ sở để xây dựng liên minh công - nông - trí thức trên phạm vi toàn
xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta hiện nay, GCCN không
còn ở vào địa vị bị áp bức bóc lột nữa, mà đã trở thành giai cấp thống trị về
chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội

phẩm, mà phản bội lợi ích của giai cấp và của toàn thể nhân dân lao động.
Hơn nữa, ngời công nhân có ý thức chính trị cao phải động viên mọi ngời
thực hiện tốt các qui định của pháp luật, đồng thời đấu tranh không khoan
nhợng đối với những biểu hiện vi phạm mối quan hệ giữa ngời lao động và
ngời sử dụng lao động trong đó có giới chủ, trên cơ sở tuân thủ pháp luật
nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích.
Từ những phân tích trên, có thể thấy sự biểu hiện ý thức chính trị
của GCCN rất đa dạng, phong phú. Các biểu hiện có quan hệ chặt chẽ với


25

nhau, thúc đẩy và ảnh hởng lẫn nhau. Từ những biểu hiện đó, chúng ta có
thể xem xét, đánh giá trình độ ý thức chính trị hay trình độ giác ngộ giai
cấp của một ngời công nhân cụ thể hoặc của cả GCCN.
Việc nghiên cứu biểu hiện ý thức chính trị của GCCN có ý nghĩa
thực tiễn rất quan trọng. Qua đấy có thể thấy ý thức chính trị sẽ quyết định
đến các hoạt động chính trị (là những hoạt động nhằm phản ánh những mối
quan hệ cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự tồn vong của cả một giai cấp,
một dân tộc, một quốc gia, trên tất cả các mặt của đời sống của xã hội có
giai cấp, mà vấn đề trung tâm của nó là vấn đề giành, giữ và duy trì quyền
lực nhà nớc). vì vậy, ý thức chính trị cao hay thấp sẽ dẫn đến những hành
động chính trị đúng hay sai, từ đó quyết định đến việc đạt hay không đạt đợc lợi ích chính trị. Cho nên, phải luôn luôn chú ý đến việc nâng cao ý thức
chính trị cho GCCN.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị của
GCCN nớc ta

Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị của GCCN nớc ta đợc
quy định từ nhiều lý do. Trớc hết, xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về sự chuyển biến của phong trào đấu tranh của GCCN từ tự phát
sang tự giác. GCCN là "con đẻ" của nền đại công nghiệp. Sự ra đời của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status