Bộ GIÁO
J2òiDỤC
camVẢ
aoĐẢO
an TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÒNG NGHIỆP HÀ NỘI
- Phân tích thực trạng khả năng tham gia thị trường đầu vào và tiêu thụ
của phụ nữ xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phổ Hà Nội.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tham gia thị trường của
phụ nữ xã Đông Dư, huyện Gia lâm, Hà Nội.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ thể nghiên cứu là phụ nữ xã Đông Dư, huyện gia Lâm, thành phố
Hà Nội, vấn đề nghiên cứu là năng lực tiếp cận thị trường trong sản xuất và
tiêu thụ nông sản của họ.
1.4 Phạm vi nghiên cún
1.4.1
Phạm vi về nội dung
+ Một sổ vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về năng lực tiếp cận thị
trường trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.
3
dịch vụ y tế, đất đai...về thị trường đầu ra là quá trình tiêu thụ nông sản của
họ.
1.4.2
Phạm vi không gian
- Đề tài nghiên cứu tại xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Theo quan điểm thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Bùi Ngọc
Chưởng - Mai Trung Hậu, 2007): Thị trường là lĩnh vục trao đối hàng hóa,
đồng thời là một trong những hình thức biểu hiện quan hệ sản xuất của những
người sản xuất hàng hóa, nên thị trường hoàn toàn có thể mang bản chất xã
hội - kinh tế khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ sản xuất, trước
hết vào chế độ sở hữu thống trị trong từng chế độ xã hội cụ thể.
Có thể nói có nhiều cách hiểu về thị trường, thị trường là nơi diễn ra
hoạt động trao đổi, mua bán của con người. Đổi với nông dân khi tham gia thị
trường đó chính là nơi mà họ có thế mua được các đầu vào đế sản xuất; bán
được các sản phâm mà mình làm ra.
5
2
/>
aWỌ9MTkyNTgmZ3
JvdXBpZD0ma21uZD0ma2V5d29yZDlOJWMzJTk0TkcrTkdISSVlMSViYiU4NlArSCVj
MyU4ME5HK0hPJWMzJTgx&page= 1
*
Sản xuất nông nghiệp hàng hoá
- Sản xuất nông nghiệp không nhằm mục đích tụ’ cấp, tụ’ túc, đáp ứng
nhu cầu trục tiếp của bản thân người sản xuất, mà là thông qua thị trường đáp
ứng các nhu cầu về nông sản và thực phẩm của xã hội. 2
Đó là phương hướng phát triển tất yếu của nông nghiệp nhằm bảo đảm
Đông Dư mà chỉ quan tâm đến việc tiếp cận thị trường giống; vật tư như phân
bón, thuốc trừ sâu, thú y và thị trường tiêu thụ các nông sản chính của phụ nữ
xã Đông Dư. Đe thấy việc tham gia của họ với các thị trường này ở mức độ
nào, năng lực của họ tới đâu.
Thị trường giống, vật tư nông nghiệp hiện nay rất phong phú. Các sản
phẩm công nghệ cao, chất lượng tốt ngày càng đa dạng, bên cạnh đó có nhiều
sản phấm trên thị trường không đảm bảo tiêu chuấn, giá cả không họp lý. Neu
không hiểu biết cụ thể có người sản xuất nông sản có thể gặp những bất lợi vì
đầu vào tác động không nhỏ đến năng suất chất lượng sản phẩm. Đối với tiêu
thụ nông sản chúng tôi tìm hiếu kiến thức của họ về tiêu thụ và thực trạng
tham gia thị trường tiêu thụ của họ.
2.1.2
Một số lý luận về giói
- Giới là thuật ngữ chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất
cả các mối quan hệ xã hội.
Hoặc Giới là thuật ngữ đế chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và
các kỳ vọng liên quan đến nam và nữ.
- Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điếm
giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới.
Bình đắng giới được hiểu là nam giới và phụ nữ có cùng vị thế bình
đắng trong xã hội, cùng hưởng những điều kiện bình đắng đế phát huy hết
khẳnng của mình, cùng có cơ hội như nhau đế tham gia đóng góp và hưởng
lợi tù’ công cuộc phát triển.
Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đắng như nhau và cùng:
+ Có điều kiện bình đắng để phát huy hét khả năng và thực hiện các
nguyện vọng của mình.
giới và phụ nữ, giảm nghèo cho cả nam và nữ.
+ Mức độ hiệu quả về tăng truởng kinh tế, xã hội và phát triển bền
vững đuợc cải thiện và công bằng.
2.1.3
Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực tiếp cận thị trường trong sản
xuất, tiêu thụ nông sản cho phụ nữ nông thôn
a, Năng lực
Có nhiều cách hiểu về năng lực, dưới đây xin trích dẫn 3 khái niệm:
- Năng lực của một con người là sự tương ứng giữa một bên là những
đặc điếm tâm sinh lý của một con người với một bên là những yêu cầu của
hoạt động nghề đối với con người đó. Người ta ai cũng có năng lực, một
người thường có nhiều năng lực khác nhau. Năng lực không sẵn có mà phải
học hỏi và rèn luyện mới có (Nguyễn Thị Hà, 2008).
- Theo nghĩa hẹp: Năng lực là thuộc tính tâm lý, là khả năng tiềm ẩn
của cá nhân, là phẩm chất, nhân cách cho phép thực hiện có hiệu quả những
hoạt động nhất định (Nguyễn Thị Hiên, Lê Ngọc Hùng, 2004)
Năng lực cá nhân được hiểu tương đồng với khả năng, tiềm năng,
quyền năng của cá nhân trong việc thực hiện hành vi, hoạt động nhất định một
các thành thạo, nhanh chóng và hiệu quả.
Theo cách hiểu này thì năng lực là khả năng của cá nhân trong việc
thực hiện thành công những vai trò, chức năng và những hành vi, hoạt động
nhất định nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lành mạnh của nhân cách
con người. Tuỳ vào mức độ biểu hiện từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp
mà năng lực được biếu hiện là năng khiếu, tài năng, thiên tài...Người ta phân
loại ra các loại năng lực cá nhân như sau:
+ Năng lực trí tuệ: khả năng trí nhớ, tư duy tưởng tượng.
+ Năng lực tình cảm: khả năng cảm thụ, biểu lộ cảm xúc hay chế ngự,
thời năng lực bản thân họ chịu tác động của cả hoản cảnh, điều kiện xung
quanh. Do đó năng lực tiếp cận thị trường của họ thể hiện trong:
- Những kiến thức của phụ nữ về kinh tế thị trường: Năng lực tiếp cận
thị trường của phụ nữ trong đề tài nghiên cứu này được thế hiện qua kiến
thức của họ về kinh tế thị trường trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Những
kiến thức đó quyết định sự tham gia của họ vào thị trường, và chịu ảnh hưởng
10
của các nhân tố như trình độ học vấn, kĩ thuật, sự cần cù chăm chỉ, điều kiện
của hộ...đế họ tham gia vào thị trường sản xuất và tiêu thụ nông sản của mình.
- Năng lực lựa chọn các yếu tổ đầu vào cũng như đầu ra. Từ có những
kiến thức nhất định cộng với các điều kiện khác nhau trong kinh tế thị trường,
để có thế sản xuất nông sản người nông dân cần có các đầu vào, và biết tiêu
thụ nông sản sao cho có lợi nhất. Điều đó cũng cần có năng lực, kĩ năng nhất
định, từ đó mà họ có cách bố trí sản xuất sao cho phù hợp.
- Khả năng hạch toán kỉnh tế trong sản xuất, tiêu thụ: Hạch toán kinh
tế là việc cần phải có nhất là trong sản xuất nông sản hàng hoá. Khả năng
hạch toán của phụ nữ đến đâu, cách hạch toán của họ có thực sự chính xác và
mức độ tham gia hạch toán của họ như thế nào sẽ phản ánh kết quả sản xuất
của họ. Neu không có khả năng hạch toán kinh tế sẽ hạn chế xác định sự lãi lồ
trong sản xuất đồng thời hạn chế phụ nữ khi tham gia thị trường.
- Khả năng phân tích tình huống và ứng xử trong kinh tế thị trường.
Đây được coi là khả năng khá quan trọng của phụ nữ. Có kiến thức nhất định,
kinh nghiệm sản xuất và thực tế đang diễn ra trong thị trường nông sản thì
người phụ nữ rất cần có đầu óc, khả năng phân tích tình huống đế ứng xử
trong hoàn cảnh cụ thế mang lại độ thoả mãn cho mình.
- Khả năng tiêu thụ nông sản của mình: tuỳ tòng đổi tượng phụ nữ mà
họ có thể tham gia mức độ khác nhau vào thị trường tiêu thụ, có phụ nữ bán
- Neu năng lực tiếp cận thị trường của phụ nữ được nâng cao thì sự
đóng góp của phụ nữ cho xã hội ngày càng cao, cần phải phát huy vai trò của
họ trong nền kinh tế thị trường.
Do đó nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cho phụ nữ nông thôn có
những ý nghĩa
- Tăng khả năng tham gia của phụ nữ vào thị trường giúp họ chủ động
hơn trước những biến động của thị trường về giá cả, cung cầu, họ ít bị lệ
thuộc hay gặp nhiều rủi ro hơn trong sản xuất.
- Nâng cao kiến thức về kinh tế thị trường và khả năng ra quyết định
của phụ nữ.
12
- Góp phân hạn chê bât bình đăng giới. Phụ nữ chủ động hơn trong đời
sống của mình. Phụ nữ có thế cải thiện đáng kế kinh tế gia đình tù' đó tác động
tốt tới xã hội. Việc nâng cao nhận thức, kiến thức của họ sẽ hạn chế sự chênh
lệch đáng kế giữa nam và nữ về học vấn và khả năng cải thiện đời sống của
mình
- Nâng cao năng suất lao động trong sản xuất tiêu thụ nông sản, từ đó
cải thiện đời sống, thu nhập của người dân trong đó có phụ nữ nông thôn.
Hoạt động sản xuất của nông dân có hiệu quả hơn do tiết kiệm được chi
phí, sử dụng đầu vào tiết kiệm, họp lý; trong tiêu thụ nông sản hạn chế được
những rủi ro hơn.
- Tạo điều kiện đế phát triến kinh tế xã hội nông thôn toàn diện, cân
bằng, bền vững. Mọi đổi tượng đều được hưởng quyền lợi tiếp cận với kinh tế
thị trường, quan tâm tới người nghèo và những đối tượng thiệt thòi của xã hội.
- Đấy nhanh tốc độ phát triến nông nghiệp nông thôn.
2.1.4
nữa họ luôn chịu sự bất bình đẳng, trình độ của họ thường thấp hơn nam giới.
Trình độ học vấn thấp cũng làm hạn chế việc tiếp thu, chấp nhận các kiến
thức mới từ bên ngoài, chậm đối mới, từ đó ảnh hưởng tới năng lực tiếp cận
thị trường của họ.
- Yeu tố nguồn lực: Yeu tố nguồn lực ở đây là đề cập tới đất đai, tài
chính, đế đầu tư sản xuất. Đó là điều kiện cần thiết đế người sản xuất trong đó
phụ nữ có the tham gia sử dụng và tiếp cận với các thị trường. Có nguồn lực
tốt thì tăng đầu tư, dẫn tới tăng khả năng cung ứng và mức độ tham gia vào
thị trường sản xuất nông sản, tù’ đó tham gia vào thị trường tiêu thụ nông sản
ngày càng thường xuyên.
Quyền quyết định trong tiếp cận, sử dụng nguồn lực. Các nguồn lực
vốn, đất đai chủ yều trong gia đình phụ thộc nhiều vào nam giới. Người đàn
ông trong gia đình nắm giữ quyền ra quyết định. Đất đai trong sổ đỏ được
đứng tên chủ hộ thường là đàn ông nên khi tiếp cận các nguồn lực trong đó có
đất đai là khó khăn đối với phụ nữ.
- Yeu tố sức khoẻ của phụ nữ. Mọi người vẫn nói sức khoẻ là món quà
quý giá nhất của con người, có sức khoẻ thì có thế làm được tất cả. Phụ nữ
đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn gặp rất nhiều khó khăn, họ chịu nhiều áp lực từ
gia đình, công việc nhà, con cái. Do đó sức khoẻ của họ có vai trò quan trọng
trong cuộc sống và phát triến kinh tế gia đình. Mặt khác ngày nay những công
việc trong sản xuất nông nghiệp hầu hết người phụ nữ phải đảm nhận do đó
có tác động không nhở đến sức khoẻ của họ. Lao động nông nghiệp đòi hỏi
14
3
_http://www. un.org. vn/undp/unđp/đocs/2000/gbkv/agriculture-v.htm
15
- Chính sách của Chính phủ, pháp luật
phát triến kinh tế xã hội của nhà nước có tác
Các chính sách như chính sách thị trường tiêu
chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn
dân tham gia thị trường
của nhà nước: các chính sách
động chi phối toàn bộ xã hội.
thụ nông sản, đầu vào, đầu ra,
có thế tạo điều kiện cho nông
Nước ta tiến hành thực hiện luật bình đẳng giới và các chương trình
phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ. Đó là một quá trình lâu dài, khó khăn, đặc
biệt là ở nông thôn. Việc lồng ghép giới thực hiện như thế nào, các tố chức có
tích cực, và những định kiến giới trong xã hội có tác động không nhở tới nhận
thức của mỗi cá nhân và xã hội. Phụ nữ có thể được bình đẳng, nâng cao khả
năng nhận thức, khả năng tham gia của mình trong quyết định và trục tiếp lao
động.
- Phong tục, tập quán của địa phương. Nông thôn là nơi có rất nhiều
phong tục tập quán thậm chí là hủ tục, có thế ngăn cản, hạn chế người phụ nữ
tham gia thị trường. Lấy ví dụ với quan niệm người phụ nữ phải chăm no
công việc nội trợ, con cái, nên họ ít ra ngoài, tiếp xúc với các thông tin kinh tế
xã hôị. Tập quán sản xuất tự cung tự cấp còn tồn tại ở nhiều nơi; sự manh
mún trong sản xuất với nhân khẩu đông ở nông thôn sẽ hạn chế sản xuất nông
sản hàng hoá nên họ không cần thiết lắm tiếp cận với thị trường tiêu thụ nông
sản. Từ đó cũng hạn chế năng lực tiếp cận thị trường của phụ nữ.