Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô
Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên
Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) Trương Thị Nga Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Tuấn Anh
Năm bảo vệ: 2013 Abstract: Trình bày quan điểm lý thuyết về cố kết cộng đồng - vốn xã hội đã làm rõ
quan niệm khác nhau về vốn xã hội của các học giả trên thế giới; cùng với hệ thống các
khái niệm đã cụ thể hóa các khái niệm về vốn xã hội. Nêu lên tính cố kết cộng đồng biểu
hiện qua nguồn vốn xã hội được tạo ra thông qua các hoạt động thờ cúng tổ tiên; thăm
hỏi, động viên, hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gia đình có việc cưới, việc tang; hay tham gia các
lễ hội tại địa phương của người dân ven đô Hà Nội. Phân tích hệ quả tích cực của cố kết
cộng đồng bằng việc người dân ven đô đã khai thác nguồn vốn xã hội thông qua sự tin
tưởng, sự có đi lại trong mạng lưới xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động sản
xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán, dịch vụ.
Keywords: Vốn xã hội; Phát triển cộng đồng; Cộng đồng ven đô; Xã hội học
Content
Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô
Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên
Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội)
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
2.1 Ý nghĩa khoa học 7
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 7
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
4.1 Đối tượng nghiên cứu 14
4.2 Khách thể nghiên cứu 14
4.3 Phạm vi nghiên cứu 14
5. Mục tiêu nghiên cứu 15
6. Câu hỏi nghiên cứu 15
7. Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích 15
7.1 Giả thuyết nghiên cứu 15
7.2 Khung phân tích 16
8. Phƣơng pháp nghiên cứu và kỹ thuật xử lý thông tin 16
8.1 Phương pháp nghiên cứu 16
8.1.1 Phân tích tài liệu 16
8.1.2 Quan sát 17
8.1.3 Phỏng vấn sâu 17
8.2 Kỹ thuật xử lý thông tin 18
9. Cấu trúc của luận văn 18
PHẦN 2. NỘI DUNGNGHIÊN CỨU 19
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.1 Thao tác hóa khái niệm 19
1.1.1 Cộng đồng và tính cố kết cộng đồng 19
1.1.2 Quan hệ xã hội 21
2
1.1.3 Mạng lưới xã hội 21
1.1.4 Đoàn kết xã hội 22
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính cộng đồng được thể hiện qua quan hệ dòng họ, quan hệ hàng xóm láng giềng, thể hiện qua
việc tuân thủ và giữ gìn các phong tục tập quán biểu hiện trong việc thờ cúng tổ tiên, tổ chức lễ hội
làng
Để thích ứng với nền sản xuất kinh tế thị trường đòi hỏi người dân ven đô phải biết cách khai
thác nguồn vốn xã hội và vốn con người để chuyển đổi ngành nghề sản xuất, mở rộng mạng lưới
quan hệ xã hội. Người dân Yên Thường đã giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất và trong đời sống,
tham gia vào các hoạt động tập thể, các hoạt động chung của dòng họ, làng xóm và qua đó tạo dựng
được nguồn vốn xã hội với biểu hiện cụ thể là niềm tin, sự có đi có lại, mở rộng các mối quan hệ xã
hội trong làm ăn, buôn bán. Đồng thời việc khai thác nguồn vốn xã hội mình có được trong việc
thực hiện các hoạt động kinh tế tại địa phương, sự cố kết cộng đồng cũng tạo ra những hệ quả tích
cực nó với biểu hiện cụ thể là con người càng gắn bó, đoàn kết và gần gũi nhau hơn, tinh thần tập
thể được nâng cao.
Gần đây ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vốn xã hội, phân tích vai trò và tác
động của chúng đối với biến đổi kinh tế xã hội, gợi ý những giải pháp để khai thác có hiệu quả
nguồn vốn này cho phát triển. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến nguồn vốn xã hội
nói chung, còn thiếu những nghiên cứu về vốn xã hội ứng dụng ở những cấp độ khác nhau trong cơ
cấu xã hội và chưa bàn đến vấn đề liên kết, cố kết cộng đồng từ góc nhìn vốn xã hội
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã vận dụng hệ thống lý thuyết về vốn xã hội qua cách tiếp cận xã hội học, các khái
niệm về cộng đồng và tính cố kết cộng đồng để thông qua đó góp phần vào việc hoàn thiện lý
thuyết về vốn xã hội, Từ góc nhìn vốn xã hội, nghiên cứu tìm hiểu cách thức người dân ven đô tạo ra sự cố
kết cộng đồng và vận dụng cố kết cộng đồng để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động kinh tế.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là những dữ liệu quan trọng làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các
giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả nguồn vốn xã hội và nâng cao sự cố kết cộng đồng ở vùng ven đô Hà
Nội hiện nay.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
4.2 Khách thể nghiên cứu
Các hộ gia đình thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Vốn xã hội qua cố kết cộng đồng trong hai lĩnh vực: đời sống văn hóa tín
ngưỡng và hoạt động kinh tế.
5. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích việc tạo nên cố kết cộng đồng trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng từ góc nhìn vốn xã
hội.
- Phân tích hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế từ góc nhìn vốn xã hội
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Cố kết cộng đồng biểu hiện cụ thể qua vốn xã hội được tạo ra như thế nào qua việc thờ cúng tổ
tiên, việc cưới, việc tang ?
- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được thể hiện như thế nào qua việc người dân ven đô
vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động kinh tế?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Thông qua việc cưới, việc tang, việc thờ cúng tổ tiên, người dân ven đô đã tạo ra sự cố kết
cộng đồng được biểu hiện cụ thể qua các thành tố của vốn xã hội bao gồm mạng lưới xã hội, quan
hệ có đi có lại, và sự sự tin cậy giữa những người sống trong cùng cộng đồng.
- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được biểu hiện qua việc người dân ven đô dựa vào các
thành tố của vốn xã hội như mạng lưới xã hội, sự có đi có lại, và lòng tin để tìm kiếm lợi ích trong
đời sống kinh tế trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch
vụ.
5
8. Phƣơng pháp nghiên cứu và kỹ thuật xử lý thông tin
8.1 Phương pháp nghiên cứu
8.1.1 Phân tích tài liệu
Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để phân tích nguồn tài liệu qua
một số công trình nghiên cứu cũng như trên các báo, tạp chí, mạng internet về vốn xã hội, về tính cố
xã hội là các cố kết cộng đồng, một dạng của cố kết xã hội. Từ quan điểm lý thuyết vốn xã hội
chúng ta thấy: cố kết cộng đồng là một một biểu hiện cụ thể của vốn xã hội. Vì cố kết cộng đồng là
biểu hiện cụ thể của vốn xã hội nên cố kết cộng đồng mang đặc điểm của vốn xã hội. Hai đặc điểm
quan trọng của vốn xã hội, trong trường hợp này là cố kết cộng đồng, được phân tích ở đây là việc
tạo dựng cố kết cộng đồng, và hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng dưới góc nhìn vốn xã hội. Vốn
xã hội được biểu hiện cụ thể qua các thành tố: mạng lưới xã hội, lòng tin, và chuẩn mực – nhất là
6
chuẩn mực về sự có đi có lại giữa các chủ thể hành động. Vốn xã hội được các chủ thể hành động
tạo ra, và trong những điều kiện nhất định, vốn xã hội có thể được chuyển thành vốn kinh tế. Nói
cách khác, các chủ thể hành động tạo ra vốn xã hội và vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích kinh
tế.
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng của Robert Merton
Vận dụng lý thuyết này vào luận văn có thể thấy các cá nhân, các tổ chức, thiết chế xã hội ở
nông thôn là những bộ phận hữu cơ hợp thành cấu trúc xã hội nông thôn, chúng có những chức
năng nhất định. Mỗi cá nhân, tổ chức trong cộng đồng làng xã đảm nhận những chức năng khác
nhau trong cơ cấu tổ chức xã hội. Một chức năng có thể do hai hay nhiều cá nhân cùng thực hiện
nhằm thỏa mãn nhu cầu. Vì thế, sự hỗ trợ của cá nhân/gia đình trong xã hội với hoạt động sản xuất
và đời sống của người dân ven đô, trên quan điểm cấu trúc - chức năng có thể thấy, đó là một trong
những phương thức để giúp duy trì sự ổn định và cố kết cộng đồng của ở ven đô. Tuy nhiên, ngày
nay việc giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, đời sống và trong lĩnh vực kinh tế theo những chức năng mỗi
người đảm nhận ở vùng ven đô Hà Nội dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã làm
cho các mối quan hệ cộng đồng trở nên lỏng lẻo hơn, do chức năng của cá nhân cũng có sự thay thế
trong bối cảnh kinh tế mới.
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbert Blumer
Vận dụng quan điểm lý thuyết tương tác biểu trưng của Blumer ta thấy, ở ven đô Hà Nội, các cá
nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với những hành động trực tiếp
của người khác mà “đọc” và lý giải những hành động đó, xem xét ý nghĩa mà hành động mang lại
cho mình. Tương tác giữa người với người ở ven đô Hà Nội diễn ra trong hoạt động sản xuất, đời
Cưới xin, ma chay là các sự kiện thường thấy trong đời sống thường ngày không chỉ ở các làng
ven đô. Nhà nào cũng ít nhất một lần dựng vợ gả chồng cho con cái, cũng đến lúc có những người
từ giã cõi đời về nơi chín suối. Khác với lối sống đô thị chỉ nhà nào biết nhà đấy, ở nông thôn, mỗi
khi có các sự kiện trên thì không chỉ anh em ruột thịt, họ hàng trong nhà mà cả hàng xóm láng
giềng lại bắt tay vào giúp đỡ, thăm hỏi, thể hiện sự quan tâm của mình với gia chủ. Tùy vào mối
quan hệ khác nhau mà việc thể hiện sự quan tâm, sự hỗ trợ nhau trong việc cưới cũng khác nhau. Số
liệu khảo sát đã cho thấy 69.7% số người khi gia đình anh em ruột thịt có đám cưới thì họ không chỉ
đến mừng tiền mà còn giúp đỡ công việc. Cũng có những gia đình khi anh em ruột trong nhà có
đám cưới thì chỉ đến mừng tiền, con số này chiếm 28%. Còn đối với các gia đình anh em trong họ
tộc, khi có đám cưới, người dân giúp đỡ bằng hình thức mừng tiền là chủ yếu chiếm 78.3%. Và có
19% gia đình vừa mừng tiền, vừa giúp đỡ công việc nếu là người trong họ tộc.
Những mối quan hệ hàng xóm láng giềng hay bạn bè, người quen trong làng xã, người dân chủ
yếu đến mừng tiền là chính. Con số này ở bạn bè đồng nghiệp là 90.7%; người trong xóm là 73%;
người ngoài xóm chiếm 65%. Ngoài mừng tiền, cũng có những gia đình đến giúp đỡ gia chủ những
công việc mà họ cần. Tỷ lệ này chiếm nhiều nhất ở những gia đình cùng xóm với 16.3% vừa mừng
tiền vừa đến giúp đỡ công việc khi gia đình hàng xóm nhà mình có đám cưới.
Cũng giống như khi có việc hỷ, tùy vào mối quan hệ với gia đình có người mất mà thể hiện tình
cảm của mình ở những góc độ khác nhau như anh em ruột thịt đa số đến phúng tiền và mỗi người
một chân một tay giúp đỡ. Cụ thể, khi gia đình anh em ruột có đám ma, có 29.3% người đến phúng
tiền, 1.7% người đến giúp công việc trong khi đó có 68% người đến vừa giúp công việc vừa phúng
tiền. Còn đối với người trong họ tộc, các gia đình chủ yếu đến phúng tiền, chia buồn là chủ yếu:
79.7% người đến phúng tiền nếu là gia đình trong họ. Ngoài việc đến phúng tiền, có một tỷ lệ nhỏ
đến giúp đỡ gia đình để lo hậu sự, mai táng cho người đã khuất.
Ngoài anh em thì bạn bè đồng nghiệp cũng là một nguồn hỗ trợ, giúp đỡ công việc khi gia đình
có chuyện không vui. Hàng xóm lân cận quanh nhà, người trong làng xã mà biết tin gia đình có tang
cũng đến phúng viếng thăm hỏi, chia buồn với gia đình. Mức độ thân thiết có người đến phúng
viếng (78.7% đối với gia đình hàng xóm và 63.7% đối với gia đình người cùng làng), còn nếu
không chỉ cần đến chơi, thăm hỏi, động viên và chia buồn cùng gia chủ cũng đã thể hiện sự quan
tâm, chia sẻ với nhau khi gia đình có việc hiếu.
Có thể nói, chính sự quan tâm chia sẻ, động viên, giúp đỡ gia đình khi có việc hiếu, hỷ, người
thôn xóm.
CHƢƠNG 3: VẬN DỤNG VỐN XÃ HỘI – HỆ QUẢ TÍCH CỰC CỦA CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG
3.1 Vốn xã hội trong sản xuất nông nghiệp
Trong thời kỳ hiện nay mặc dù nông nghiệp - nông thôn và nông dân đã được Nhà nước quan
tâm nhiều nhưng nhiều hộ gia đình nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn về vốn, công cụ sản xuất,
sức lao động, kinh nghiệm sản xuất cũng như khả năng tiếp cận thị trường thì việc liên kết và hợp
tác trong nông nghiệp đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của mỗi gia đình. Bởi vậy mà người
nông dân đã biết vận dụng nguồn vốn xã hội qua các mối quan hệ trong gia đình, thân tộc, làng xóm
để tìm kiếm lợi ích trong sản xuất nông nghiệp biểu hiện cụ thể là việc cùng hợp tác, phát triển sản
xuất. Các hình thức hợp tác hình thành và phát triển trên cơ sở khai thác nguồn vốn xã hội nhanh
chóng phát huy tác dụng và góp phần tích cực vào phát triển sản xuất để nâng cao đời sống gia đình
đồng thời càng khẳng định tinh thần tập thể, đoàn kết trong lao động và sản xuất. Trong tổng số 300
mẫu khảo sát ở xã Yên Thường có 255 hộ gia đình vẫn làm nông nghiệp và trong đó có 121 hộ
chiếm 47.5% thuê, mượn ruộng của các hộ khác để sản xuất, tạo thêm nguồn thu nhập cho gia
đình. Để giúp đỡ nhau trong sản xuất, làm giảm thời gian lao động cho kịp mùa vụ, người dân xã
Yên Thường dựa trên nguồn vốn xã hội là sự có đi có lại để đổi công sản xuất cho nhau. Tỷ lệ các
9
gia đình tiến hành đổi công sản xuất cho các hộ gia đình khác và giúp đỡ nhau trong sản xuất nông
nghiệp chiếm 20% trong tổng số hộ làm nông nghiệp. Gia đình có hai thế hệ, tỷ lệ đổi công cho các
gia đình khác là 47.1%, còn ở các gia đình có ba thế hệ, tỷ lệ này là 45.1%. Trong khi đó các gia
đình có một thế hệ và trên ba thế hệ có tham gia đổi công trong sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ
nhỏ. Hình ảnh gia đình tập trung nhiều thế hệ có thể nói là một dấu ấn riêng, tạo nên bản sắc đặc
trưng cho tinh thần cố kết cộng đồng và lối sống trọng tình, trọng nghĩa của người Việt, có nguồn
gốc từ truyền thống nông nghiệp trồng lúa nước.
Việc đổi công hay thuê mượn ruộng trong sản xuất nông nghiệp để có thêm đất canh tác cũng
phụ thuộc vào loại hình kinh tế của từng gia đình. Đối với gia đình hỗn hợp bao gồm những thành
viên tham gia trong các hoạt động kinh tế khác nhau ta thấy họ cho thuê mượn ruộng chiếm tỷ lệ
cao nhất với 76.9%. Với các hộ gia đình thuần nông ta thấy tỷ lệ thuê/cho thuê mượn ruộng chiếm
10
nghiệp, trong đó những người ngoài xóm cùng làng tham gia chung vào các hoạt động sản xuất tiểu
thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ cao hơn cả với 51.6%. Các gia đình làm nghề cũng trao đổi, học hỏi và
chia sẻ, truyền đạt kinh nghiệm cho những người trong mạng lưới xã hội mình quen biết để cùng
làm ra những sản phẩm có chất lượng phục vụ cho người tiêu dùng. Việc giúp đỡ nhau về kiến thức,
kinh nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm bạn bè với 38.5%. Vận dụng nguồn vốn xã hội trong các
mối quan hệ quen biết từ quan hệ trong gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè, các hộ sản xuất tiểu
thủ công nghiệp ở ven đô đã mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để đưa mặt hàng của mình đến
với người tiêu dùng khắp nơi. Họ đã tận dụng các mối quan hệ trong họ hàng, làng xóm để đưa sản
phẩm của mình ra thị trường với 26.9% qua anh em họ hàng; 36.8% qua hàng xóm láng giềng, qua
kênh người quen ngoài làng hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất với 40.6%.
Những biểu hiện cụ thể của tính cố kết cộng đồng như việc hợp tác, giúp đỡ và hỗ trợ nhau
trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã làm cho các mối quan hệ của người dân ven đô càng được
củng cố. Tình cảm giữa anh em, hàng xóm láng giềng, bạn bè một lần nữa được khẳng định, duy trì
và thắt chặt. Từ đó mà tinh thần đoàn kết trong lao động và sản xuất được đẩy mạnh và phát huy
nhằm mang lại lợi ích trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
3.3 Vốn xã hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán
Cùng với những nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ đang phát triển mạnh và thu hút
được nhiều người từ nông nghiệp chuyển sang kinh doanh buôn bán ở Yên Thường. Các hộ phi
nông nghiệp có nhiều người tham gia trong lĩnh vực buôn bán, dịch vụ hơn các hộ gia đình kinh tế
hỗn hợp: 78.1% so với 21.9%.
Phân tích số liệu tương quan giữa số thế hệ trong gia đình với số gia đình có tham gia buôn bán
dịch vụ ta thấy, các gia đình có hai thế hệ có số người hoạt động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ
chiếm tỷ lệ cao hơn với 59.9%. Đứng thứ hai là các gia đình có ba thế hệ với 38%. Các gia đình có
một thế hệ và trên 3 thế hệ có rất ít người hoạt động trong lĩnh vực này. Khi gia đình có nhiều thành
viên cùng tham gia vào công việc kinh doanh buôn bán thì tính cố kết trong gia đình cũng được
củng cố hơn.
Tính cố kết cộng đồng có thể thấy đã có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội nông
các hộ làm nghề này và 8% giúp đỡ về vốn thông qua hình thức chung vốn để kinh doanh. Bên cạnh
đó có 17.4% người ngoài làng và 17.6% bạn bè cùng tham gia kinh doanh, buôn bán với các gia
đình làm nghề này.
Việc khai thác những mối quan hệ này để phát triển kinh doanh đã giúp các gia đình ven đô mở
rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm; có nguồn vốn kinh tế và nguồn lực con người để mở rộng
quy mô kinh doanh, buôn bán; đồng thời có thêm kinh nghiệm và tạo dựng được niềm tin thông qua
sự chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau từ những mối quan hệ xã hội mà mình có. Đó là những
lợi ích thiết thực khi nguồn vốn xã hội được khai thác trong hoạt động kinh doanh, buôn bán và
dịch vụ đã mang lại cho người dân ven đô Hà Nội.
Tiểu kết: Bằng nguồn vốn xã hội là sự có đi có lại, sự tin tưởng lẫn nhau và khai thác những
mối quan hệ sẵn có đã mang lại cho người dân ven đô những lợi ích trong hoạt động kinh tế, người
dân ven đô đã hợp tác, giúp đỡ nhau trong sản xuất nông nghiệp, trong tiểu thủ công nghiệp và kinh
doanh buôn bán dịch vụ để cùng nhau làm ăn có hiệu quả. Thông qua sự hợp tác, giúp đỡ và cùng
nhau tham gia các hoạt động kinh tế đã làm cho tình cảm anh em họ hàng, tình làng nghĩa xóm, tình
bạn bè được củng cố, nâng cao và ngày càng gắn bó. Quan hệ giữa người với người ở nông thôn
càng được bền chặt và thân thiết hơn bao giờ hết, người ta không chỉ sẵn sàng giúp đỡ nhau về tinh
thần mà còn giúp đỡ về vật chất nếu các gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn. Do vậy có thể nói thông
qua các hoạt động kinh tế người dân ven đô đã biết cách khai thác nguồn vốn xã hội mình tạo dựng
được để tìm kiếm lợi ích và đây cũng chính là hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng.
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Chính tính chất gần gũi về không gian và việc cùng nhau sinh sống từ lâu đời dẫn tới sự hiểu
biết sâu sắc, tin tưởng nhau để cùng tham gia vào các sự kiện chung như cưới xin, ma chay, lễ hội
trong cộng đồng, từ đó tính cố kết cộng đồng được hình thành với biểu hiện cụ thể là nguồn vốn xã
hội được tạo dựng, duy trì và củng cố. Trong quá trình sinh sống và hoạt động của mình, sự tin
tưởng giữa một cá nhân với các thành viên khác trong họ hàng, làng xã đã được hình thành, phát
triển và duy trì. Họ cùng nhau chia sẻ những mục tiêu hoạt động, đó là những cái đích thực tế do
các thành viên trong cộng đồng làng xã đặt ra để cùng nhau thực hiện. Qua thời gian, các giá trị, lối
sống của dòng họ, thôn xóm được tạo dựng và duy trì qua các thế hệ và từ đó sự tin tưởng lẫn nhau,
12
4. Nguyễn Tuấn Anh (2012), “Quan hệ họ hàng - một nguồn vốn xã hội
trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn”, Tạp chí Nghiên cứu Con
người, 1(58), tr 48-61.
5. Tống Văn Chung (2001), Xã hội học nông thôn, NXB Đại học Quốc Gia
Hà Nội.
6. Trần Văn Chử (2005), Báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ 2004-2005: Phát triển thị trường cho làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng
Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay, Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
7. Phan Đại Doãn (2001), “Làng xã Việt Nam một số vấn đề về kinh tế văn
hóa xã hội”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Phan Đại Doãn (2006), “Làng Việt Nam – cộng đồng đa chức năng liên
kết chặt chẽ, Sách Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt”, NXB ĐH Quốc gia
Hà Nội, tr.7-24.
9. Đại từ điển tiếng Việt (1999), NXB Văn hóa Thông tin, TP Hồ Chí
Minh. 82
10. Tô Duy Hợp (2003), “Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông
Hồng”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
11. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng lý thuyết và
vận dụng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
12. Lê Ngọc Hùng(2001),Sự ra đời và phát triển xã hội học, Xã hội học, tr
41-94, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
13. Lê Ngọc Hùng (2008), “Vốn xã hội, vốn con người, và mạng lưới xã hội
qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu con người, 4 (37), tr
45-54.
14. Lê Ngọc Hùng (2009), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB ĐH Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội.
ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới”, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
27. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn (2012), Từ điển Xã hội học Oxford, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội.
28. Ủy ban nhân dân xã Yên Thường (2012),“Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng năm 2012”
29. Phạm Thái Việt, Đào Ngọc Tuấn (2004), Đại cương về văn hóa Việt Nam,
NXB VHTT, Hà Nội.
30. Lê Hữu Xanh (2001), “Tác động của tâm lý làng xã trong việc xây dựng
đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
Tài liệu Tiếng Anh
31. Fukuyama, Francis (2001), "Social Capital, Civil Society and
Development." Third World Quarterly 22:7-20. 84
32. G. Endruweit và G.Trommsdorff (2002), "Từ điển xã hội học", NXB
thế giới.
33. Coleman, James S
(1988), “
SocialCapital in the Creation of Human
Capital”, TheAmerican Journal of Sociology, 94, pp. S95-S120.
34. Woolcock , Michael (1998), “Social capital and economic development:
Toward a theoretical synthesis and policy framework”, Theory and Society,
27 (2), pp 151-208.
35. Bourdieu, Pierre (1986), “The forms of capital. In handbook of Theory
and Research for Sociology of Education, ed. JG Rechardson, New York:
Greenwood, pp 241-258