Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của hộ nông dân ở xã đa tốn, huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Duy Thăng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài: “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp
đến sinh kế của hộ nông dân ở xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà
Nội ", tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô giáo: Khoa kinh
tế và phát triển nông thôn, bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và thực
hiện khóa luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo cùng với các cán bộ UBND xã
Đa Tốn, Hợp tác xã Nông nghiệp xã Đa Tốn cùng với các nông dân đã tạo
điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suất quá trình diều tra thu thập số liệu tại
địa phương.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Th.s
Nguyễn Thị Thiêm, người đã nhịêt tình chỉ dẫn, định hướng, truyền thụ
kiến thức trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng
nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Duy Thăng

I. MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

cho hộ nông dân tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế, ảnh hưởng
của việc thu hồi đất đến sinh kế hộ nông dân.
Phân tích ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến các nguồn vốn sinh kế,
chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất ở xã
Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Đề một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ
nông dân sau khi thu hồi đất.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Sinh kế là gì? Sinh kế bền vững?
Việc thu hồi đất có những ảnh hưởng như thế nào đến nguồn vốn sinh
kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế của các hộ nông dân?
Cần làm gì để các nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế của các hộ
nông dân được duy trì, phát triển và kết quả sinh kết được cải thiện.
1.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những ảnh hưởng của việc thu hồi
đất nông nghiệp đến nguồn lực sinh kế, chiến lược sinh kế, kết quả sinh kế
của hộ nông dân.
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu nguồn lực sinh kế,
chiến lược sinh kế, kết quả sinh kế của những hộ nông dân sau khi bị thu hồi
đất, phân tích quá trình thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng.
Phạm vi không gian: đề tài được triển khai nghiên cứu tại xã Đa Tốn,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Phạm vi thời gian:
• Số liệu nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013.
• Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến 05/2014.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
II.1. Cơ sở lý luận

dân có được bao gồm vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên, vốn tài chính
và vốn xã hội. Hay nói cách khác sinh kế của một hộ gia đình, một cộng đồng
còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn
tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì. Đồng
thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ
mới. Kết quả sinh kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời
sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được
củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Do đó cần
phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đất đai, vốn, khoa học công nghệ.
Sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland
(1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là
bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc.
Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và tương
lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm
con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản
của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư
nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi có thể chống chịu hoặc hồi
sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai.
Sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là
bền vững khi cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến
động trong cuộc sống do thiên tai dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra.
Phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài
nguyên thiên nhiên.
II.1.1.2. Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến

vụ
-Chấn
động
(trong tự
nhiên và
môi
trường, thị
trường,
chính trị,
chiến
tranh…)
Chính sách,
tiến trình và
cơ cấu
-Ở các cấp
khác nhau của
Chính phủ,
luật pháp,
chính sách
công, các
động lực, các
qui tắc
-Chính
sách và thái độ
đối với khu
vực tư nhân
-Các thiết
chế công dân,
chính trị và
kinh tế (thị

-An ninh
lương thực được
cải thiện.
-Công bằng
xã hội được cải
thiện.
-Tăng tính
bền vững của tài
nguyên thiên
nhiên
-Giá trị
không sử dụng
của tự nhiên
được bảo vệ
loại công cụ hiện có như phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các
phương pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về: Bối cảnh sống của người
dân, trong đó bao gồm những ảnh hưởng của các xu hướng bên ngoài (xu
hướng về kinh tế, xu hướng phát triển dân số).
Khả năng tiếp cận của người dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả
năng sử dụng chúng vào sản xuất.
Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại
hình tài sản sinh kế của người dân.
Các chiến lược mà người dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình.
Khung sinh kế giúp sắp xếp những nhân tố gây cản trở hoặc tăng cường
các cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thức chúng liên quan với nhau
như thế nào? Khung không phải là mô hình chính xác trong thực tế mà chỉ
đưa ra một cách tư duy về sinh kế, nhìn nhận trên góc độ phức hợp và sâu
rộng những vẫn đề trong khuôn khổ có thể quản lý được. Khung sinh kế luôn
đặt trong trạng thái động, không có điểm đầu, điểm cuối. Giá trị của một
khung sinh kế giúp cho người sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệ

nguồn vốn vật thể, nguồn vốn tài chính.
Nguồn vốn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức
khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những
chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai
của họ. Ở mức độ gia đình, nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất
lượng nhân lực có sẵn. Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình
độ, kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ.
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai, được xem là
nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập.
Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người dân ở nông thôn?
Việc hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người,
chính bản thân họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham
gia vào các khoá đào tạo hay trường học. Tiếp cận với các dịch vụ phòng
ngừa dịch bệnh. Trong trường hợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm
trái với lẽ thường (những tiêu chuẩn xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn
cấm phụ nữ tới trường) thì việc hỗ trợ gián tiếp vào việc phát triển vốn con
người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Nguồn vốn xã hội
Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người
vẽ ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm:
Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng
quen) và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động
làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với
các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng.
Là thành viên trong một nhóm ảnh hưởng hoặc kế thừa triệt để các quyết
định chung, các quy tắc được chấp nhận, các tiêu chuẩn và mệnh lệnh. Uy tín của
các mối quan hệ, sự nhân nhượng và sự trao đổi khuyến khích kết hợp, cắt giảm
các chi phí giao dịch và có thể tạo ra một mạng lưới không chính thức xung quanh

thanh khoản, người ta có thể làm theo những cách sinh kế khác.
Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu.
Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không
bị ràng buộc về pháp lý. Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng
ngân hàng, hoặc tài sản thanh khoản khác như vật nuôi, nữ trang Nguồn lực
tài chính có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng.
Dòng tiền đều: Ngoại trừ thu nhập hầu hết loại này là tiền trợ cấp, hoặc
sự chuyển giao. Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này
phải xác thực (trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm
bảo có sự khác nhau giữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên
vào kế hoạch đầu tư).
Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản
Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những
cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng
đồng đó.
Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích. Nếu một người có thể tiếp
cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài
chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực
tiếp mà còn cho thuê.
Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay
đổi liên tục theo thời gian.
Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các
loại tài sản. Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào. Các
điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản. Như vậy, những
ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác
nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó. Điều quan
trọng là một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích. Sơ đồ hình ngũ giác rất
hữu ích cho việc tìm ra điểm nào thích hợp, những tài sản nào sẽ phục vụ cho
nhu cầu của nhóm xã hội khác nhau và cân bằng giữa những tài sản đó như
thế nào.

II.1.2.3. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu
hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
dời đến địa điểm mới. (Chính Phủ, 2004)
II.1.2.4. Người bị thu hồi đất
Người bị thu hồi đất là tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ
gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức
cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi.
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được
bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định tại
Nghị định này. (Chính phủ, 2004)
II.1.3.Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế hộ nông
dân
Thu hồi đất là tất yếu của các quốc gia đang phát triển, việc thu hồi đất
đã có nhiều ảnh hưởng đến người dân cả tích cực lẫn tiêu cực.
II.1.3.1. Ảnh hưởng tích cực
Thu hồi đất nông nghiệp để tiến hành CNH, HĐH kết quả sẽ tạo ra
chuyển dịch cơ cấu theo hướng số lượng công nghiệp thương mại và dịch vụ
tăng, giảm dần tỷ trọng số lượng nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu nhằm làm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất tạo nhiều nguồn thu cho ngân sách địa phương
và trung ương. Đây là mục tiêu vừa là kết quả của CNH, HĐH từ đó nâng cao
hiệu quả sử dụng đất.
Thu hồi đất nông nghiệp để tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá
tạo ra nhiều cơ hội cho nông dân. Việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng
các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, đã tạo ra nhiều việc làm cho
xã hội, trong đó có những người nông dân. Chỉ tính riêng các KCN trong cả
nước trong thời gian qua đã tạo ra 1,2 triệu lao động, nếu tính được lao động
làm việc trực tiếp tại các cụm công nghiệp vừa và nhỏ thì con số này còn lớn
hơn nhiều. Tạo việc làm và thu nhập không chỉ là cuộc sống của bản thân
những người lao động mà còn là niềm vui của cả gia đình họ.

yếu phải xây dựng nơi ở TĐC cho những người nông dân bị thu hồi đất. Việc
người nông dân phải thay đổi chỗ ở từ bỏ mảnh đất đã gắn với họ bao đời nay
để đến nơi ở TĐC đã tác động đến tâm tư tình cảm của người nông dân, đây
là điểm đáng lưu ý trong quá trình tuyên truyền vận động và đưa ra chính sách
đối với người nông dân phải di chuyển vào các khu TĐC.
Việc những người nông dân bị mất chỗ ở phải di chuyển vào khu TĐC
cũng đã làm phá vỡ luỹ tre làng và văn hoá làng xã. Họ được vào ở các khu
chung cư, các nhà liền kề, cơ sở vật chất có thể tốt hơn, nhưng văn hoá truyền
thống nông thôn Việt Nam như là quan hệ làng xóm, anh em, họ hàng không
còn. Điều này vừa là tác động tích cực nên xét ở góc độ làm thay đổi tư duy
tầm nhìn không vượt qua "luỹ tre, cổng làng" của người nông dân Việt Nam,
để tiếp cận tư duy sản xuất công nghiệp, mặt khác "văn hoá làng xã" là cái
đặc thù từ ngàn đời nay của nông thôn Việt Nam, trải qua ngàn năm Bắc
thuộc, đến đô hộ của thực dân Pháp nhưng "văn hoá làng xã" của nông thôn
Việt Nam đã không bị hoà tan, không bị mất đi, nhờ vậy mà khi có sự lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta đã đánh đuổi được đế quốc phong kiến dành được
độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.
Ô nhiễm môi trường, rác thải công nghiệp mà người nông dân phải trực
tiếp gánh chịu. Một trong những hệ quả của thu hồi đất để thực hiện CNH,
HĐH đó là ô nhiễm môi trường rác thải công nghiệp. Rác thải công nghiệp đã
làm ô nhiễm không khí, bụi khói, mùi hôi của các nhà máy công nghiệp, nước
thải công nghiệp chưa được xử lý đúng quy trình, chưa được đầu tư đúng mức
làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của nhân dân nói chung và
nông dân nói riêng. Tình trạng gây nên các con sông chết trở thành phổ biến.
Tiến trình CNH và ĐTH được đẩy tới một cách thiếu cân nhắc thì môi
trường càng bị ô nhiễm, cảnh quan nông thôn càng bị tàn phá khốc liệt.
Cùng với nguồn nước bị ô nhiễm là bầu không khí bị ô nhiễm với bụi
có nhiều độc tố gây hại cho sức khỏe của người nông dân, nhất là người già
và con trẻ. Bụi và độc tố trong không khí mà những người dân quê đang hàng
ngày hít thở gây nguy hiểm không kém gì khói bụi chứa độc tố mà người

đô thị, khu công nghiệp. Khi các khu đô thị, khu công nghiệp được xây dựng
lên, môi trường xung quanh sẽ bị ô nhiễm (đất, không khí, nguồn nước) làm
ảnh hưởng đến những phần đất nông nghiệp vẫn đang được người nông dân
canh tác. Do đó, khi bị thu hồi đất, nguồn vốn tự nhiên thay đổi nhiều gây
không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã.
Khi đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi, diện tích đất mất khá lớn và
người nông dân mất nguồn thu nhập từ đất, nhưng bù vào đó, Nhà nước bồi
thường bằng tiền, hỗ trợ chuyển đổi nghề cũng bằng tiền, số tiền đền bù tương
đối lớn, như vậy nguồn vốn tự nhiên chuyển thành nguồn vốn tài chính. Để
đảm bảo cuộc sống lâu dài người nông dân có thể sử dụng vào mục đích đầu
tư sản xuất tạo nguồn thu nhập hoặc học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp.
Còn nếu người nông dân sử dụng nguồn vốn này để xây dựng nhà cửa, mua
sắm tài sản thì sinh kế của họ về lâu dài sẽ khó khăn.
Sau khi thu hồi đất, người dân bị mất đất sẽ được Nhà nước bồi thường,
họ có một khoản tiền không nhỏ để sắm sửa trang thiết bị, cơ sở vật chất và
tiêu dùng hằng ngày. Từ đó, nguồn vốn vật chất của người nông dân có nhiều
thay đổi, một số hộ nông dân không nhận thức đúng đắn hậu quả của sự thay
đổi này có đến tương lai của chính gia đình mình.
II.1.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thu hồi đất đến chiến lược sinh kế
của hộ nông dân
Khi bị thu hồi đất nông nghiệp, tư liệu sản xuất chính của người nông
dân bị mất, kéo theo các nguồn vốn sinh kế của họ thay đổi. Vì vậy, người
nông dân cần có chiến lược sinh kế mới để thích nghi với những thay đổi đó.
II.1.4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thu hồi đất đến kết quả sinh kế của
hộ nông dân
Sau khi bị thu hồi đất, các nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế của
người nông dân thay đổi, dẫn đến kết quả sinh kế của họ cũng thay đổi theo.
Cơ cấu thu nhập của những hộ bị mất đất có nhiều thay đổi, thu nhập chính sẽ
không phải từ sản xuất nông nghiệp nữa, mà có thể thay vào đó là từ các
ngành nghề khác. Cuộc sống sẽ được cải thiện nhờ vào số tiền được đền bù và

Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
(vấn đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc. Những chính
sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng. Trong đó
đặc biệt chú trọng việc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo
bằng việc mở mang các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách
vốn, tín dụng
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho
người dân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài
học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng
hóa ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất,
mở mang hoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát
triển kinh tế và làm đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu
hút nhiều lao động vào các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất
trong nước. Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn. Từ đó
sinh kế của người dân cũng được cải thiện hơn.
Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn
chế sinh kế của người dân nông thôn.
(Tạp chí Cộng sản số 11 (179) năm 2009 Th.S. Nguyễn Thị Dung)
II.2.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển
kinh tế của Việt Nam. Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước
nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc. Nông dân Hàn Quốc
cũng là người Châu Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti.
Trước năm 1970, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta
vào năm 1991, 1992, khoảng 300 – 350 USD/người/năm.
Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải
cách ruộng đất. Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3 ha để bán lại cho nông
hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát

làm tiếp cấp kia.
II.2.1.3. Kinh nghiệm từ Thái Lan
Trong vòng hơn 3 thập kỷ qua, Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
khá cao. Ngành nông nghiệp phát triển mạnh và tỷ trọng trong nền kinh tế đã
giảm xuống. Giai đoạn 1965-1995, mặc dù sản lượng nông nghiệp tăng gấp
ba lần song đóng góp của nông nghiệp trong GDP giảm từ 35% xuống 10,9%,
ngành nông nghiệp hiện thu hút hơn 50% lao động xã hội.
Thái Lan có nhiều mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh mạnh
trên thị trường thế giới. Hàng năm, Thái Lan xuất khẩu khoảng 14 tỷ USD
hàng nông sản. Các mặt hàng xuất khẩu chính là tôm 1,97 tỷ USD/năm, cao
su 1,67 tỷ USD/năm, gạo 1,57 tỷ USD/năm, bột sắn 0,75 tỷ USD/năm và
đường 0,69 tỷ USD/năm.
Năm 1994, ngành trồng trọt đóng góp 55% trong GDP nông nghiệp,
tiếp theo là thủy sản 16,5%, chăn nuôi 10,1%. Mặc dù gạo vẫn là mặt hàng
nông sản quan trọng nhất, chiếm hơn 50% tổng diện tích đất nông nghiệp,
song vai trò đã giảm. Trong những năm qua Thái Lan đã đẩy mạnh đa dạng
hóa nông nghiệp, tập trung phát triển chăn nuôi gia cầm, rau quả, nuôi trồng
thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi tôm nước ngọt.
Để có được những thành quả đó Thái Lan đã thực hiện chính sách sau:
Chính sách đầu tư khoa học
Năng lực nghiên cứu và trình độ các nhà khoa học của Thái Lan còn
thấp so với các nước công nghiệp Châu á khác như Hàn Quốc, Đài Loan và
Singapore. Tuy nhiên, đến cuối những năm 70, chính phủ Thái Lan quyết
định tăng cường đầu tư vào khoa học và công nghệ, nâng cao năng suất để
phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Năm 1979, Thái Lan thành lập Bộ Khoa
học, Công nghệ và Năng lượng để thực hiện chiến lược phát triển khoa học.

Trích đoạn Chi cho học tập 7 Mua sắm đồ dùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status