Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRƯƠNG THỊ NGA VỐN XÃ HỘI QUA SỰ CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG
Ở VEN ĐÔ HÀ NỘI
(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SĨ: XÃ HỘI HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội - 2013

1
MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
2.1 Ý nghĩa khoa học 7
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 7
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
4.1 Đối tượng nghiên cứu 14
4.2 Khách thể nghiên cứu 14
4.3 Phạm vi nghiên cứu 14
5. Mục tiêu nghiên cứu 15
6. Câu hỏi nghiên cứu 15
7. Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích 15

CHƢƠNG 2: CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG QUA VIỆC TẠO DỰNG 32
VỐN XÃ HỘI 32
2.1 Tạo dựng vốn xã hội qua việc thờ cúng tổ tiên 33
2.2 Tạo dựng vốn xã hội thông qua việc cƣới, việc tang 36
2.3 Tạo dựng vốn xã hội thông qua hoạt động tham gia lễ hội làng 45
CHƢƠNG 3: VẬN DỤNG VỐN XÃ HỘI – HỆ QUẢ TÍCH CỰC CỦA
CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG 51
3.1 Vốn xã hội trong sản xuất nông nghiệp 52
3.2 Vốn xã hội trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp 61
3.3 Vốn xã hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán 70
PHẦN 3: KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI KHẢO SÁT 86
PHỤ LỤC 2: BẢN GHI PHỎNG VẤN SÂU 104 3
MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1.1: Tổ chức ngày giỗ trong gia đình, dòng họ 34
Bảng 2.2.1: Sự giúp đỡ nhau trong việc cƣới của ngƣời dân Yên Thƣờng
(Đơn vị: %) 37
Bảng 2.2.2: Sự giúp đỡ nhau trong việc tang của ngƣời dân Yên Thƣờng
(Đơn vị: %) 40
Bảng 2.3.1: Nhận định của các gia đình về ý nghĩa của lễ hội làng 48
Bảng 3.1.1: Hình thức thuê mƣợn ruộng và đổi công trong nông nghiệp
(Đơn vị: %) 53
Bảng 3.2.1: Các quan hệ và hình thức hợp tác trong phát triển tiểu thủ
công nghiệp (Đơn vị: %) 64
Bảng 3.3.1 Mối quan hệ và hình thức hợp tác trong kinh doanh, buôn


5
PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ ngàn đời xưa, trong phạm vi một làng, cuộc sống lao động gian khổ
đã tạo ra truyền thống đoàn kết, hợp tác, liên kết lại với nhau để đấu tranh với
những khó khăn, thách thức, cùng nhau giải quyết các công việc của cộng
đồng. Chính điều này đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, giữa
con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của người
Việt. Do vậy, tính cộng đồng được thể hiện qua quan hệ dòng họ, quan hệ hàng
xóm láng giềng, thể hiện qua việc tuân thủ và giữ gìn các phong tục tập quán
biểu hiện trong việc thờ cúng tổ tiên, tổ chức lễ hội làng. Tính cộng đồng bền
chặt có ở con người Việt Nam từ xưa và đến nay nó càng được thể hiện rõ
thông qua việc tham gia vào những hoạt động chung mang tính tập thể và sự
hợp tác, giúp đỡ trong lao động sản xuất.
Quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh ở Việt Nam nói chung và ở Hà
Nội nói riêng trong những năm gần đây đã dẫn đến việc thu hồi một diện tích

hoạt động lễ hội tại địa bàn cư trú, người dân ven đô có thể học hỏi và giúp đỡ
nhau trong sản xuất nông nghiệp, phát triển cây trồng vật nuôi, sản xuất tiểu
thủ công nghiệp cũng như kinh doanh buôn bán và dịch vụ. Người dân ven đô
đã biết cách khai thác nguồn vốn xã hội của mình trong cộng đồng để tìm
kiếm lợi ích kinh tế hay nói cách khác sự cố kết cộng đồng đã mang lại hệ quả
tích cực cho người dân ven đô trong hoạt động kinh tế.
Phát triển vốn xã hội là một trong những nền tảng cơ bản cho sự phát
triển đất nước trong cái nhìn toàn cảnh nói chung. Gần đây ở Việt Nam, đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vốn xã hội, phân tích vai trò và tác động của
chúng đối với biến đổi kinh tế xã hội, gợi ý những giải pháp để khai thác có
hiệu quả nguồn vốn này cho phát triển. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ
đề cập đến nguồn vốn xã hội nói chung, còn thiếu những nghiên cứu về vốn
xã hội ứng dụng ở những cấp độ khác nhau trong cơ cấu xã hội và chưa bàn
đến vấn đề liên kết, cố kết cộng đồng từ góc nhìn vốn xã hội. Vì vậy nghiên

7
cứu “Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội” là thực sự cần
thiết, nhất là đối với người dân ven đô ở Hà Nội dưới tác động của quá trình
đô thị hóa để phát huy và khai thác có hiệu quả nguồn vốn này trong các quan
hệ cộng đồng, phát triển kinh tế hộ và nâng cao đời sống.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã vận dụng hệ thống lý thuyết về vốn xã hội qua cách tiếp
cận xã hội học, lý thuyết cấu trúc chức năng, thuyết tương tác biểu trưng,
cùng các khái niệm để tìm hiểu các biểu hiện của vốn xã hội, của tính cố kết
cộng đồng ở một làng ven đô. Từ góc nhìn vốn xã hội, nghiên cứu tìm hiểu
cách thức người dân ven đô tạo ra sự cố kết cộng đồng và vận dụng cố kết
cộng đồng để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động kinh tế.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là những dữ liệu quan trọng làm cơ sở

Tương tự như nghiên cứu trên, trong nghiên cứu “Quan hệ họ hàng với
việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một
làng Bắc Trung Bộ”[24] các tác giả đã lấy những dẫn chứng rất cụ thể về việc
sử dụng vốn xã hội thông qua quan hệ họ hàng trong việc đổi ruộng, thuê,
mượn ruộng. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã chỉ ra rằng người nông dân
đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội của mình - với biểu hiện cụ thể là tinh
thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng
- đã tiến hành đổi ruộng đất cho nhau, nhận chung ruộng cùng nhau khi dồn
điền đổi thửa, hay thuê - mượn ruộng của nhau sau dồn điển đổi thửa để tiện
canh tác. Từ những ví dụ rất cụ thể tác giả đi đến kết luận: sự liên kết các mối
quan hệ họ hàng, nhất là họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm về thực chất là
người nông dân đã khai thác rất hiệu quả nguồn vốn xã hội tiềm ẩn của mình.

9
Nhờ khai thác vốn xã hội mà những người đứng ở vị trí trung tâm trong mối
quan hệ và cả những người có liên quan đến việc thuê mượn đất đó đều được
hưởng lợi. Nguồn vốn xã hội này vốn có một cơ sở vững chắc, là tinh thần
trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng thân
thích, thứ quan hệ - mà theo dân gian thường nói là “một giọt máu đào hơn ao
nước lã”. Nhờ có quan hệ này mà sự liên kết đã diễn ra dễ dàng, quá trình liên
kết không chỉ bền vững mà còn hiệu quả [24, tr. 14].
Cũng trong một bài viết khác “Quan hệ họ hàng – một nguồn vốn xã
hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn”, tác giả Nguyễn Tuấn Anh
(2012) đã cho thấy sự cố kết trong mối quan hệ họ hàng đã tạo ra nguồn vốn
xã hội được người dân sử dụng để tìm kiếm lợi ích. Người dân đã vận dụng
nguồn vốn xã hội thông qua mạng lưới họ hàng để hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau
trong sản xuất, một sự hỗ trợ mang tính chất có đi có lại. Bởi kinh tế hộ gia
đình là dựa trên việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của lao động gia đình. Điều
này tất yếu đòi hỏi sự liên kết giữa các hộ gia đình trong quá trình sản xuất để
huy động vốn, chuyển giao kỹ thuật, công cụ sản xuất, tổ chức lao động, và

Vốn xã hội không phải chỉ đơn thuần là sự tổng hợp những khối lượng
vật chất của xã hội mà là chất keo làm dính chặt những khối lượng tài sản xã
hội này lại với nhau. Vốn xã hội chính là con người, trong khi con người lại
chính là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội hiện hữu và phát triển trong một
hoàn cảnh kinh tế, một bối cảnh lịch sử, một truyền thống văn hóa cụ thể nào
đó. Vì vậy việc áp dụng vốn xã hội vào thực tế cuộc sống là rất cần thiết. Nó
giúp cho con người đoàn kết với nhau hơn, giàu tinh thần hợp tác và chia sẻ,
có tay nghề vững vàng trong lĩnh vực chuyên môn, phong cách xử sự hợp tác
làm ăn nghiêm túc, đáng tin cậy. Đây là những biểu hiện tích cực của sự cố
kết cộng đồng trong làng xã.Tính cộng đồng là một vấn đề từ lâu đã được

11
nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn khác nhau như tâm lý,
văn hóa, lịch sử, nông thôn. Bàn về sự cố kết cộng đồng ở nông thôn Việt
Nam không thể không kể đến một số tác giả như Vũ Hào Quang, Nguyễn Đức
Truyến, Phan Đại Doãn,…
Trong bài viết dự hội thảo của tác giả Vũ Hào Quang với tựa đề “Tác
động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay” tác
giả đã nhấn mạnh rằng quá trình đô thị hóa với tư cách là một trong những
nhân tố rất quan trọng tạo ra các quan hệ xã hội mới, tính cố kết cộng đồng
mới ở nông thôn. Tính cố kết cộng đồng dựa trên mặt lợi ích đã chi phối
mạnh cách ứng xử của người nông dân.Người nông dân thuần nông đã tận
dụng các quan hệ tình cảm làng xóm để xin việc làm thêm vào những ngày
nông nhàn, hay di cư đi nơi khác để tìm việc. Nhờ đó mà mối quan hệ xã hội
mới được thiết lập dựa trên các quan hệ truyền thống như: quan hệ đồng
hương, quan hệ họ hàng, quan hệ bạn hàng hay bạn nghề [16, tr. 355]. Tính cố
kết cộng đồng theo tác giả cũng được biểu hiện thông qua quá trình áp dụng
kỹ thuật vào sản xuất. Trong quá trình sản xuất ở nông thôn hiện nay, nền
kinh tế nửa thị trường nửa tự cung tự cấp dẫn tới một loại quan hệ hay cố kết
“kinh tế dựa trên quan hệ tình cảm cộng đồng làng xóm” [16, tr. 357].Tính cố

hàng, làng xóm với sự quan tâm, chia sẻ giúp đỡ nhau mỗi khi có chuyện
buồn, vui, công to việc lớn trong dòng họ hay trong thôn, xóm đã làm cho tình
cảm của người dân ngày càng bền chặt.
Giáo sư Phan Đại Doãn có bài viết: “Làng Việt Nam – cộng đồng đa
chức năng liên kết chặt chẽ” đã cho thấy sự cố kết cộng đồng chặt chẽ trong
phạm vi họ hàng, làng xã. Theo tác giả sự cố kết dòng họ đã hỗ trợ cho nền
kinh tế tiểu nông khá tốt, giúp nền kinh tế tiểu nông khắc phục được nhiều trở
ngại, khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt [8, tr. 10]. Ở làng xã, việc hình

13
thành các phường hội nghề nghiệp không chỉ làm tăng sự kết hợp về nghề
nghiệp và cư dân mà còn làm tăng sự kết hợp các tổ chức và quan hệ xã hội.
Chính trong làng cổ truyền Việt Nam, sự đan xen giữa các ngành nghề, sự
xuất hiện các tổ chức phường, hội nghề nghiệp, duy trì các quan hệ họ hàng,
làng xóm đã tạo nên sự vững mạnh, bền chặt của làng [8, tr. 14]. Mỗi cá nhân
sống trong làng không phải là cá nhân đơn lẻ mà là thành viên của cộng đồng
làng. Do vậy mà sự cố kết cộng đồng trong làng thường rất cao. Như vậy, qua
bài viết, tác giả muốn nhấn mạnh đến sự đoàn kết, sức mạnh của làng Việt
Nam truyền thống được thể hiện trong tổ chức dòng họ, hội, phường nghề
nghiệp.Việc tham gia vào các tổ chức này người dân sẽ giúp đỡ nhau, góp
phần giảm bớt những khó khăn trong sản xuất và đời sống. Từ sự hợp tác,
giúp đỡ này, con người càng hiểu nhau hơn, đoàn kết, gắn bó với nhau hơn và
do đó sự liên kết trong làng xã càng cao hơn.
Cũng bàn về tính cộng đồng trong việc xây dựng đời sống kinh tế ở
nông thôn, tác giả Lê Hữu Xanh (2001) qua cuốn sách “Tác động của tâm lý
làng xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn đồng bằng
Bắc Bộ nước ta hiện nay” đã đề cập đến mặt tích cực và tiêu cực của tâm lý
cộng đồng làng xã đến đến đời sống kinh tế xã hội của người dân. Bàn về mặt
tích cực của tâm lý cộng đồng, tác giả nêu bật được tính cộng đồng, tâm lý
cộng đồng trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm để cùng hỗ trợ, giúp đỡ

Nội.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Vốn xã hội qua cố kết cộng đồng trong
hai lĩnh vực: đời sống văn hóa tín ngưỡng và hoạt động kinh tế.

15
5. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích việc tạo nên cố kết cộng đồng trong sinh hoạt văn hóa tín
ngưỡng từ góc nhìn vốn xã hội.
- Phân tích hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế
từ góc nhìn vốn xã hội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Cố kết cộng đồng biểu hiện cụ thể qua vốn xã hội được tạo ra như thế
nào qua việc thờ cúng tổ tiên, việc cưới, việc tang?
- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được thể hiện như thế nào qua
việc người dân ven đô vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt
động kinh tế?
7. Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Thông qua việc cưới, việc tang, việc thờ cúng tổ tiên, người dân ven
đô đã tạo ra sự cố kết cộng đồng được biểu hiện cụ thể qua các thành tố của
vốn xã hội bao gồm mạng lưới xã hội, quan hệ có đi có lại, và sự tin cậy giữa
những người sống trong cùng cộng đồng.
- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được biểu hiện qua việc người
dân ven đô dựa vào các thành tố của vốn xã hội như mạng lưới xã hội, sự có
đi có lại, và lòng tin để tìm kiếm lợi ích trong đời sống kinh tế trong các lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ.

Ma chay
Lễ hội làng
Cố kết cộng đồng - Vốn xã hội
Lòng tin
Sự có đi có
lại
Mạng lưới
xã hội
Lợi ích kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu
thủ công nghiệp, kinh doanh, buôn bán
Thờ cúng tổ
tiên
Bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội ở Yên Thường

17
tạp chí, mạng internet về vốn xã hội, về tính cố kết cộng đồng trong làng xã
của người Việt Nam. Phân tích báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội qua các năm của xã Yên Thường là một nguồn tư liệu quan
trọng của đề tài nghiên cứu để thu thập những số liệu thống kê kinh tế xã hội
góp phần xây dựng lên bức tranh chung của địa bàn nghiên cứu. Đặc biệt, đề
tài được thực hiện dựa trên việc phân tích cơ sở dữ liệu của đề tài: “Toàn cầu
hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc” được quỹ Phát triển Khoa học và
Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ do PGS.TS Mai Văn Hai làm chủ
nhiệm đề tài với 300 người dân đại diện cho 300 hộ gia đình tại xã Yên
Thường huyện Gia Lâm. Cơ cấu mẫu nghiên cứu được chọn như sau:
* Theo trình độ học vấn
Tiểu học: 14.3%; THCS: 51.3%; THPT: 23.3%: CĐ, ĐH: 9.3%; Trình
độ khác: 1.7%
* Theo giới tính
Nam : 48%; Nữ : 52%

khai thác nguồn vốn xã hội thông qua sự tin tưởng, sự có đi lại trong mạng
lưới xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản
xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán, dịch vụ. 19
PHẦN 2. NỘI DUNGNGHIÊN CỨU

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Thao tác hóa khái niệm
1.1.1 Cộng đồng và tính cố kết cộng đồng
Khái niệm cộng đồng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học như: Tâm lý học xã hội, xã hội học, văn hóa học, lịch sử
học,… Cho đến nay có nhiều định nghĩa về Cộng đồng:
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Cộng đồng là tập hợp những người có
những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội” [9, tr. 461].
Theo Từ điển Xã hội học Oxford: “Khái niệm cộng đồng đề cập đến
một tập hợp những mối quan hệ xã hội được thiết lập một cách đặc thù dựa
trên những cái mà thành viên cùng có chung - thường là một cảm quan chung
về bản sắc” [27, tr. 114].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cộng đồng xã hội là một tập đoàn
người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành
phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những

nghĩa này, mỗi người trong cộng đồng đều hướng tới những người khác. Đó
chính là một biểu hiện dẫn đến sự liên kết ở cấp độ làng.
Còn hai tác giả Đỗ Long, Trần Hiệp cho rằng: “Tính cộng đồng là một
đặc trưng tâm lý xã hội của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự
thống nhất của các thành viên trong hành động làm cho các quan hệ qua lại của
hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” [15, tr. 47].
Ở đây tác giả luận văn quan niệm tính cộng đồng là sự đoàn kết, liên kết,
hợp tác, giúp đỡ nhau giữa các thành viên trong cộng đồng. Các thành viên trong
cộng đồng khi hành động đều hướng tới người khác và có sự thống nhất giữa các 21
thành viên để hướng tới những mục đích chung. Do vậy tính cộng đồng cũng
chính là cố kết cộng đồng.
1.1.2 Quan hệ xã hội
“Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động.
Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, lập
lại,…” [18, tr. 158].
Quan hệ xã hội được chia thành hai cấp độ: cấp độ vi mô và vĩ mô: Ở cấp
độ vĩ mô, quan hệ xã hội còn được thể hiện dưới dạng quan hệ giữa các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Ở cấp độ vi mô: chủ thể hành động là cá nhân và
xã hội [18, tr. 158].
Theo Beziehungen “Quan hệ xã hội được hiểu là tương tác và cấu trúc
ảnh hưởng tồn tại giữa người với người hay giữa người và nhóm. Về nguyên
tắc, quan hệ này được phân biệt theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), nội dung
(tính hấp dẫn, hung bạo, vị tha, phân chia quyền lực), hậu quả (tối thiểu, tối
đa), cường độ (phạm vi lớn, nhỏ), mức độ cam kết (tự nguyện, không tự
nguyện) và số người liên quan (hai hay nhiều hơn)” [32, tr. 396].
1.1.3 Mạng lưới xã hội
Theo từ điển Xã hội học Oxford [27, tr. 355] “thuật ngữ mạng lưới (xã

“Đoàn kết hữu cơ là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự phong phú, đa dạng
của các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã
hội” [13, tr. 78].
1.1.5 Chuẩn mực
“Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc
của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng cho
hướng cơ bản đối với các hành vi của thành viên trong xã hội. Những mong đợi,
những yêu cầu, những quy tắc xã hội đó xác định rõ cho mọi người những việc 23
nào nên làm và những việc nào không nên làm và cần phải xử sự như thế nào
cho đúng trong các tình huống xã hội khác nhau” [17, tr. 251].
1.1.6 Lễ cúng giỗ
Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất
của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.
Theo tập quán từ ngàn đời nay, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm
trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí
người đã khuất mà cúng giỗ. Vào ngày giỗ là dịp người thân trong gia đình,
trong chi họ, dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất. Vào dịp đó
người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, cũng là để cho cuộc
họp mặt thêm đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sinh hoạt, kể chuyện tâm
tình, chuyện làm ăn. Trong ngày giỗ, chi phí không dồn lên đầu một ai vì
ngoài phần do hương hoả mà có, mỗi người tham gia giỗ đều đóng góp bằng
tiền mặt hoặc hiện vật, nên mới có từ “góp giỗ”[40].
1.1.7 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu, trên cơ sở niềm tin về
sự bất tử của linh hồn sau khi con người đã chết; tin rằng con người ta chết đi
về thǎm nom, phù hộ cho con cháu. Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy,
chỉ cần một nén nhang lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, ngày Tết, hay ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status