LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận “
Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của hộ nông dân trên địa bàn xã
Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ” là trung thực và chưa được sử
dụng trong bất kì tài liệu, khóa luận nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Sinh viên
Nguyến Thị Tuyết Mai
i
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội, đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy giáo, cô
giáo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nôi, các thầy cô giáo trong khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn, đặc biệt là Thầy giáo Th.S. Trần Mạnh Hải, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các ông bà trong các phòng ban HĐND- UBND huyện Gia
Lâm, HĐND- UBND xã Văn Đức, và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực tập, thu thập số liệu và hoàn thiện khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những người thân
đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong toàn
quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trình độ, năng lực bản thân còn hạn
chế nên trong báo cáo của tôi chắc chắn không tránh khỏi sai sót, kính mong
các thầy giáo, cô giáo, các bạn sinh viên góp ý để khóa luận được hoàn thiện
hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2014
iii
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: phương pháp chọn điểm nghiên cứu,
phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp
chuyên gia, chuyên khảo, kết hợp các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu.
Kết quả được thể hiện qua các nội dung sau:
- Tình hình sản xuất RAT trên địa bàn xã trong 3 năm gần đây (từ năm
2011 đến 2013): do là vùng sản xuất RAT trọng điểm của khu vực miền Bắc
nên những năm qua diện tích sản xuất ổn định, mức sản lượng và năng suất
bình quân tương đối cao mặc dù có sự biến động do ảnh hưởng của nhiều yếu
tố như thời tiết, sâu bệnh, thị trường, vật chất
- Hệ thống tổ chức quản lý sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã theo
một tổ chức nhất định từ UBND thành phố Hà Nội đến UBND huyện Gia
Lâm rồi đến UBND xã Văn Đức, hầu hết các hộ nông dân trên địa bàn xã đều
sản xuất đúng theo quy trình sản xuất rau an toàn. Tuy có nhiều dạng quản lý
khác nhau, nhưng hiện nay ở xã Văn Đức tồn tại hai hình thức tổ chức sản
xuất. Các hộ nông dân tiêu thụ rau an toàn theo hình thức bán buôn là chính,
các hộ thu hoạch rau và bán tại ruộng cho các thương lái bán buôn và người
thu gom.
- Qua điều tra thực tế, chi phí sản xuất rau an toàn nói chung cao hơn
rau thường. Những chênh lệch giá bán rau an toàn và rau thường là chưa vượt
trội. Vì thế mà hiệu qủa an toàn có cao hơn nhưng cần phải phát huy hơn nữa.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của
các hộ nông dân như quy hoạch về mặt bằng, chính sách hỗ trợ của thành phố,
huyện, các yếu tố về thị trường, trình độ kĩ thuật và đặc biệt là nguồn vốn đầu
tư cho sản xuất.
Từ tổng kết lý luận, thực tiễn và phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ
rau an toàn của các hộ nông dân, chúng tôi đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ RAT của hộ nông dân trên
iv
trình độ kĩ thuật và đặc biệt là nguồn vốn đầu tư cho sản xuất iv
a, Khái niệm về hộ 14
b, Khái niệm hộ nông dân 14
c, Khái niệm về kinh tế nông hộ 15
d, Những đặc trưng cơ bản của kinh tế nông hộ 15
Từ tổng kết lý luận, thực tiễn và phân tích thực trạng hành vi ứng xử của hộ nông dân đối
với rủi ro trong sản xuất RAT thực tế ở địa phương, đề tài đã đưa ra đề xuất định hướng và
một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng ứng xử cho nông hộ một cách có hiệu quả
bằng các giải pháp về đào tạo, tập huấn để tạo nên sự chuyển biến từ trong nhận thức đến
hành động cũng như những giải pháp hỗ trợ từ Nhà nước, cơ quan chức năng về tuyên
truyền, phổ biến thông tin, đầu tư cơ sở vật chất… Xây dựng mô hình mẫu về liên kết dọc
giữa doanh nghiệp làm ăn, trung gian phân phối, người sản xuất và kênh bán lẻ. Đặc biệt là
ổn định thị trường giảm sự bấp bênh về giá, nhằm hạn chế rủi ro lớn nhất mà các hộ sản
xuất RAT nơi đây đang gặp phải. (Võ Thị Quỳnh, 2013) 29
3.1.1.1 Vị trí địa lý 30
3.1.1.2 Địa hình, thời tiết khí hậu 30
3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động 33
3.1.2.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng của xã 35
3.2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 41
3.2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 41
Biểu đồ 4.1: : Biến động diện tích sản xuất rau và diện tích đất trồng RAT của HTX
Văn Đức từ năm 2009 đến năm 2013 48
Sơ đồ: 4.1. Hệ thống tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp 52
Đơn vị: hộ 67
Sơ đồ 4.2: Hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm RAT xã Văn Đức 69
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng RAT 79
- Tuyên truyền, xúc tiến thương mại thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ RAT. 79
vi
- Xây dựng và phát triển các hợp tác xã, các hiệp hội sản xuất, tiêu thụ RAT 79
Sơ đồ 4.3: Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách phát triển RAT 79
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã 48
Bảng 4.3 Các chi phí đầu tư cho sản xuất rau tính trên 1 sào Bắc Bộ của các nhóm hộ điều
tra năm 2013 57
Bảng 4.4 Chi phí đầu tư đất đai cho sản xuất rau tính trên 1 sào Bắc Bộ của các nhóm hộ
điều tra năm 2013 59
Bảng 4.5 : Cơ sở vật chất kĩ thuật của các hộ điều tra năm 2013 61
Bảng 4.6 Chi phí đầu tư lao động cho sản xuất rau tính trên 1 sào Bắc Bộ của các nhóm hộ
điều tra năm 2013 64
Bảng 4.7 Chi phí sản xuất một số loại rau cơ bản của các nhóm hộ điều tra năm 2013 65
Bảng 4.8 Tình hình tín dụng của các nhóm hộ sản xuất rau điều tra năm 2013 67
Bảng 4.9: Mức biến động giá bán một số loại RAT của xã qua 3 năm gần đây từ năm 2011-
2013 72
Đơn vị: 1000 đồng 72
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh tế 1 sào rau BB của các nhóm hộ nông dân
năm 2014 74
Bảng 4.11 Kinh nghiệm trồng rau và trình độ văn hóa của các nhóm hộ nông dân điều tra.
83
Bảng 4.12 : Kết quả, hiệu quả kinh tế cây rau của các hộ phân theo trình độ học vấn của
chủ hộ 85
Bảng 4.13 Nguồn thông tin chính cung cấp giá bán RAT cho hộ nông dân 88
Bảng 4.14: Kết quả và hiệu quả của các nhóm hộ điều tra phân theo hạng đất đối với 1 sào
rau BB 90
Bảng 4.15: Chi phí đầu tư cho sản xuất 1 sào BB bắp cải của các nhóm hộ điều tra năm
2013 91
viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: : Biến động diện tích sản xuất rau và diện tích đất trồng RAT của HTX Văn
Đức từ năm 2009 đến năm 2013 48
Sơ đồ: 4.1. Hệ thống tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp 52
Sơ đồ 4.2: Hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm RAT xã Văn Đức 69
PTNT: Phát triển nông thôn
RAT: Rau an toàn
S: Điểm mạnh
SL: Số lượng
SX: Sản xuất
SXKD: Sản xuất kinh doanh
T: Thách thức
TC: Tổng chi phí
TBKT: Tiến bộ kĩ thuật
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP: Thành phố
UBND: Ủy ban nhân dân
VA: Giá trị gia tăng
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
W: Điểm yếu
xi
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh đã, đang và sẽ luôn là thực phẩm thiết yếu hàng ngày với mỗi
người dân Việt Nam. Cùng với sự tăng lên chất lượng cuộc sống, mức sống
của người dân thì nhu cầu về các sản phẩm an toàn, đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm, đặc biệt là rau xanh càng phong phú, đa dạng và khắt khe hơn.
Rau an toàn không chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người mà
còn đảm bảo một xã hội với những cá nhân phát triển khỏe mạnh. Do đó, thị
trường tiêu thụ và khu vực sản xuất rau an toàn ngày càng được mở rộng trên
phạm vi toàn quốc cũng như đối với mỗi địa phương.
Sản xuất rau xanh phát triển mạnh và trở thành hàng hóa đối với những
vùng ngoại ô của các thành phố lớn. Các thành phố lớn là nơi tập trung đông
dân cư, một lượng lớn thực phẩm được tiêu thụ tại các thành phố. Hà Nội là
một trong những thành phố tiêu thụ rau mạnh nhất cả nước, trên địa bàn cũng
người dân nơi đây thì xã Văn Đức đã trở thành một vùng sản xuất rau an toàn
lớn nhất trên địa bàn TP Hà Nội, tuy sản xuất rau an toàn lớn nhất TP Hà Nội
nhưng khâu tiêu thụ còn nhiều bất cập, nhiều hộ gia đình phải tự tìm đầu ra
cho mình, và do nhận thức của nhiều hộ nông dân chưa cao nên vùng rau an
toàn chưa thực sự an toàn, việc tiêu thụ rau an toàn và các loại rau thường
chưa có sự khác biệt rõ rệt nên ảnh hưởng tới giá bán rau an toàn. Vậy thực tế
tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở xã Văn Đức, huyện Gia Lâm,
Thành phố Hà Nội hiện nay đang diễn ra thế nào, theo các kênh nào là chủ
yếu? Những thuận lợi, khó khăn, khả năng phát triển rau an toàn của địa
phương thời gian tới theo hướng như thế nào? Cần làm gì để đẩy mạnh phát
triển rau an toàn ở địa phương trong những năm tới để đáp ứng được những
nhu cầu ngày càng tăng của thị trường?
2
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “
Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của hộ nông dân trên địa bàn
xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của hộ nông dân
trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội trong những
năm qua, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn của hộ nông dân trên địa bàn xã, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của hộ nông
dân trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ
rau an toàn của hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn xã
Văn Đức thời gian qua.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố như lao động, đất đai, máy
móc, vốn, nguyên vật liệu, trình độ quản lý Các yếu tố này tác động qua
lại lẫn nhau.
Đầu ra là kết quả của quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như
lương thực, thực phẩm, rau xanh, hoa quả nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản
của con người.
Mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra được thể hiện ở hàm sản xuất
Hàm sản xuất được mô tả như một quan hệ kỹ thuật nhằm chuyển đổi các
yếu tố đầu vào như nguyên liệu đầu vào để sản xuất thành một sản phẩm cụ
thể nào đó. Hay nói cách khác, hàm sản xuất được định nghĩa thông qua
việc tối đa mức đầu ra có thể được sản xuất bằng cách kết hợp các yếu tố
đầu vào nhất định.
Y= f(x
1,
x
2
x
n
)
Trong đó:
- y là mức sản lượng đầu ra
- x
1
, x
2
, , x
n
: các yếu tố đầu vào sản xuất (Các yếu tố đầu vào bao gồm
đất đai, lao động máy móc, vốn, nguyên vật liệu
Giá trị của x thì lớn hơn hoặc bằng 0 và nó tạo thành giới hạn phụ
nghiệm lâu năm, nhưng họ lại chỉ có được cái nhìn trước mắt mà không tính
đến những lợi ích lâu dài. Vì vậy, nếu khâu tiêu thụ được đảm bảo ổn định thì
6
trước mắt người nông dân sẽ tham gia trồng RAT với tinh thần hăng say và ý
thức cao.
Quá trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ và đến với người tiêu dùng
sẽ hình thành nên các kênh phân phối. Kênh phân phối sản phẩm: là tập hợp
những cá nhân hay sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham
gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất
tới người tiêu dùng. Các loại kênh phân phối:
Kênh tiêu thụ trực tiếp: đây là kênh tiêu thụ sản phẩm bằng cách người
sản xuất trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, không qua trung gian.
Kênh tiêu thụ gián tiếp: là kênh người sản xuất bán sản phẩm của mình
cho người tiêu dùng qua một hay một số trung gian như người bán buôn,
người bán lẻ hay các đại lý. Tùy theo mức độ của 1 hay nhiều trung gian mà
ta có các kênh tiêu thụ: kênh cấp 1, kênh cấp 2, kênh cấp 3.
2.1.1.3 Khái niệm về rau an toàn
* Theo quyết định số 04/2007/QĐ-BNN ngày 19/01/2007 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT Trong chương trình phát triển rau an toàn, Bộ NN & PTNT
đã thống nhất đưa ra khái niệm về rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá,
hoa quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá
chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho
phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường… thì được coi là
rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn".
Tuy nhiên theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổ chức lương thực thế giới
FAO thì:
RAT là các sản phẩm không chứa hàm lượng độc tố nitrat (NO
3
), kim
Su lơ 500 Xà lách 1500
( Nguồn: FAO, 1993)
Hiện nay vấn đề rau bị ô nhiễm, bị nhiễm khuẩn, hàm lượng kim loại
nặng trong rau vượt quá mức cho phép…đang được các cấp chính quyền và
người dân quan tâm. Làm thế nào để sản xuất rau đúng với những tiêu chuẩn
cho phép mà giá thành sản xuất lại không cao?
* Theo quan điểm số đông của các nhà nông học
Rau hữu cơ là rau được canh tác bằng phương pháp canh tác hữu cơ,
cùng với sự kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Thực ra
8
rau hữu cơ về mẫu mã và chủng loại cũng không có gì khác so với rau an
toàn và rau thông thường.
Tuy nhiên nói đến rau hữu cơ tức là nói đến một phương thức canh tác
để có rau an toàn cho ngừơi tiêu dùng trong khái niệm rau an tòan bao trùm
tất cả là cá loại rau bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tóm lại, theo quan điểm của hầu hết nhà khoa học khác cho rằng: Rau
an toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất, bụi bao quanh,
không chứa các sản phẩm hoá học độc hại; hàm lượng NO
3
, kim loại nặng, dư
thuốc bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo
các tiêu chuẩn an toàn; và được trồng trên các vùng đất không bị nhiễm kim
loại nặng, canh tác theo những quy trình kỹ thuật được gọi là quy trình tổng
hợp, hạn chế được sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu
cho phép.
* Phân biệt RAT với các rau truyền thống khác
Rau là loại cây trồng đòi hỏi kĩ thuật cao, đầu tư vật chất và sức lao
động lớn hơn nhiều loại cây trồng khác. Rau là loại thực phẩm tươi xanh,
nhiều chất dinh dưỡng, dễ bị nhiễm sâu bệnh. Do vậy trong quá trình canh tác
phải sử dụng nhiều loại thuốc BVTV. Đây là vấn đề có tính 2 mặt, sử dụng để
và hàng hóa của các nước muốn vào thị trường này phải tuân theo. Để thực hiện
đúng nguyên tắc sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn GAP, người trồng rau phải
tuân theo trình tự các khâu: chọn đất, nước tưới, giống, phân bón, bảo vệ thực
vật, thu hoạch và đóng gói.
Theo tiêu chuẩn GAP thì đất trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt,
thích hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của rau. Tốt nhất nên chọn
đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20 –
30cm. Vùng trồng rau phải cách xa khu vực có chất thải công nghiệp nặng, và
bệnh viện ít nhất 2km, cách xa chất thải đô thị ít nhất 200m. Đất có thể chứa
10
một lượng nhỏ kim loại nhưng không tồn dư hóa chất độc hại. Vì trong rau
xanh lượng nước chiếm 90% nên việc tưới nước có ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng thì dùng nước song, ao hồ
không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật…
Đối với giống phải là giống khỏe mạnh, không có mầm bệnh, biết rõ
nguồn gốc nơi sản xuất hạt giống. Hạt hay rau giống nhập nội phải qua
kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng, hạt giống phải được xử lý hóa
chất hoặc nhiệt.
Mỗi loại cây có chế độ bón phân khác nhau, trung bình để bón lót dùng
15 tấn phân chuồng và 300kg lân hữu cơ vi sinh cho 1ha. Tuyệt đối không
dùng phân chuồng tưới, nhằm loại trừ các vi sinh vật gây bệnh, vi sinh vật
gây nóng cho rễ cây, tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các nhóm vi
sinh vật khác. Tuyệt đối không dùng phân tưới và nước phân chuồng để tưới
rau. Không sử dụng thuốc BVTV thuộc nhóm I, nhóm II, khi thật cần thiết có
thể sử dụng nhóm III và IV. Nên chọn thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với
kí sinh thiên địch. Kết thúc phun thuốc trước khi thu hoạch ít nhất 5 – 10
ngày.Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như hạt củ đậu, các chế phẩm
thảo mộc, các kí sinh thiên địch để phòng bệnh. Sau khi thu hoạch rau sạch
phải được loại bỏ các lá già, héo, sâu, dị dạng. Rau được rửa kĩ bằng nước
không ô nhiễm do sản xuất trước đây. Riêng các loại rau trồng ruộng nước:
rau muống, rau nhút, sen thì ruộng không bị ô nhiễm bởi nguồn nước.
Nước tưới: nguồn nước tưới cho vùng rau không bị ô nhiễm các loại
hoá chất và vi sinh vật độc hại, không dùng nước thải của sản xuất công
nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước ao tù đọng chưa qua xử lý.
Các chỉ tiêu phân tích lý hóa tính chất, nguồn nước sạch trong vùng
phải đạt tiêu chuẩn rau an toàn theo Quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT
12
ngày 228/4/1998 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về “Quy định tạm thời về sản
xuất rau an toàn”
* Điều kiện về kỹ thuật :
- Tối thiểu 90% số hộ trồng rau trong vùng đồng thuận sản xuất rau an
toàn phải được tập huấn về kỹ thuật sản xuất rau an toàn do Chi cục Bảo vệ
thực vật (BVTV) Thành phố tổ chức và cấp giấy chứng nhận và hộ hoặc
nhóm hộ trồng rau phải có bản đồng thuận sản xuất rau theo quy trình kỹ
thuật rau an toàn.
- Đảm bảo trên 95% diện tích trồng rau trong vùng thực hiện đúng quy
trình sản xuất rau an toàn của Sở Nông nghiệp và PTNT. Phải áp dụng
phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít
độc hại cho người và môi trường:
Giống: chọn giống tốt, sạch mầm sâu bệnh. Khuyến khích sử dụng các
giống mới, giống lai F1, có chất lượng và năng suất cao.
Biện pháp canh tác: thực hiện theo quy trình sản xuất rau an toàn do Sở
Nông nghiệp và PTNT ban hành. Chú ý chế độ luân canh lúa – rau màu hoặc
xen canh, luân canh giữa các loại rau khác họ với nhau để giảm mức độ lây
lan sâu bệnh.
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV): sử dụng khi thật sự cần thiết và luân
phiên các loại thuốc BVTV khác nhau. Bảo đảm thời gian cách ly trước khi
thu hoạch đúng hướng dẫn trên nhãn của từng loại thuốc. Tuyệt đối không
dùng các loại thuốc nằm trong danh mục thuốc BVTV cấm và hạn chế sử
“rất ổn định” và là “phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp” (Trích Kinh tế hộ nông thôn Việt Nam, dịch giả Nguyễn
Xuân Quang)
Theo Frank Ellis (1998), hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống
từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong
14