LỜI CAM
BỌGIAO
DỤC ĐOAN
VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Tôi xỉn cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. số liệu và
kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ
luận văn, luận án nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
VĂN
NGHIỆP
ĐẠI
HỌC
đểu đã LUẬN
được cám
ơnTỐT
và các
thông tin
trích
dân trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2009
Sinh viên
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TÉ CỦA TIẾN BỘ
KỸ THUẬT THÂM CANH LÚA SRI TẠI XÃ ĐỨC GIANG,
HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Ngụy Thị Ngọc Lan
Ho và tên
: NGỤY THỊ NGỌC LAN
bảo tận tình, hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên công ty
TNHH thuốc thú y Việt Nam, đặc biệt là các nhân viên phòng kinh doanh thị trường, phòng kế toán, phòng hành chính đã giúp đỡ nhiệt tình trong thời
gian tôi thực tập tại công ty.
Ngụy Thị Ngọc Lan
11
MUC
• LUC
•
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..................................................................................................ii
MỤC LỤC......................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG.......................................................................................vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.................................................................................vii
1
MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1.1 Sự cần thiết của đề tài..................................................................1
........................................................................................................................39
4.2.1Thực trạng................................sản xuất lúa của xã Đức Giang
39
4.2.2..................................................................................................... Th
ực trạng thâm canh lúa theo kỹ thuật SRI của các hộ điều tra
...............................................................................................41
4.4 Những mặt đạt được và những điểm hạn chế của
chương trình áp dụng
TBKT thâm canh lúa SRI
4.4.1................................................................... Những MẶT đạt được
................................................................................................69
4.4.2................................................................. Những mặt còn hạn chế
................................................................................................70
4.5 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế........71
V
DANH MỤC BẢNG
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trên thế giới, cây lúa nước được 250 triệu nông dân trồng, là lương
thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của
nông dân. Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân
180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á , khoảng 10 kg/ người/
năm tại các nước châu Mỹ (http://caylua.vn/01/01_vaitroluagao.htm). Ớ Việt
Nam, lúa cũng là một cây trồng chiến lược trong nền kinh tế quốc dân và
trong nông nghiệp nói riêng, sản lượng lúa không ngừng tăng lên hàng năm
(năm 1990 là 19,224 triệu tấn, năm 1995 là 24,963 triệu tấn, năm 2000 là
32,529 triệu tấn, năm 2005 là 35,79 triệu tấn, năm 2007 là 37 triệu tấn) (
www. mofa. gov.vn).
Lúa gạo là sản phẩm không thể thiếu trong nhu cầu cuộc sống của con
người. Nó là lương thực chính nuôi sống con người. Sản phẩm thóc gạo còn là
nguồn thức ăn cho chăn nuôi. Sản phấm phụ của cây lúa như rơm rạ còn được
sử dụng để sản xuất nấm, làm phân bón. Đối với một số nước đang phát triển
thì lúa gạo còn là nguồn thu ngoại tệ lớn nhờ xuất khâu. Tại Việt Nam, Theo
tổng kết của Xuân Bách, báo Nhân dân sổ ngày 2/8/2007, trong sáu tháng đầu
năm 2007, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 2,3 triệu tấn, kim ngạch 731
triệu USD.
Tuy nhiên hiện nay thế giới đang phải đổi mặt với vấn đề thiếu đất cho
sản xuất nông nghiệp do chuyển đổi diện tích đất sản xuất nông nghiệp cho
các mục đích khác. Theo dự đoán của FAO trong vài thập kỷ tới, thế giới có
1
cây (gọi tăt là SR1 - System of Rice intensiíìcation) đang là một hướng đi mới
không cao khiến người dân chưa hoàn toàn tin tưởng, ruộng và hệ thống tưới
tiêu nước của nhiều hộ không đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật SRI nên
không được áp dụng, năng suất lúa cao nhưng giá trị sản xuất lại thấp... Tại
sao
lại như vậy? Liệu kỹ thuật SRI có mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn kỹ thuật
truyền thống tại địa phương không? Người dân đã thực hiện đúng qui trình kỹ
thuật được hướng dẫn chưa? Việc áp dụng kỹ thuật này trong thực tế có những
khó khăn nào? Có thế làm gì đế khắc phục điều này? Việc áp dụng kỹ thuật
SRI có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của người dân tại địa phương không?
Đánh
giá hiệu quả kinh tế của kỹ thuật SRI sẽ giúp cho người nông dân có cơ sở đế
phân tích và đánh giá được hiệu quả mà kỹ thuật SR1 đem lại, làm cơ sở đế
lựa
chọn kỹ thuật phù hợp nhất trong sản xuất. Hiện nay trên thế giới và Việt Nam
đã có nhiều công trình nghiên cứu về SRI nhưng chưa có công trình nào
nghiên
cứu về hiệu quả kinh tế của SRI. Từ những lý do trên em đã tiến hành chọn
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật thâm
canh
lúa SRI tại xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, tính Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1
Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật SRI trong trồng lúa từ đó
làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế ứng dụng kỹ thuật SRI
tại xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
1.2.2
Khái niệm thâm canh
Để tăng sản lượng nông nghiệp, có thế tiến hành theo 2 phương thức:
quảng canh hoặc thâm canh. Các Mác nói: “Tái sản xuất mở rộng được thực
hiện quảng canh nếu chỉ mở rộng diện tích ruộng đất và thâm canh nếu chỉ sử
dụng hiệu quả hơn các tư liệu sản xuất” (Các Mác và Ảngghen: Toàn tập tập
24 - Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva năm 1981)
Như vậy quảng canh là phương thức sản xuất nhằm tăng thêm sản
lượng nông nghiệp bằng cách mở rộng diện tích đất đai với cơ sở vật chất
thấp kém, trình độ kỹ thuật lạc hậu, chủ yếu dựa vào việc sử dụng độ phì
nhiêu tự nhiên của đất. Ngược lại, thâm canh là phương thức sản xuất tiên
tiến nhằm tăng sản phâm nông nghiệp bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh
tế của ruộng đất, thông qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất
nông nghiệp. Thâm canh đã và đang dần thay thế cho phương thức quảng
canh do nhu cầu về lượng nông sản ngày càng tăng trong khi đó khả năng mở
rộng diện tích bị thu dần và diện tích đang sản xuất ngày càng bị thu hẹp do
nhiều nguyên nhân, con người phải chuyến sang nâng cao chất lượng canh tác
thông qua đầu tư thêm lao động và vật tư đế tăng sản lượng sản phẩm trên
một đơn vị diện tích. Lênin cũng đã chỉ ra rằng: “ Hiện tượng nông nghiệp
5
Thâm canh nông nghiệp là quá trình kinh tế rất đa dạng và phong phú
đặc biệt trong điều kiện sản xuất hiện đại, thâm canh ngày càng được phát
triến
theo chiều sâu với hiệu quả kinh tế lớn. Vì vậy hiểu và vận dụng đúng đắn vấn
đề thâm canh nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận cũng như
thực tiễn.
Trên cơ sở phân tích những sai lầm và thiếu sót trong chỉ đạo sản xuất
nông nghiệp nói chung và trong thâm canh nói riêng, Nghị quyết Trung ương
Đảng lần thứ VI (khoá IV) đã chỉ rõ: “Bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâm
nghiệp ngư nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu, được ưu tiên đáp ứng yêu cầu
về vốn đầu tư, về năng lượng, vật tư và lao động kỹ thuật, tập trung trước hết
vào những vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao” (văn kiện đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội 1987). Đồng thời
từ thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước ta qua những năm đổi mới Đảng ta
đã có quan điểm, phương hướng và có giải pháp cụ thế đó là: " Đẩy mạnh ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học để nâng
cao
năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh
doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước " và " tập trung
thâm canh kết hợp mở rộng diện tích " (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH
Trung ương Đảng khoá VII. Báo Nhân dân ngày 1/7/1993). Và từ năm 1993
phải hướng vào một sổ chủ trương đối mới " Phát triển mạnh về lúa ... đi
mạnh
vào thâm canh tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, không phát triển sản
xuất
oẻ những nơi kém hiệu quả và có hại xấu đến môi trường " (Nguyễn Công
Tạn:
Chuyển mạnh sản xuất Nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế thị trường. Tạp chí
Quản lý kinh tế nông nghiệp tháng 3+4 năm 1993). Trong những năm gần
đây,
nhất là tù' Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời (5/11/1988) về đôi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân giữ một vị trí xứng đáng trong
nền
kinh tế quốc dân đã mở ra cho nông nghiệp một bước phát triển mới tạo ra
cho
người nông dân cơ hội phát triển trong điều kiện người nông dân được làm ăn
tự lo liệu, tù' vốn sản xuất, áp dụng quy trình sản xuất, kỹ thuật canh tác... nên
quan hệ liên kết, liên doanh, hợp tác giữa các loại hộ và các thành phần kinh
9
doanh theo co chế thị trường, nên họ nhanh nhạy hon, ứng dụng TBKHKT
vào sản xuất nông nghiệp tốt hơn, gắn sản xuất với hiệu quả sản xuất. Nhưng
trong thực tế đa số người nông dân vận dụng quan hệ thị trường còn yếu kém,
họ vẫn chưa chủ động tìm tòi học hỏi các TBKHKT, áp dụng một cách thụ
động nên chưa đạt được kết quả như mong muốn.
- Điều kiện tự nhiên của Việt Nam phân bố không đều, ba miền khác
nhau có những kieu khí hậu khác nhau. Bảy vùng kinh tế khác nhau có những
điều kiện đất đai, khí hậu, lao động... khác nhau nên thâm canh lúa ở mỗi
vùng cũng khác nhau. Do đó, khi qui hoạch vùng thâm canh cần qui hoạch cụ
thể cho từng vùng.
- Nhìn chung thì người nông dân hiện nay vẫn là người sản xuất nhỏ
đang bước đầu đi vào sản xuất hàng hóa lớn, hàng năm liên tục phải hứng
chịu
thiên tai, dịch bệnh, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, thiếu vốn đầu tư,
trình độ nhận thức có hạn... Với khả năng trên bản thân nông dân đi lên trong
thâm canh sẽ gặp những khó khăn nhất định, nhà nước cần có chính sách kinh
tế hỗ trợ cho nông dân như: chính sách đầu tư cho nông nghiệp, chính sách
đất
đai, chính sách ốn định giá đầu vào, chính sách bảo hiếm, chính sách bảo hộ...
giúp cho nông dân yên tâm đầu tư thâm canh, để thúc đấy sản xuất nông
nghiệp
loại giống khác nhau mà đòi hỏi các quy trình kỹ thuật khác nhau sao cho phù
hợp. Chính vì vậy đòi hỏi người sản xuất phải lưạ chọn các giống phù hợp với
điều kiện tự’ nhiên và xã hội của vùng của địa phương nơi mình sinh sống và
11
đất khác nhau, các loại lúa khác nhau yêu cầu một liều lượng bón khác nhau
do đó đòi hỏi phải có kỹ thuật bón phân đế đảm bảo có mức bón phân họp lý
phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi nơi.
Trong quá trình sản xuất thì lúa thường xuyên bị sâu bệnh, dịch bệnh
tác động đó là một nguyên nhân làm thất thu trong sản xuất lúa. Việc phòng
tránh và chữa trị là một việc có ý nghĩa vô cùng to lớn đảm bảo thành công
cho các hộ sản xuất, góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất.
- Nhân tố thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát triển
của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Chức năng của thị trường là thực hiện sản
phẩm và thừa nhận lao động làm ra sản phẩm cân đối cung cầu và kích thích
nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế, nhu cầu về
sản
phẩm cây lương thực có nhũng đòi hởi khác nhau. Khi nền kinh tế phát triến
còn
thấp, thu nhập của tầng lớp dân cư còn hạn hẹp thì phát triển về chất của sản
phẩm chưa đòi hỏi cao về lượng và giá cả sản phẩm. Thu nhập ngày càng
tăng,
nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng thay đối theo hướng vừa tăng số lượng,
Nâng cao phẩm chất toàn diện mới có thể tạo nên nhãn hiệu sản phẩm
13
vốn cho vùng nghèo, vùng núi đế phát triển sản xuất, xây dựng co sở hạ tầng,
xây dựng chính sách khuyến nông, khuyến lâm... có tác dụng tích cực đế phát
triển sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất cây lúa.
2.1.2
Tiến bộ kỹ thuật
* Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội do con người tiếp
nhận thông qua nghiên cứu có co sở lý luận và thực tiễn. Đồng thời, khoa học
cũng là hoạt động của con người sản xuất ra tri thức mới.
* Công nghệ là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, các bí quyết, các
phương tiện kỹ thuật, các phương pháp được dùng đế chuyển hoá các nguồn
lực được sử dụng trong sản xuất hoặc các hoạt động dịch vụ. Xã hội càng phát
triến càng có điều kiện nâng cao trình độ công nghệ và công nghệ càng được
ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả.
* Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp được hiểu như là tập hợp nhũng
kỹ
thuật hay nhũng tri thức tổng kết và đúc rút ra những nghiên cứu hay thực
tiễn,
thể hiện giữa các yếu tố đầu vào và lượng sản xuất ra. TBKT trong nông
Có nhiều hệ thống quan điểm đế đánh giá hiệu quả kinh tế nhưng bản
chất của hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh cả về tuyệt đối và tương
đối giữa lượng kết quả và lượng chi phí bỏ ra. Do đó, hiệu quả kinh tế của
TBKT trong thâm canh lúa là tương quan so sánh giữa phần kết quả và chi phí
trong thâm canh lúa do áp dụng TBKT.
2.1.4
Lịch sử phát triền của kỹ thuật sRI
Kỹ thuật SRI được phát triến ở Madagascar vào đầu những năm 1980 và
hiện đang được phổ biến bởi tổ chức phi chính phủ (NGO) Association Tefy
15
và đã đạt được năng suất 9,2 - 10,5 tấn/ha, chỉ sử dụng khoảng 1/2 lượng nước
tưới như bình thường. Năm 2000, cục nghiên cứu và phát triến nông nghiệp
Indonesia đã đạt được năng suất 9,5 tấn/ha, trong những thử nghiệm SRI vào
mùa mưa tại trạm Sukamandi. Từ đó về sau việc đánh giá sử dụng các biện
pháp SRI đã và đang được trải rộng nhanh chóng, vì vậy hiện nay nó đang
được xúc tiến thực hiện ở hơn 20 nước trên thế giới bao gồm cả 6 nước Đông
Nam Á. (46)
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1
2.2.1.
Tình hình áp dụng kỹ thuật sRI trên thế giới
ỉ. Campuchia
2.2.1.2
Những kinh nghiệm SR1 ở Myanmar
Thờ
i
Thử nghiệm SRI gần đây đã bắt đầu ở Myanmar thông qua những nỗ
lực của quỹ phát triển Metta (Metta Development Foundation), NGO nội địa
đầu tiên ở Myanmar, với sự trợ giúp tù' IIRR, một NGO quốc tế đóng ở
Philippines. IIRR đang khuyến khích đánh giá SRI từ 1994. Trong năm 2000,
Metta bắt đầu những thử nghiệm tại những cách đồng thực nghiệm của họ, tuy
nhiên việc gieo cấy đã đuợc làm muộn hơn 1 tháng so với điều kiện tối ưu của
vụ đó và gây ra năng suất rất thấp 1,97 - 2,73 tấn/ha.(Kabir,2001) [44],[47].
2.2.1.3
Một so nước khác
Ở Nam Á, Đông Nam Á, SRI đã được phổ biến ở Sri Lanka và
Bangladesh, Ãn Độ và Nêpan, cùng với những thử nghiệm ở Indonesia,
Philippines. Ớ châu Phi những thử nghiệm cũng đã được làm ở Gambia với
năng suất dao động giữa 5,4 - 8,3 tấn/ha và những thí nghiệm của nông dân
với SRI tiến hành ở Sierra Leone. Ớ Châu Mỹ La Tinh hai báo cáo đầu tiên về
SRI là ở Cuba: Năng suất đạt 9,1 và 9,56 tấn/ha. Những thử nghiệm cũng
đang bắt đầu ở Peru. Theo nguyên lý cơ bản của SRI, các phương pháp này sẽ
cho kết quả tốt trong bất kỳ môi trường nào, mặc dù kết quả sẽ biến đối. Ket
quả cũng có thể khác nhau đối với việc sử dụng các giống lúa khác nhau, cho
đến nay tất cả các giống lúa đều đã phản ứng tích cực với phương pháp quản
lý này. Nhưng một vài giống cho năng suất cao hơn các giống khác, năng suất
cao nhất tất nhiên là đến từ những giống lúa lai cao sản, ví dụ như năng suất
đạt 17,8 tấn/ha với giống BG 358 ở Sri Lanka [43],[47].
Qua đánh giá của phòng nông nghiệp huyện cho thấy, năng suất lúa
trung bình của vùng dự án đạt 69,4 tạ/ha, tăng 13,9 tạ/ha so với cấy theo
phương pháp thông thường. Đặc biệt, lãi thuần rất cao, đạt trên 14,6 triệu
đồng/ha, gấp 1,7 lần kỹ thuật cấy thông thường. {Báo điện tử Bắc giang)
2.2.2.2 Hà Tây (cũ)
Vụ mùa năm 2007, chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh, trạm BVTV
của tất cả 14 huyện, thành phổ, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã phối hợp với 86
18
19