TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐẶNG THỊ HOA
Đảng bộ huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc)
lãnh đạo quá trình phát triển kinh tế nông
nghiệp (1986- 2006)
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
HÀ NỘI, 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn tới các
thầy cô trong khoa GDCT đã quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô Trần Thị
Chiên – đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận này.
Em xin cảm ơn các cô chú và anh chị đang công tác tại phòng nông
nghiệp huyện Bình Xuyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Do lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, do khả năng và
điều kiện có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được
sự thông cảm và đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
1.1.2.
Đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử.................................. 9
1.2.
Khái quát về tình hình kinh tế nông nghiệp Bình Xuyên
trƣớc thời kì đổi mới ..................................................................................... 14
Chƣơng 2: Đảng bộ huyện Bình Xuyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
trong 20 năm đổi mới (1986 – 2006) ............................................................ 22
2.1. Đảng bộ huyện Bình Xuyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
(1986 – 1995) .................................................................................................. 22
2.1.1. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ...................... 22
2.1.2. Những chuyển biến kinh tế nông nghiệp ở huyện Bình Xuyên ............ 31
2.2. Đảng bộ huyện Bình Xuyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
(1996 – 2006) .................................................................................................. 38
2.2.1. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ...................... 38
2.2.2. Kinh tế nông nghiệp ở huyện Bình Xuyên với những chuyển biến mạnh
mẽ .................................................................................................................... 46
2.2.3. Đánh giá kết quả thực hiện quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp ... 57
2.2.4. Một số kiến nghị và giải pháp ............................................................... 62
Kết luận .......................................................................................................... 65
Tài liệu tham khảo ........................................................................................ 67
1
MỞ ĐẦU
cần giải quyết trong thời gian tiếp theo? Đó là mục đích đồng thời cũng là ý
nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài “Đảng bộ huyện Bình Xuyên (Vĩnh
Phúc) lãnh đạo quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp (1986- 2006)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Ngày nay trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa đối với tất
cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế thì kinh tế nông nghiệp đang được quan
tâm nhiều. Nghiên cứu về vấn đề kinh tế nông nghiệp, nông thôn dưới sự lãnh
đạo của Đảng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, có thể nêu ra một số
công trình tiêu biểu như:
- Lê Doãn Diên (7/1990), Nông nghiệp và vấn đề phát triển nông
nghiệp nông thôn ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản.
- Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương Bộ NN & PTNT (2002), Con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Hồng Đức Nhuận - Nguyễn Quang Phát (2007), Đảng lãnh đạo công
cuộc đổi mới đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
* Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phát
triển kinh tế nông nghiệp cũng đã có một số học giả tiến hành. Trên địa bàn
Bình Xuyên đã có một số tài liệu như:
- Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Xuyên (1997- 2004), xuất bản năm 2005
chủ yếu liệt kê sự kiện lịch sử Đảng của huyện.
- Các báo cáo kinh tế nông nghiệp của Ủy ban nhân dân huyện hàng năm.
Những tài liệu trên đã phản ánh được một phần tình hình kinh tế của
huyện.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập và giải quyết
một cách có hệ thống, toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Bình
Xuyên trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986-
3
4
5. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm
có 2 chương:
Chương 1: Một vài nét về huyện Bình Xuyên.
Chương 2: Đảng bộ huyện Bình Xuyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006).
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT VÀI NÉT VÊ HUYỆN BÌNH XUYÊN
1.1.
Điều kiện tự nhiên và dân cƣ
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Bình Xuyên là một huyện có cả ba địa hình: đồng bằng, trung du và
miền núi; có vị trí nằm gần trung tâm của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố
Vĩnh Yên 7km dọc theo quốc lộ 2, cách thủ đô Hà Nội khoảng 50km theo
hướng Tây - Tây Bắc.
Bình Xuyên có diện tích tự nhiên là 14.567ha (theo số liệu điều tra năm
2010 là 14.847,31 ha), được giới hạn bởi tọa độ địa lý từ 21 012’57” đến
21027’31” độ vĩ Bắc và 105036’06” đến 105043’26” độ kinh Đông.
Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và tỉnh Thái Nguyên.
Phía Đông giáp thị xã Phúc Yên và huyện Mê Linh (thuộc thủ đô Hà
Đảo chia cắt, làm hạn chế phát triển đến công nghiệp và dịch vụ. Khu vực
đồng bằng của huyện có địa hình thấp, độ chênh lệch giữa các ruộng lớn lại
chịu ảnh hưởng từ nguồn nước từ dãy núi Tam Đảo chảy qua nên khi mưa lớn
xảy ra thường gây úng lụt cục bộ tại khu vực trũng.
* Điều kiện tự nhiên
- Địa hình
Địa hình của huyện tương đối đa dạng, nhìn chung địa hình của huyện
thấp dần từ Bắc xuống Nam và có ba vùng địa hình khá rõ dệt:
Vùng núi: Nằm ở phía Bắc của huyện có dãy núi Tam Đảo chạy ngang
từ Tây sang Đông phân chia ranh giới huyện với tỉnh Thái Nguyên. Địa hình
bị chia cắt mạnh. Đất đai có độ dốc cấp 3 (từ 15 – 250), cấp 4 (trên 250)
7
chiếm trên 90% diện tích, có nguồn gốc hình thành khá phức tạp, tạo nên tính
đa dạng sinh thái của vùng đồi. Nhìn chung môi trường sinh thái đang ở trạng
thái cân bằng, nhiều khu vực có địa hình cùng với các yếu tố khí hậu, danh
lam thắng cảnh đã tạo nên tiềm năng du lịch như: Thanh Lanh, Mỏ Quạ…
Bên cạnh đó với tính đa dạng của hệ thực vật đã tạo nên nguồn gien quý hiếm
cho nghiên cứu khoa học.
Vùng trung du: Tiếp giáp với vùng núi, chạy dài từ Đông Bắc xuống
Đông Nam, gồm các xã: Gia Khánh, Hương Sơn, Thiện Kế, Bá Hiến, Sơn
Lôi, Tam Hợp, Quất Lưu. Đây phần lớn là vùng đồi gò có độ dốc cấp 2 (8 150), nằm xen kẽ giữa các dải ruộng bậc thang có độ dốc trên 150 chạy dài từ
Hương Sơn đến Quất Lưu với các đỉnh cao như núi Đinh (204,5m), núi Nia
(82,2m), núi Trống (156,5m). Vùng này đất đai được hình thành từ nhiều loại
đá vụn khác nhau, với độ dốc vừa phải. Do đó ngoài mục đích lâm nghiệp đây
còn là vùng có tiềm năng trồng cây ăn quả, trang trại vườn rừng, cây công
nghiệp ngắn ngày.
Vùng đồng bằng: Gồm các xã Đạo Đức, Phú Xuân, Tân Phong, Thanh
Lãng, đất đai tương đối bằng phẳng, có độ dốc (500; tuy nhiên độ chênh lệch
đông. Số giờ nắng như vậy vẫn đủ lượng bức xạ cho cây trồng theo mùa vụ.
Về chế độ gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam thổi từ tháng 4
đến tháng 9. Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, đôi khi kèm
theo sương muối ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
* Thủy văn, sông ngòi
Hệ thống sông ngòi tự nhiên của Bình Xuyên tương đối điều hòa, con
sông Cà Lồ là sông lớn phân chia ranh giới giữa Bình Xuyên với Phúc Yên.
Đây là con sông chứa nước tưới cho hai xã phía Nam của huyện.
Các con suối nhỏ khác bắt đầu từ dãy núi Tam Đảo như: suối Mắc Áo,
suối Nưa và suối Mây. Tất cả những con suối này đều đổ vào sông Phan.
Sông Phan là sông tiêu thoát nước chính của huyện chảy ra sông Cầu. Ngoài
9
ra còn có hệ thống kênh tưới của Liễn Sơn và Xạ Hương làm cho hệ thống
tưới tiêu thêm hoàn chỉnh, giúp cho nông nghiệp có điều kiện phát triển.
Ngoài sông ngòi Bình Xuyên còn có rất nhiều đầm, hồ trong đó có
những đầm nổi tiếng như: Đầm Láng, Đầm Cả, Đầm Nội Phật… Gần đây có
một số hồ chứa được xây dựng, như hồ Xạ Hương có sức chứa hàng triệu m3
nước, giúp cho các vùng trồng lúa, chủ động tưới nước và chống được ngập
úng vào mùa mưa lũ; đồng thời phát triển ngành chăn nuôi.
1.1.2. Đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử
* Lịch sử huyện Bình Xuyên
Huyện lỵ Bình Xuyên (thuộc địa phận thị trấn Hương Canh) cách thị xã
Vĩnh Yên - tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc 9km về phía Tây - Tây Bắc; Tổng diện
tích tự nhiên của huyện Bình Xuyên có 19.535,74 ha, dân số có 111.294
người (số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/1999). “Theo sử cũ, huyện Bình
Xuyên ngày xưa vốn có tên là Bình Nguyên (Đời Trần) thế kỉ XIII.” [1, tr.15].
Tên huyện Bình Tuyền xuất hiện vào đời Lê Thánh Tông. Huyện Bình
Tuyền thuộc phủ Phú Bình, trấn Thái Nguyên.
những tụ điểm dân cư của nhà nước Âu Lạc có kinh đô là thành Cổ
Loa nổi tiếng [1, tr.21] .
Trên địa bàn huyện Bình Xuyên ngoài người Kinh (người Việt) chiếm
đa số, còn có 5 dân tộc thiểu số cư trú là Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Nùng,
Mường. Trong đó đông hơn cả là người dân tộc Sán Dìu sống ở khu vực ven
chân núi Tam Đảo. Họ cũng sinh sống bằng nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi),
tuy vẫn còn giữ một số phong tục tập quán riêng, nhưng nhìn chung các dân
tộc sống rất hòa đồng với người Việt.
Do đặc điểm tự nhiên, địa hình đa dạng, nên ngành nghề, sản xuất của
nhân dân Bình Xuyên cũng rất phong phú. Ngoài làm ruộng là ngành sản xuất
chính, Bình Xuyên còn có làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước như làng
nghề gốm ở Hương Canh với câu ca dao đã đi vào lịch sử:
“ Ai về mua vại Hương Canh
Ai lên mình gửi cho anh với nàng”
11
Nghề trồng lúa nước và canh tác nông nghiệp chiếm tới 90% lực lượng
lao động của nhân dân Bình Xuyên, nhất là ở các xã phía Nam huyện như:
Thanh Lãng, Đạo Đức, Phú Xuân, Tân Phong… ,dưới thời phong kiến dân cư
làm nông nghiệp sống rất nghèo khổ. Một bộ phận dân cư có khi phải rời bỏ
quê hương đến nơi khác kiếm ăn.
* Truyền thống lịch sử
Trải qua bao thiên biến của lịch sử, nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc
luôn nêu cao truyền thống lao động cần cù, sáng tạo. Họ đã tạo ra những nét
riêng đặc sắc trên quê hương mình và được lưu giữ, phát huy cao hơn từ đời
này qua đời khác tiêu biểu như: truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm,
truyền thống hiếu học, truyền thống văn hóa…
- Truyền thống yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Bình Xuyên ngày nay thuộc vùng đất Mê Linh cổ, là nơi sinh tụ của
khai quật được cho thấy, ở ngay kề cận phía Tây Bắc huyện Bình Xuyên có di
chỉ văn hóa Đồng Đậu (Yên Lạc), đánh dấu bước phát triển từ hậu kỳ đá mới
sang thời kỳ đồ đồng. Di chỉ Gò Nhành thôn Nội Phật xã Tam Hợp thuộc văn
hóa Phùng Nguyên là một minh chứng cho thấy, từ rất sớm nơi đây đã là một
tụ điểm dân cư thuộc thời kỳ nhà nước của các vua Hùng. Những người Việt
cổ trên vùng đất Bình Xuyên đã góp phần xây dựng nền văn hóa Văn Lang
trong bình minh lịch sử. Đặc biệt, với những hiện vật phong phú về gốm của
các di chỉ khảo cổ phát hiện được (như hàng trăm lò gốm ở Thanh Lãng), có
thể khẳng định Bình Xuyên là một trung tâm sản xuất đồ gốm không men (đất
nung và sành) lớn nhất đất nước trong thời gian rất dài.
Tại đây còn ghi dấu phát trển của nền văn minh gốm đất nung nổi tiếng
và đã có thời kỳ quy tụ những nhà nho tiêu biểu của đất nước góp phần tạo
nên “kẻ sĩ Bắc Hà”.
13
Là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước nhân dân Bình Xuyên cũng như
các vùng quê khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có những sắc thái văn hóa
chung của người Việt, đồng thời lại có những tập tục riêng, tạo nên nét khác
biệt, độc đáo.
Hầu hết các lễ hội của người Bình Xuyên diễn ra vào đầu mùa xuân.
Các làng đều có hội làng, như hội làng Hương Canh (ngày 6 tháng giêng), hội
làng Láng (ngày 12 tháng giêng) … Riêng đối với người Sán Dìu, có tục lệ
trai gái đi đến chợ phiên, chợ tỉnh để hát hò tỏ tình với nhau.
Các di tích văn hóa - lịch sử hiện có ở huyện Bình Xuyên tương đối
nhiều. Hầu hết làng nào cũng có đình, chùa. Nhưng, do thời gian và chiến
tranh, đến nay cũng chỉ còn ít nơi giữ lại được nguyên vẹn. Các đình, đền,
miếu của các làng đa phần đều thờ những vị danh tướng từ thời Hai Bà
Trưng, một số ít thờ thánh thần, số còn lại thờ những người thi cử, đỗ đạt cao,
có công với nước. Hiện có khu đình làng Hương Canh thờ các con của Ngô
Xuyên đã có những nét văn hóa, phẩm chất đáng quý tạo nên những truyền
thống tốt đẹp mà vẫn được giữ gìn và phát triển. Nhất là hiện nay đất nước ta
đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế thì những truyền thống đó ngày
càng phải được nhân dân ý thức được tầm quan trọng và nâng cao hơn nữa
những truyền thống tốt đẹp đó.
1.2. Khái quát về tình hình kinh tế nông nghiệp Bình Xuyên trƣớc thời
kỳ đổi mới
Bình Xuyên vốn là huyện thuần nông, kinh tế lấy nông nghiệp làm
hàng đầu. Cây trồng chính là cây lúa. Nhìn chung nông nghiệp huyện Bình
Xuyên tương đối phát triển.
* Giai đoạn 1976 - 1980
Sau thắng lợi oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt
Nam bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước.
15
Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước và thiết lập hệ
thống chính trị trong cả nước, Đảng và Nhà nước ta đã ra sức khôi phục và
phát triển kinh tế để cải thiện đời sống vật chất - văn hóa cho nhân dân và xây
dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Để phát triển kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
(12/1976) nêu rõ phải:
Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công
nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh
tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương
trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển
lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới;
kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công,
hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở
năng tiềm lực của địa phương, ổn định kinh tế và đời sống nhân dân
[1, tr.195].
Những chủ trương trên đây của Đảng bộ huyện Bình Xuyên đã mở ra
khả năng phát huy thế mạnh của đất đai huyện và phương hướng phát triển
nông nghiệp toàn diện. Song, nhìn chung trong thời kỳ 5 năm đầu sau giải
phóng (1976 – 1980), Bình Xuyên gặp rất nhiều khó khăn, cũng như ở các
tỉnh khác ở miền Bắc, Bình Xuyên vừa tập trung giải quyết hậu quả nặng nề
do chiến tranh để lại, vừa khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Nhiệm vụ chủ yếu là tập trung khôi phục và bước đầu phát triển nông nghiệp.
Theo phương hướng đó, huyện đã đầu tư phát triển thủy lợi, xem thủy lợi là
biện pháp hàng đầu trong khôi phục và phát triển nông nghiệp.
* Giai đoạn 1981 - 1985
Sau thời kỳ 1976 - 1980, trên tinh thần quán triệt quan điểm của Đảng
coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, phải phát huy tinh thần chủ động, sáng
17
tạo của nông dân, phải sử dụng hợp lý và có hiệu quả lao động, đất đai, mở
mang các ngành nghề.
Bước vào thời kỳ thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 - 1985),
cũng như các huyện khác trong tỉnh, Bình Xuyên cũng chịu ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nên đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Trước tình hình nông nghiệp của cả nước lâm vào tình trạng trì trệ,
ngày 13/1/1981, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị 100 CT/TW về cải tiến
công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao
động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là khoán 100). Chỉ thị của Ban Bí
thư Trung ương là một chủ trương đúng đắn, kịp thời, là giải pháp tình thế tạo
ra động lực mới cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nguyện vọng và
lợi ích của xã viên. Thực chất khoán 100 chưa phải là mô hình mới về tổ chức
quản lý nông nghiệp, mà chỉ là cải tiến hình thức khoán, chuyển từ khoán việc
Tam Đảo lần thứ II được tổ chức.
Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, Báo
cáo Chính trị của Ban Chấp hành trước Đại hội đã khẳng định:
Trong bối cảnh có nhiều diễn biến phức tạp về kinh tế và xã
hội của cả nước, huyện vượt mọi khó khăn tạo được sự chuyển biến
tích cực trên nhiều mặt, giải quyết một phần những khó khăn trước
mắt, vừa tạo điều kiện để đi lên trong những năm tới. Nổi bật lên
trong ba năm qua là sự chuyển biến của nông nghiệp, nhất là kết
quả của sản xuất lương thực - thực phẩm [2, tr.20].
Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, đó là: “Nông
nghiệp chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng, chưa phục vụ được
nhiều cho công nghiệp và xuất khẩu, chưa giải quyết được phát triển lâm
nghiệp và kinh tế vùng đồi. Ngành nghề trong nông nghiệp ít được chú ý phát
triển, có mặt còn sa sút” [2, tr.22].
19
Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Huyện ủy xác
định sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trung tâm số một của huyện. Năm
1983 sản xuất đạt và vượt kế hoạch năm đề ra, diện tích gieo trồng được
25.250 ha (99% kế hoạch), sản lượng lương thực quy thóc 48.650 tấn (105%
kế hoạch), cao nhất kể từ năm 1975.
Sau ba năm thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, cơ
chế quản lý mới trong nông nghiệp đã được hình thành. Việc quản lý đất đai,
đo đạc, thống kê, phân hạnh ruộng đất có nhiều chuyển biến. Song, công tác
quản lý vật tư, tiền vốn, sản phẩm chưa nghiêm túc; ý thức trách nhiệm cũng
như năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ được nâng lên một bước
nhưng chưa đều và đồng bộ.
Nhìn chung, trong 10 năm đầu (1975 – 1985), cùng với cả nước tiến lên
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để tập trung sức sản xuất phát triển nông
Hình thức tổ chức trên đã làm cho người lao động trở thành bị động,
phụ thuộc vào người quản lý, mất dần tính sáng tạo. Mọi công việc sản xuất,
ăn chia, phân phối, mọi biến động của thiên nhiên thời tiết ảnh hưởng đến cây
trồng, vật nuôi… đều do ban quản lý tập đoàn và hợp tác xã lo liệu. Người
nông dân không cần chú ý đến khoa học - công nghệ… Tập thể hóa không
khuyến khích lợi ích vật chất đối với người trực tiếp lao động sản xuất.
Cũng như các huyện khác ở Bắc Bộ, ở Bình Xuyên, nền kinh tế hàng
hóa đã phát triển từ nhiều năm trước đây. Do vậy, việc áp đặt hệ thống kinh tế
hiện vật đã làm ngăn cản dòng chảy của lưu thông hàng hóa và làm cản trở
sản xuất. Tuy được thay đổi bằng hệ thống lưu thông kiểu hình tháp tài chính
nhưng điều đó vẫn không thể dung hợp được với quy luật của thị trường.
Hệ thống kinh tế được thiết lập ở nông thôn đã làm tha hóa con người
kể cả người lao động và người quản lý. Tập thể hóa tư liệu sản xuất đã làm
cho ruộng đất và máy móc tách khỏi người lao động, biến họ trở thành xa lạ,
21
thờ ơ không những không quan tâm mà vô tình hủy hoại chúng; còn người
quản lý thì quan liêu tham nhũng, lợi dụng quyền hành để sách nhiễu.
Chính vì vậy trong thời kỳ này, nền nông nghiệp Bình Xuyên phát
triển với tốc độ chậm, nông dân Bình Xuyên còn nghèo nàn và thiếu thốn,
lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước bị giảm sút.
Thực trạng của Bình Xuyên và nền kinh tế nông nghiệp Bình Xuyên
nổi bật lên một yêu cầu khách quan là phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng,
phải có những chủ trương đúng đắn hơn, hiệu quả hơn để ổn định và phát
triển nền kinh tế huyện nhà. Đó là bối cảnh lịch sử của nền nông nghiệp và
nông thôn Bình Xuyên trước khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Nhìn lại chặng đường đã qua, Đảng bộ và nhân dân Bình Xuyên có
quyền tự hào về những đóng góp to lớn của mình vào sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.