TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------
VŨ THỊ SAO
ĐẶC ĐIỂM CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN (1986 – 1996)
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ QUANG VINH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp “Đặc điểm công
cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản (1986-1996)” em xin gửi lời
cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Lịch Sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã tạo điều kiện thuận lợi để giúp em hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Thư viện Quốc gia, Thư viện của Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã giúp em rất nhiều trong quá trình tìm tài liệu của mình.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Phó giáo sư, Tiến sĩ
Vũ Quang Vinh người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá
trình làm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình một cách xuất sắc nhất.
Em xin chân thành cảm ơn.
1.3. Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới (1986-1996)…………...18
1.3.1. Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới giai đoạn 1986 1991……………………………………………………………………………..18
1.3.2. Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới giai đoạn 1991 1996…………………………………………………………………………….24
1.3.3. Thành tựu, yếu kém và khuyết điểm…………………………….33
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG (1986-1996)……………………………………………………47
2.1. Đường lối đổi mới là sự kết tụ sáng kiến của quần chúng, các tổ chức
cơ sở Đảng và sự nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của Trung ương
Đảng…………………………………………………………………………..47
2.1.1. Đổi mới mang tính tự giác, sáng tạo của các tổ chức cơ sở Đảng và quần
chúng……………………………………………………………………………47
2.1.2. Từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng đề ra đường lối Đổi
mới……………………………………………………………………………50
2.2. Đổi mới đã đột phá vào khâu trọng tâm, then chốt là phân phối, lưu
thông và nông nghiệp……………………………………………………….58
2.3. Đổi mới giữ vững ổn định chính trị và được tiến hành theo những
bước đi phù hợp……………………………………………………………..65
2.3.1. Đổi mới vẫn giữ vững ổn định chính trị……………………………65
2.3.2. Đổi mới từ từng phần đến đổi mới toàn diện với những bước đi phù
hợp…………………………………………………………………………….69
2.3.3. Đổi mới ở Việt Nam được giữ vững và phát triển trong khi một số nước
Xã hội chủ nghĩa cải tổ bị thất bại……………………………………………73
2.4. Mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, phá bỏ bao
vây, cấm vận………………………………………………………………….75
2.4.1. Đổi mới chính sách đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận……….75
2.4.2. Mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở phát huy nội lực……………..76
KẾT LUẬN……………………………………………………………………79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………..
Bình quân đầu người
USD
Đô la Mỹ
EU
Khối liên minh Châu Âu
HTX
Hợp tác xã
BCH
Ban chấp hành
CNH
Công nghiệp hóa
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CNH - XHCN
Công nghiệp hóa - xã hội chủ nghĩa
Đề ra đường lối và phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn từng
nước là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh
đạo, đó là đòi hỏi chung cho tất cả các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân
quốc tế. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình lãnh đạo thực hiện đường
lối đổi mới đòi hỏi phải luôn bám sát thực tiễn đất nước, luôn bổ sung, phát triển
đường lối, tìm ra những bước đi, giải pháp sát thực cho công cuộc xây dựng
XHCN ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới đã và đang đòi hỏi cần được nghiên cứu
và luận giải một cách khoa học và tổng kết rút ra những đặc điểm, những bài học
kinh nghiệm cho giai đoạn cách mạng tiếp theo. Vì vậy, em chọn đề tài: “Đặc
điểm công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng (1986 - 1996)” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp cử nhân lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ 1986 đến nay đã được nhiều cơ quan,
nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu trên nhiều phương diện.
Đảng ta bước đầu đã tổng kết rút ra các bài học ở các Đại hội, các Hội nghị
Trung ương như: Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 6, khóa VI (3/1989),
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991), Hội nghị giữa nhiệm
kỳ, khóa VII của Đảng (1/1994) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng (6/1996).
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có các tác phẩm đó là:
- Tác phẩm “Đổi mới tiến lên” của đồng chí Nguyễn Văn Linh gồm 2 tập
do Nxb Sự thật xuất bản năm 1988, 1999.
- Tác phẩm “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội” của đồng
chí Đỗ Mười gồm 5 tập do Nxb Sự thật xuất bản năm 1992,1993 và Nxb Chính
trị quốc gia xuất bản năm 1994, 1995 và 1996.
2
Góp phần nghiên cứu tổng kết công cuộc đổi mới của Đảng và nhân
dân ta góp phần làm phong phú thêm lý luận của ch nghĩa Mác - Lênin về chủ
nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới, tiếp tục khẳng định
bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện hiện
nay.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu bối cảnh, tiến trình
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới đề tổng kết những đặc
điểm của công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 - 1996 trong đó chú trọng
những đặc điểm nổi bật nhất.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Công trình
nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử là chủ đạo, kết hợp phương pháp lịch
sử với phương pháp logic. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp:
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh xử lý tư liệu…Nguồn tư liệu chính mà đề
tài sử dụng là các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh,
các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các sách báo xuất bản trong nước, các đề tài
khoa học…
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài trình bày có hệ thống quá trình chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới
của Đảng ta. Trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm công cuộc đổi mới, chú trọng
những giải pháp mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành để thực hiện các
nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới mang đặc điểm Việt Nam.
Kết quả của đề tài góp phần vào quá trình tổng kết công cuộc đổi mới của
Đảng, góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay nhằm bảo vệ Chủ nghĩa
4
trầm trọng. Tình hình kinh tế suy thoái nặng nề, biểu hiện cụ thể mức lạm phát
năm 1986 là 774,7%, các nhà máy xí nghiệp trong tình trạng thua lỗ kéo dài, nạn
thất nghiệp tăng, đời sống nhân dân không được cải thiện, lòng tin của nhân dân
vào chế độ xã hội giảm sút, đồng thời những nhân tố gây mất ổn định về chính
trị, xã hội ngày càng gia tăng.
Theo báo cáo của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6, khóa IV (8/1979)
sau chiến tranh chống Mỹ, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất nhưng nền
kinh tế đã thấp kém lại bị chiến tranh tàn phá, thiên tai dồn dập, nền công nghiệp
còn rất nhỏ bé, không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân.
Hàng tiêu dùng thiếu nghiêm trọng, mặt hàng, mẫu mã nghèo nàn, chất
lượng kém, giá thành cao, có những mặt hàng thông dụng có khả năng sản xuất
nhiều nhưng vẫn thiếu như: hàng sành sứ, thủy tinh, đồ gỗ, mây, tre, chiếu cói,
kim khí thông dụng, đồ dùng dạy học, đồ chơi trẻ em…
Hàng xuất khẩu ít, chưa cân đối được phần nhập nguyên liệu, thiết bị cho
bản thân công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng địa phương, chưa tạo được mặt
hàng xuất khẩu chủ lực, nhằm phát huy thế mạnh của tài nguyên, đất đai và lao
động. Chất lượng nhiều hàng xuất khẩu không theo kịp yêu cầu của thị trường
thế giới.
Một số ngành công nghiệp nặng phát triển không mạnh, xí nghiệp quốc
doanh sản xuất, kinh doanh thua lỗ. Sản lượng nông nghiệp không tăng, diện tích
ruộng đất bị hoang hóa gia tăng.
Quan hệ sản xuất XHCN trên phạm vi cả nước trong những năm cuối thập
kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80 bị khủng hoảng, hàng loạt các hợp tác xã
trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngư nghiệp tan rã, các xí nghiệp quốc
doanh làm ăn thua lỗ. Nhiều mục tiêu đề ra không đạt được, những giá trị thể
6
hiện mục tiêu, lý tưởng của CNXH chưa được định hình, chưa thể hiện đúng bản
chất của CNXH. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, tiêu cực xã hội ngày
ngay ở nước Nga Xô Viết những năm 90…một mặt là do âm mưu, hoạt động
phá hoại của các thế lực thù địch vốn không bao giờ từ bỏ ý định tiêu diệt chủ
nghĩa cộng sản; mặt khác, đó là những dấu hiệu của việc áp dụng cứng nhắc, duy
nhất một mô hình. Trong lịch sử không có từ “nếu”, nhưng có thể giả thiết về
một cách nhìn nhận, điều chỉnh từ mô hình, có lẽ các nước XHCN đã tránh được
sự đổ vỡ về sau. Dù kết quả điều chỉnh về sau có khác nhau, trào lưu cải tổ, đổi
mới, cải cách… đã phản ánh một nhu cầu khách quan, giúp tháo dỡ một rào chắn
to lớn về nhận thức và tạo không khí thuận lợi cho việc phát triển công cuộc đổi
mới ở Việt Nam.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) cũng đang diễn ra những thay đổi to
lớn do tác động không thể cưỡng lại và phản ứng dây chuyền của cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ: xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đời sống quốc tế,
sự hợp tác - phân công giữa các nước, các nền kinh tế, hình thành thị trường
quốc tế và khu vực; sự thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới theo hướng mở, sự thay
bậc đổi ngôi giữa các ngành kinh tế, không phải lúc nào và ở đâu công nghiệp
nặng cũng là ưu tiên hàng đầu, sự ra đời và chiếm lĩnh vị thế của các ngành mới
như: điện tử, tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học…xu thế rút ngắn con
đường phát triển với sự nổi lên của những nước công nghiệp mới ở Châu Á. Thế
giới đang đổi thay. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, cùng xu thế toàn cầu
hóa đặt Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là các nước
XHCN đứng trước những thời cơ và thách thức vô cùng to lớn. Nếu không đổi
mới, cải cách mở cửa để hòa nhịp với xu thế chung của thời đại thì sẽ bị tụt hậu
so với các nước TBCN.
Các nước XHCN đã từng gây những ảnh hưởng tích cực, đa chiều đến sự
đổi thay, điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản (CNTB) thì giờ đây, những đổi thay ở
8
các nước TBCN dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đang tác
động ngày càng rõ rệt đến các nước XHCN, giống như một sự đối sánh, yêu cầu
địa phương, các cơ sở Đảng, của quần chúng nhân dân. Với tinh thần nhìn thẳng
vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội, tìm ra con đường đi lên
thích hợp, có giải pháp ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng ta đã tiến
hành Đại hội lần thứ VI. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam có nhiệm vụ tổng kết quá trình khảo nghiệm, tìm tòi từ đó để
hoạch định đường lối đổi mới. Tham dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho
gần 1,9 triệu đảng viên. Có 32 đoàn đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân
các nước đến dự Đại hội.
Báo cáo chính trị do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa V trình bày tại Đại hội đã nêu rõ: “Thái độ của Đảng ta
trong việc đánh giá tình hình và nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Cùng với
việc đánh giá đúng những thành tích đã đạt được, ở Đại hội này chúng ta chú
trọng kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết
điểm, vạch rõ nguyên nhân, nêu ra biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và
mục tiêu phấn đấu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời
kỳ quá độ” [6, tr.19].
Đại hội VI nêu rõ những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội những năm 1981 - 1985: sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
đã ngăn chặn được đà giảm sút những năm 1979 - 1980 và từ năm 1981 đã đạt
được nhiều tiến bộ rõ rệt. Về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật những năm 1981 1985 đã hoàn thành hàng trăm công trình tương đối lớn và hàng ngàn công trình
vừa và nhỏ. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến lên một bước. Chú trọng
chăm lo đời sống nhân dân trong hoàn cảnh nền kinh tế còn yếu kém. Cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh chính trị và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã
10
giành được những thắng lợi to lớn. Thu nhập quốc dân hàng năm đạt 6,4% so với
0,4% trong những năm 1976 - 1980.
Đại hội VI nêu rõ tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang có nhiều khó
“lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Hai là: Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách
quan là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Ba là: phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
trong điều kiện mới.
Bốn là: phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm
quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình của đất nước,
tự phê bình về những sai lầm, khuyết điểm, đổi mới tư duy lý luận nhận thức rõ
hơn về quy luật khách quan của thời kỳ quá độ, kế thừa những thành tựu và kinh
nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và những năm đầu khi nước nhà
thống nhất, trải qua nhiều năm tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội VI của
Đảng đã đề ra đường lối đổi mới.
Trước hết, đó là đổi mới kinh tế, có chính sách sử dụng và cải tạo đúng
đắn các thành phần kinh tế. Chính sách đó cho phép sử dụng nhiều hình thức
kinh tế với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình
sản xuất và lưu thông và khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên
kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Đó là một giải
pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải phóng và khai thác mọi khả năng để
phát triển mọi lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Chính sách đó
“là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là
một đặc trưng của thời kỳ quá độ” [6, tr.56]. Đại hội xác định rõ các thành phần
kinh tế ở nước ta là:
12
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập
thể, cùng với kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó.
- Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ
lý hành chính - kinh tế can thiệp sâu rộng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các
quyết định của mình; các đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa
không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh. Cơ chế cũ càng
không chú ý tới quan hệ hàng hóa - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý theo chế
độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, hạch toán chỉ là hình thức. Cơ chế đó cũng
nảy sinh ra bộ máy quản lý cồng kềnh với những cán bộ quản lý kém năng động,
không thạo kinh doanh, phong cách quản lý quan liêu, cửa quyền. Cơ chế cũ gắn
liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm đơn giản về chủ nghĩa xã hội,
mang nặng tính chất chủ quan duy ý chí. Vì vậy, “phương hướng đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế đã được khẳng định là xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây
dựng cơ chế mới phù hợp quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền
kinh tế” [6, tr.63].
Việc sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ đòi hỏi sản xuất phải gắn liền với
thị trường, phải thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Phải vận dụng
các quy luật của sản xuất hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị, quan hệ cung cầu.
Phải sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế. Nền kinh tế phải được quản lý bằng
các biện pháp kinh tế là chủ yếu. Kết hợp hài hòa lợi ích của toàn xã hội, lợi ích
của tập thể và lợi ích riêng của người lao động. Các đơn vị kinh tế quốc doanh và
tập thể là những đơn vị sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa, có quyền tự chủ sản
xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính.
Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh phải: “Phân biệt rõ chức năng quản lý
hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với
chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị quản lý cơ sở”. “Thực
14
chất của cơ chế mới về quản lý là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” [6,
tr.65].
thực sự vì dân một cách đầy đủ. Nguyên lý cơ bản đó được thực hiện từng bước
vững chắc là điều kiện quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng” [6, tr.23].
Đại hội VI chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. “Củng cố
chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức,
nhất là những ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm xuất khẩu. Đi đôi với
việc công bố luật đầu tư, cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi
cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh” [6, tr.85].
Đại hội VI của Đảng cho rằng, để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ
chức thực tiễn, “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư
duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh
đạo và công tác” [6, tr.124]. Đại hội VI nhấn mạnh, muốn đổi mới tư duy, Đảng
ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, rút ra những quy luật
đúng đắn, khắc phục những quan niệm sai lầm hoặc lỗi thời. Đổi mới tư duy
không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận
những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận
đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại chính là bổ sung và phát triển
những thành tựu ấy. Đảng nhấn mạnh đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách
mạng cán bộ, đảng viên và nhân dân làm nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư
tưởng. Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý. Đổi
mới phong cách làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt trong
Đảng trong đó tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng nhất. Đại hội đề ra yêu
16
cầu nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, nâng
cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng.
Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc
vàng. Phân tích rõ những nguyên nhân của khó khăn, nhất là những khuyết điểm
chủ quan như chậm tổng kết thực tiễn để làm rõ một số quan điểm và bước đi
trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước chậm cụ thể hóa, thể chế hóa
đường lối của Đảng, sự chỉ đạo của bộ máy Đảng, Nhà nước còn nhiều thiếu xót.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ta ra sức khắc phục khó khăn, giữ vững
ổn định chính trị, giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách từng bước
đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống.
Các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa VI đã tập trung bàn và
quyết định những chủ trương, bước đi quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Hội
nghị Trung ương lần thứ 2 (4-1987) bàn vấn đề cấp bách về lưu thông phân phối.
Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (8-1987) bàn về chuyển hoạt động của các đơn vị
quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh
tế. Về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ba năm 1988 - 1990
được bàn và quyết định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (12-1987). Hội nghị
Trung ương lần thứ 5 (6-1988) bàn về công tác xây dựng Đảng. Hội nghị Trung
ương lần thứ 6 của Trung ương (3-1989) kiểm điểm 2 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội VI đề ra phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới. Về cuộc khủng hoảng của
các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô được bàn tại Hội nghị Trung
ương lần thứ 7 (8-1989). Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình
hình trong nước và quốc tế hiện nay, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (3-1990) ra
Nghị quyết “Về tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa
đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta” (Nghị quyết 8A) và “Đổi mới công
tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”
18
(Nghị quyết 8B). Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (8-1990) bàn về một số vấn đề
cấp bách về kinh tế - xã hội, thông qua dự thảo các văn kiện trình Đại hội VII và
Hội nghị lần thứ 10 (11-1991) xem xét lần cuối các văn kiện chuẩn bị cho Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng.