ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN 1995-2011 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN NGỌC TUYẾT

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI
NGOẠI VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN
1995-2011
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TH.S NINH THỊ HẠNH

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của BGH Trường ĐHSP Hà Nội
2, Trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện,
giúp đỡ cho Tôi trong quá trình thu thập tài liệu.
Tôi xin chân thành cảm ơn BCN Khoa Lịch Sử, cùng các Thầy, Cô giáo
trong khoa đã tận tình giúp đỡ, góp ý, và đặc biệt làThs.NinhThị Hạnh, Giảng
viên trường ĐHSP Hà Nội , trong suốt thời gian qua đã giúp đỡ rất nhiều để tôi
hoàn thành đề tài khóa luận này một cách hoàn chỉnh, cảm ơn tất cả các bạn
trong tập thể lớp k37 – CN Lịch sử đã có những đóng góp quý báu giúp Tôi
hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên


8

1.2. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại với ASEAN ............ 10
1.2.1. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại với ASEAN ......... 10
1.3.Qúa trình thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và những thành tựu
bước đầu ....................................................................................................... 15
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VỚI
ASEAN TỪ NĂM 2006-2011. NHẬN XSET VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
CHỦ YẾU .................................................................................................... 37
2.1. Bối cảnh lịch sử ............................................................................. 37
2.1.1. Tình hình thế giới ....................................................................... 37
2.1.2. Tình hình khu vực ...................................................................... 39
2.1.3. Tình hình Việt Nam ................................................................... 41
2.2. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại với ASEAN ............ 43


2.3. Qúa trình thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và thành tựu đạt
được .............................................................................................................. 48
2.4. Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu ..................................... 64
2.4.1. Nhận xét ..................................................................................... 64
2.4.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ...................................................... 65
KẾT LUẬN ......................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 77
PHỤ LỤC ............................................................................................ 80


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi quan trọng, các nước đều chạy

Công tác đối ngoại, đặc biệt là đối ngoại với ASEAN là vấn đề quan trọng
thu hút nhiều nhà nghiên cứu:
Thứ nhất các sách chuyên khảo
Cuốn ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Đào Huy Ngọc (chủ biên),
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội -1997, tác giả đã đề cập đến quan hệ của
Việt Nam từ khi ASEAN thành qua 2 thời kỳ, thời kỳ 1: 1967-1978, thời kỳ
1979 đến nay và chỉ ra một số vấn đề triển vọng khi Việt Nam gia nhập tổ chức
ASEAN.
Trong cuốnViệt Nam – ASEAN: Cơ hội và thách thức, Phạm Đức Thành
(chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội -1998 đã khái quát quan hệ
của Việt Nam với ASEAN và các lĩnh vực hợp tác cụ thể.
Tác giả Đinh Xuân Lý, trong cuốn Tiến trình hội nhập Việt Nam – ASEAN,
Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội -2000 đã trình bày quan điểm chủ trương
của Đảng và Nhà nước ta về quan hệ Việt Nam –ASEAN (1967-1986), đường
lối mở rộng quan hệ và quá trình thực hiện từ 1986 đến nay.
Thứ hai bài báo, tạp chí
Trong bài viết Việt Nam – ASEAN chặng đường đã qua và tương lai
phíatrước. Vũ Dương Ninh -2010, Tạp chí cộng sản số 814 tr: 92-96; Triển vọng
hình thành cộng đồng ASEAN và vai trò của Việt Nam. Phạm Thị Thanh Bình 2010// Tạp chí cộng sản số 817 tr: 87-91. Cuốn tạp chí này nói đến khả năng có
được khi tổ chức ASEAN ra đời và vai trò to lớn của Việt Nam với tổ chức
ASEAN.
Thứ ba luận văn, luận án
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh trong luận vănChính sách đối ngoại của Đảng
với ASEAN từnăm 1995 đến 2010 đã giới thiệu và phân tích chủ trương, đường
lối đối ngoại của Đảng ta với ASEAN trong các giai đoạn 1995-2000, 2001-

2


2005, 2006-2010. Đồng thời nêu những thành tựu và hạn chế của Viêt Nam


Các văn kiện của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí
thư về đường lối đối ngoại.
Những cuốn sách về đối ngoại với ASEAN 1995-2011.
Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu về vấn đề đối ngoại với
ASEAN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đi sâu vào tìm hiểu công tác đối ngoại
của Đảng với ASEAN giai đoạn 1995-2011.
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đi sâu nghiên cứu các chủ trương,
chính sách, nghị quyết của Đảng về công tác đối ngoại.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận khái quát bối cảnh lịch sử và trình bày quá trình Đảng lãnh đạo
công tác đối ngoại với ASEAN từ năm 1995-2011. Rút ra những thành tựu, ưu
điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo và thực hiện.
Khóa luận rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo công
tác đối ngoại.
Khóa luận còn là nguồn tài liệu phục vụ trong việc học tâp, nghiên cứu
của học sinh, sinh viên…
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại với các nước ASEAN từ
1995-2005
Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại với các nước ASEAN từ
2006-2011. Nhận xét và một sốkinh nghiệm chủ yếu.

4



cho 2 nước này. Trong cuộc tập trận “Balikat, Mỹ viện trợ 400 triệu USD để
trang bị và tăng cường khả năng chiến đấu của hải quân Philippines.
Xu hướng chạy đua vũ trang gia tăng. Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều
Tiên… liên tiếp tiến hành các vụ thử tên lửa; Hoạt động quốc tế ngày càng lan
rộng về phạm vi, gia tăng về mức độ bạo lực, khủng bố đang trở thành mối đe
dọa đối với an ninh của các nước trên thế giới. Các vụ khủng bố đẫm máu diễn
ra ở nhiều nơi làm hàng trăm người thiệt mạng như: Vụ bắt cóc con tin ở
Matxcơva (Nga) ngày 23/10/2002; Vụ tấn công một bệnh viện lớn Mombasa
(Keenia) ngày 28/11/2002; Vụ khủng bố trường học Betxlan( Nga)…
Ở Đông Nam Á, 1997 diễn ra khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt đầu ở Thái
Lan. Cuộc khủng hoảng tiền tệ đã để lại cho một số nước ASEAN những hậu
quả nghiêm trọng như nợ nước ngoài. Kinh tế nhiều nước lâm vào khủng hoảng
nghiêm trọng.
Về chính trị, khu vực Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định.
Trước khi xảy ra vụ khủng bố 11/9/2001, một số nước Đông Nam Á đã xảy ra
hoạt động bạo lực vũ trang có liên quan đến tôn giáo. Ngày 5/8/2003 một vụ
đánh bom khách sạn Marriot làm 12 người thiệt mạng và hơn 90 người bị
thương. Những tháng đầu năm 2004, tình hình miền Nam Thái Lan trở nên căng
thẳng. Ngày 28/4/2004, một vụ đụng độ đẫm máu đã xảy ra khi các chiến binh
Hồi giáo đồng loạt nổ súng vào các chốt canh gác của cảnh sát. Trong ngày
3/5/2005 đã xảy ra 3 vụ đánh bom ở khu vực này. Mặc dù các hoạt động khủng
bố ở Đông Nam Á còn han chế, song nếu các nước Đông Nam Á không chế ngự
được xu hướng hồi giáo cực đoan và vấn đề khủng bố thì Đông Nam Á có nguy
cơ mất ổn định tiềm tàng trong khu vực.
Do bị khủng hoảng, ASEAN bị suy yếu, các nước không hỗ trợ được cho
nhau khắc phục khủng hoảng, nội bộ xuất hiện mâu thuẫn mới. ASEAN đã hoàn
thành ý tưởng ASEAN 10, cũng phấn đấu cho hòa bình, ổn định ở khu vực.
Song các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển kinh tế không
đồng đều, các nước có cùng nhu cầu hợp tác, liên kết kinh tế, song cạnh tranh

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX của Đảng do tổng bí thư Nông Đức
Mạnh trình bày đã nêu: “nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm , đạt tốc độ
7


tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2001 2005 là 7,8%[16, tr.55-57].
Ngoài ra Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức bao
trùm lên tất cả là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu
vực vẫn là thách thức to lớn và gay go do điểm xuất phát của ta là quá thấp, ta
lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Ngoài ra, Việt Nam còn
phải đối phó với những khó khăn thách thức khác như: Âm mưu diễn biến hòa
bình của các thế lực thù địch; Tình hình khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và
biển Đông còn diễn biến phức tạp.
Bên cạnh những khó khăn đó nước ta cũng còn nhiều thành tựu đạt được về
kinh tế, những thành tựu đó tạo ra thế và lực mới để nước ta tăng cường, mở
rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới nói chung và các nước trong
khu vực Đông Nam Á nói riêng.
Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về công
tác đối ngoại , trước hết là để củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc
tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình , độc
lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội.
1.1.3. QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ ASEAN TRƯỚC 1995
Quan hệ Việt Nam – ASEAN trước 1995 chưa có nhiều biến đổi sâu sắc,
tuy nhiên cũng có một số sự kiện là tiền đề cho sự hợp tác sau này. Có thể chia
làm 2 thời kỳ:
Thời kỳ 1967 -1978:
Trong giai đoạn đầu mới thành lập, hoạt động phối hợp chung giữa các
nước trong tổ chức ASEAN hầu như chưa có gì nổi bật. Sau tuyên bố

mời tham dự các cuộc họp hàng năm Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN.
Từ năm 1993 ASEAN đã lập cơ chế họp hiệp thương giữa ASEAN và Việt Nam
nhân dịp Hội nghị bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 26 ở Xingapo (1993).
Từ tháng 2-1933, Việt Nam đã tuyên bố “sẵn sàng tham gia ASEAN vào thời
9


điểm thích hợp”. Điều này đã được các nước ASEAN, dư luận khu vực và quốc
tế đánh giá cao. Đáp lại các nước ASEAN tuyên bố “muốn thấy Việt Nam sớm
ra nhập ASEAN”. Với những phát triển ngày càng tích cực và thuận lợi trong
quan hệ Việt Nam – ASEAN, cả về song phương và đa phương, tháng 4/1994
trong chuyến thăm chính thức Indonesia, chủ tịch nước Lê Đức Anh đã tuyên
bố: “cùng với sự hỗ trợ tích cực của ASEAN, Việt Nam đang xúc tiến các công
việc chuẩn bị thiết thực để sớm trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN”.
Như vậy trong thời gian này, Việt Nam đã chuẩn bị mọi điều kiện cần và
đủ để gia nhập vào ASEAN. Đưa đất nước hội nhập và mở rộng quan hệ với
quốc tế.
1.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VỚI
ASEAN
Trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đại hội VIII của Đảng đã đề
ra: Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo
điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế -xã hội, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì
hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội.
Về đường lối đối ngoại, Đại hội VIII tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa
quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Hợp tác
nhiều mặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu

ASEAN…” [14, tr.31].
Là một thành viên của ASEAN, Việt Nam đã nhận thức đúng đắn về vai
trò của khu vực trong quan hệ quốc tế, dành ưu tiên và sự quan tâm cho việc
phát triển quan hệ với các nước trong khu vực. Trong lễ diễn văn khai mạc Hội
nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 34 (AMM 34) diễn ra tại
thủ đô Hà Nội, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định:
“Chính sách ASEAN là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính
sách đối ngoại và hợp tác quốc tế của nhà nước Việt Nam mà định hướng đã
11


được khẳng định là hội nhập kinh tế quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển. Để đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về Hội nhập kinh tế quốc tế lần thứ
IX của Đảng là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường” [16,tr.59].
Nghị quyết cũng chỉ rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế phải: “Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,
công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo
định hướng XHCN, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh”.[4,tr.60].
Nghị quyết cũng chỉ rõ để thực hiện tốt các mục tiêu của hội nhập kinh tế
quốc tế cần xác định:
Một là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá
trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh
tế xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo khôn
khéo và linh hoạt trong xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn

thời tăng cường đoàn kết quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại, phải luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Độc
lập dân tộc phải gắn liền với CNXH, nêu cao lợi ích dân tộc chính đáng” [16,
tr.61].
Nhân dịp năm mới 2003, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên
trong bài trả lời phỏng vấn báo nhân dân đã khẳng định: “Chủ động hội nhập
khu vực và quốc tế trước hết là về kinh tế là chính sách lớn của Đảng và nhà
nước ta” .Để hội nhập tốt trong “ thời gian tới chúng ta sẽ tăng cường chủ động
hội nhập khu vực và quốc tế theo lộ trình phù hợp với khả năng và đáp ứng yêu
cầu của chúng ta cho từng thời kỳ phát triển của đất nước”. Bộ trưởng cũng nhấn
mạnh “Năm tới 2004 chúng ta sẽ đẩy mạnh chuẩn bị nhân sự, pháp lý và tổ chức
trong nước để tham gia AFTA.
13


Để bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại đổi mới trong tình hình mới,
Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (tháng 7/2003) đã
ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó,
Đảng ta đã bổ sung phát triển một số điểm mới về chính sách đối ngoại dựa trên
những nhận định về tình hình thế giới với những điểm mới: “Thế lực hiếu chiến
đã và đang điều chỉnh chiến lược và ráo riết thực hiện ý đồ thiết lập “thế giới
một cực”; bất chấp Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và phản ứng dư luận thế
giới; ngang nhiên can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các nước, kích
động chủ nghĩa ly khai, xung đột tôn giáo, dân tộc và tiến hành chiến tranh ở
nhiều nơi.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa IX đã chỉ
rõ nguyên tắc xác định đối tác và đối tượng: “Những ai chủ trương tôn trọng độc
lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng mối quan hệ hữu nghị hợp tác bình đẳng
cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta; Bất kể thế lực nào có âm
mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và

chính thức, Việt Nam có điều kiện thuận lợi hơn trong việc giúp đỡ Lào. Việt
Nam đã cùng các nước ASEAN khác nhiệt tình thúc đẩy tiến trình gia nhập của
Lào như; “cung cấp các văn kiện, tài liệu về ASEAN cho Lào, phổ biến cho Lào
những kinh nghiệm tham gia hợp tác trong tổ chức hay tích cực vận động sự ủng
hộ và giúp đỡ quốc tế đối với việc gia nhập Hiệp hội của Lào…” [16, tr.32].
Cùng với những nỗ lực của bản thân nước Lào, sự giúp đỡ tích cực và sự hỗ trợ
có hiệu quả của Việt Nam với Myanma ngày 23/7/1997 Lào và Myanma đã
chính thức được kết nạp vào tổ chức ASEAN nâng tổng số thành viên lên 9
nước.
Khác với quá trình gia nhập của Lào, Myanma, việc gia nhập ASEAN của
Campuchia là một vấn đề hết sức phức tạp và gây nhiều tranh cãi trong nội bộ
khối ASEAN vì chưa được sự nhất trí hoàn toàn của các nước thành viên. Việt
Nam, Lào, Myanma, Indonesia và Brunei cho rằng cần sớm kết nạp Campuchia
; Thái Lan và Singapo và Philippin cho rằng Campuchia có đủ điều kiện để tham
gia do tình hình nội bộ của nước này thiếu ổn định có thể gây ảnh hưởng tới nền
15


hòa bình chung của cả Hiệp hội. Cũng chính vì lý do đó mà Lào và Myanma đã
được kết nạp trước Campuchia. Tuy nhiên đối với việc kết nạp Campuchia vào
ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ. Ngay từ năm 1997 Đảng
đã nhận thức rõ ràng rằng: “Cần kết nạp sớm Campuchia vào ASEAN vì lợi ích
của Campuchia, của ASEAN và khu vực” [21, tr.1]. Chính vì vậy, Việt Nam đã
rất cố gắng trong việc thuyết phục các nước thành viên khác của ASEAN và có
những tác động chính trị để làm giảm bớt tình hình căng thẳng, mâu thuẫn giữa
các lực lượng ở Campuchia. Tại hội nghị cấp cao ASEAN 6 tổ chức tại Hà Nội
(tháng 12 năm 1998), Việt Nam đã chuẩn bị trước tài liệu “Lễ kết nạp
Campuchia vào ASEAN” và phân phát cho các thành viên tham dự hội nghị
nhằm tranh thủ sự ủng hộ của tất cả các nước đối với việc kết nạp Campuchia
vào ASEAN. Bên cạnh đó tạo điều kiện thuận lợi cho Campuchia, Việt Nam đã

ARF theo nguyên tắc tiệm tiến, mọi quyết định phải trên cơ sở tham khảo ý
kiến và đồng thuận của tất cả các thành viên; thực hiện trên cơ sở tự nguyện, các
hoạt động của ARF về cơ bản dựa trên các tập quán, phương pháp làm việc của
ASEAN. Việc thành lập ARF là thành công lớn của ASEAN, do tổ chức này
không giống các tổ chức an ninh quân sự khác. ARF được thành lập không
nhằm đối phó với bất kì mối đe dọa hay khủng hoảng nào mà mục đích chủ yếu
của nó là phòng ngừa và ngăn chặn xung đột vũ trang.
Là một thành viên sáng lập ARF, Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực
vào những hoạt động gìn giữ hòa bình, an ninh trong khu vực. Với trọng trách là
chủ tịch ARF nhiệm kì 2000-2001, Việt Nam đã tổ chức Hội nghị ARF lần thứ
8, phối hợp chặt chẽ các nước khác trong ASEAN duy trì những nguyên tắc của
ASEAN. Việt Nam đã dùng các nước ASEAN khác đấu tranh để đảm bảo
nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ” trong giải quyết xung đột,
cùng các nước ASEAN soạn văn kiện Hiệp ước biến Đông Nam Á thành khu
vực phi vũ khí hạt nhân (SEANWFZ). Khi đảm nhiệm vai trò chủ tịch ARF,
Việt Nam đã nêu sáng kiến và tổ chức cuộc họp tham khảo ý kiến giữa các nước
ASEAN với năm nước có vũ khí hạt nhân để tranh thủ năm cường quốc tham
gia Nghị định thư của SEANWFZ.
17


Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị ngoại giao
của ASEAN cũng như giữa ASEAN với các tổ chức khu vực và quốc tế khác
như tham gia Hội nghị an ninh ARF lần thứ nhất diễn ra tại Bắc Kinh (Trung
Quốc) từ 04- 06/11/2004, Hội nghị An ninh lần thứ II tổ chức tại thủ đô Viêng
Chăn (Lào) từ 19- 20/5/2005, đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ quốc phòng,
Trung tướng Phan Trung Kiên dẫn đầu. Việt Nam đã cử nhiều đoàn tham gia
trao đổi về an ninh quốc phòng như tham dự Hội nghị Tư lệnh ASEAN bắt đầu
từ 2003; năm 2005 Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị các nhà đứng đầu các
Học viện Quốc phòng lần thứ 10, họp giám đốc các cơ quan tình báo quân đội

những nguyên tắc ứng xử hợp lý giữa các bên hữu quan, hướng tới duy trì và
củng cố môi trường hòa bình, an ninh khu vực về mục tiêu phát triển. Đó chính
là cơ sở để Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII, ở Phnôm Pênh năm 2002,
Trung Quốc và ASEAN đã ra bản Tuyên bố về ứng xử ở biển Đông, đạt được sự
thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản.
Tháng 11/2002, tại PnômPênh (Campuchia), Việt Nam cùng các nước
ASEAN và Trung Quốc, thông qua Tuyên bố bộ quy tắc ứng xử Biển Đông,
Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công hội nghị Liên minh Nghị viện quốc
hội AIPO 23(9/2002), Diễn đàn Nghị viện Châu Á- Thái Bình Dương lần thứ 13
(APPF – 13) tháng 1/2005. Việt Nam đã tích cực và chủ động trong việc đóng
góp nội dung cho tuyên bố Bali II (10/2003) và dự thảo Cộng đồng an ninh
ASEAN (ASC). Khi dịch SARS bùng nổ, đích thân Thủ tướng Phan Văn Khải
đã tham dự Hội nghị cấp cao về SARS năm 2003.
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN 10 được tổ chức tại Viêng Chăn tháng
11/2004, Việt Nam đã có những đóng góp thiết thực như tích cực phối hợp với
Lào và các nước ASEAN xây dựng chương trình hành động Viêng Chăn (VAP),
bảo đảm VAP kế thừa chương trình hành động Hà Nội, vừa có những nội dung
mới về những lĩnh vực hợp tác mới của ASEAN. Việt Nam cũng xây dựng các
văn kiện khác như Kế hoạch hành động Cộng đồng An ninh ASEAN. Tại Hội
nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu luận điểm:
ASEAN phải biến cấp cao Viêng Chăn thành cấp cao hành động, tập trung bàn

19


các biện pháp cụ thể để thực hiện chương trình hành động Viêng Chăn và các
thỏa thuận được ký kết.
Về hợp tác an ninh chính trị, Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng ASEAN
cần tập trung vào 3 hướng chính là tranh thủ các nước bên ngoài tham gia Hiệp
ước Thân thiện và hợp tác Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status