Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tổng quan
Đề tài khoa học cấp bộ năm 2006
Đảng lnh đạo CÔNG TáC XÂY DựNG Hệ THốNG Tổ CHứC
đảNG ở bắC kỳ TRONG THờI Kỳ 1930 -1945 Cơ quan chủ trì:
Viện Lịch sử Đảng
Chủ nhiệm đề tài:
TS Nguyễn HữU CáT
Th ký đề tài:
THS, TRầN tRọNG tHƠ
dựng hệ thống tổ chức Đảng, sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác xây
dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ 1930-1945
7
1.1. Quan điểm của Đảng và Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống tổ chức
Đảng thời kỳ 1930-1945
7
1.2. Sự chỉ đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng hệ
thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ 1930 - 1945.
23
Chơng II: Qúa trình hình thành và phát triển hệ thống tổ chức Đảng ở
Bắc Kỳ thời kỳ 1930-1945
38
2.1. Hình thành và bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ giai đoạn
1930-1935
38
2.2. Khôi phục hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ giai đoạn 1936-1939 50
2.3. Khôi phục và phát triển hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ giai đoạn
1939 -1945
63
Chơng III. Đặc điểm, vai trò, phơng thức và kinh nghiệm xây dựng hệ
thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ 1930-1945
96
3.1. Đặc điểm và vai trò 96
3.2. Phơng thức xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ
1930-1945
108
3.3. Một số kinh nghiệm 112
Kết luận 115
Danh mục tài liệu tham khảo 119
II. Tình hình nghiên cứu.
Đây là một vấn đề đã đợc đề cập ở một số công trình lịch sử Đảng cấp
Trung ơng, cấp địa phơng. ở cấp Trung ơng, có thể kể đến những công trình
nghiên cứu cơ bản, những chuyên khảo nh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
(sơ thảo), tập 1 (1920-1954), Nxb Sự thật, 1981; Lịch sử Cách mạng tháng Tám
1945, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995; Đảng Cộng sản Việt Nam, các đại hội và
hội nghị Trung ơng, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1998... ; những công trình
nghiên cứu về các đồng chí lãnh đạo của Đảng nh: Trần Phú, Lê Hồng Phong,
Trờng Chinh, Hoàng Văn Thụ, ..; những công trình nghiên cứu về các nhà tù:
Hoả Lò, Sơn La. Viện Lịch sử Đảng cũng đã thực hiện hai đề tài cấp bộ là: Vai
trò của các Xứ ủy trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-1945,
(nghiệm thu năm 1997) và Hệ thống tổ chức Đảng cấp tỉnh thành (nghiệm thu
năm 1999).
ở cấp địa phơng, cho đến nay hầu hết các địa phơng đã hoàn thành việc
nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lịch sử Đảng bộ cấp tỉnh, thành phố, huyện,
quận về giai đoạn lịch sử Đảng 1930-1945 trong đó có đề cập đến công tác xây
dựng Đảng của các Đảng bộ.
Trong những năm gần đây, Tạp chí Lịch sử Đảng đã đăng tải một số bài
nghiên cứu về sự khôi phục và phát triển của tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ giai đoạn
1939-1945.
Tuy nhiên, cha có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ,
toàn diện, có hệ thống cũng nh rút ra những kinh nghiệm về công tác xây dựng
hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-1945.
III. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những quan điểm, chủ trơng và quá trình hình thành và phát triển
của hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và vai trò của nó trong công tác xây dựng
Đảng cũng nh trong công cuộc vận động cách mạng ở Bắc Kỳ 1930-1945.
5
- Sản phẩm của đề tài góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử
VII. Sản phẩm của đề tài
- Đề tài đã thực hiện 6 chuyên đề chuyên sâu tập hợp thành Kỷ yếu khoa
học gồm 177 trang.
- Bản Tổng quan ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu, bao gồm 3 chơng
và kết luận với tổng số 124 trang.
VIII. Triển vọng ứng dụng
Sản phẩm nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy Lịch sử Đảng thời kỳ 1930-1945.
Kết quả nghiên cứu góp phần gợi mở một số kinh nghiệm vào công tác
lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng.
IX. Kết cấu của Tổng quan
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, tổng quan đợc kết
cấu thành 3 chơng và kết luận
7
Chơng I
quan điểm, Chủ trơng của Đảng và Hồ Chí Minh về
xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, sự chỉ đạo của Đảng
đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở
Bắc Kỳ thời kỳ 1930 - 1945
1.1. Quan điểm, chủ trơng của Đảng và Hồ Chí Minh
1
về xây
dựng hệ thống tổ chức Đảng thời kỳ 1930-1945
Khi đề cập đến vấn đề tổ chức và vai trò của nó, những nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ tổ chức là vũ khí chủ yếu của giai cấp vô sản
1930 - 1945, căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn lịch sử và điều
kiện cụ thể của từng địa bàn, Đảng và Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trơng chỉ
đạo về công tác xây dựng hệ thống tổ chức cho toàn Đảng, cho từng địa
phơng, đảm bảo cho Đảng lãnh đạo thắng lợi công cuộc đấu tranh giành
chính quyền.
Những chủ trơng, nguyên tắc, định hớng về công tác xây dựng tổ
chức Đảng đợc thể hiện qua các bản Điều lệ Đảng, các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, qua các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, là kim chỉ nam cho
công tác xây dựng, khôi phục, củng cố và phát triển hệ thống tổ chức cho toàn
Đảng và cho các Đảng bộ.
Đầu năm 1930, tại Hồng Kông (Trung Quốc), Nguyễn ái Quốc triệu
tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nớc thành Đảng
Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt và
Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Điều lệ vắn tắt quy định hệ thống tổ chức của Đảng nh sau:
Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xởng, một
hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đờng phố
Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ:
Huyện bộ gồm tất cả các chi bộ trong một huyện.
Thị bộ gồm tất cả các chi bộ trong một châu thành nhỏ.
Khu bộ gồm tất cả các chi bộ trong khu của một thành phố lớn nh
Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải phòng, Hà Nội hay một sản nghiệp lớn nh mỏ Hòn
Gai.
9
Tỉnh bộ, Thành bộ hay đặc biệt bộ:
Tỉnh bộ gồm các huyện bộ, thị bộ trong một tỉnh.
Thành bộ gồm tất cả các khu bộ trong một thành phố.
Đặc biêt bộ gồm tất cả các khu bộ trong một sản nghiệp lớn.
Trung ơng
10
ban chuyên môn nề giới để vận động() Đảng bộ thợng cấp và hạ cấp phải
liên lạc mật thiết luôn luôn thì Đảng với quần chúng mới khỏi xa nhau. Phải
tổ chức cho nhiều cách giao thông để cho các cấp đảng bộ xa nhau thờng
không tin tức cho mau và chuyên (tỉnh ủy với xứ ủy, xứ ủy với Trung ơng, xứ
ủy này với xứ ủy khác, Trung ơng với các đảng huynh đệ nh Pháp và Tàu,
Trung ơng với Quốc tế Cộng sản
1
.
án Nghị quyết Hội nghị cũng nêu rõ cần tổ chức nhiều cách giao
thông để quan hệ giữa các cấp bộ Đảng đợc liên tục; tranh thủ phong trào
đấu tranh để phát triển tổ chức, tích cực thu nạp đảng viên mới, lập ra các chi
bộ làng; chú ý lấy phụ nữ, thợ thuyền vào Đảng; tăng cờng và nâng cao chất
lợng sinh hoạt chi bộ.
Hội nghị thông qua Điều lệ của Đảng Cộng sản Đông Dơng, quy
định rõ hệ thống tổ chức Đảng có 6 cấp: Trung ơng, Xứ bộ, Tỉnh bộ hoặc
Thành bộ, Huyện bộ, Tổng bộ và Chi bộ, gồm:
a, Chi bộ: Mỗi cái sản nghiệp, nhà buôn, hoặc đờng phố, làng, trại
lính có ban cán sự chi bộ chỉ huy.
b, Tổng bộ (ở nhà quê) có một ban tổng ủy chỉ huy.
c, Huyện bộ (ở các tỉnh), khu bộ (các thành phố, các vùng đồn điền, các
vùng mỏ) có một ban huyện ủy hay khu ủy chỉ huy.
d, Tỉnh bộ hoặc thành bộ (thành bộ Hà Nội, Hải Phòng, Vinh - Bến
Thủy, Huế, Tourane [Đà Nẵng- TG] Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Vang) hoặc đặc
biệt bộ các địa phơng đồn điền, mở rộng nh một tỉnh) có ban tỉnh, thành ủy,
hoặc đặc ủy chỉ huy.
đ, Xứ bộ (Trung, Nam, Bắc, Cao Miên, Lào) có Ban Xứ ủy chỉ huy.
e, Trung ơng
2
Đại hội cử ra.
- Các Đảng bộ mỗi cấp cử ủy viên thì phải báo cáo là thợng cấp.
- Đảng bộ hạ cấp thì phải nhất định thừa nhận Nghị quyết của thợng
cấp, phải giữ kỷ luật Đảng, phải chấp hành các Nghị quyết của Quốc tế Cộng
sản và các cơ quan chỉ huy của Đảng một cách thiết thực và mau mắn.
12
- Cơ quan chỉ huy một địa phơng tức là thợng cấp các bộ phận trong
địa phơng đó.
- Các đảng viên đối với các vấn đề trong Đảng chỉ có quyền thảo luận
trong Đảng bộ mình khi các vấn đề ấy cha có Nghị quyết ra. Các Nghị quyết
của Quốc tế Đại hội hoặc Đảng Đại hội, hoặc của các cơ quan chỉ huy thì các
Đảng bộ phải nhất định chấp hành, dầu có một bộ phận đảng viên hoặc mấy
địa phơng Đảng bộ không đồng ý với Nghị quyết ấy cũng cứ phải chấp hành.
b) Trong hoàn cảnh bí mật, khi cần kíp thì thợng cấp cơ quan có quyền
chỉ định hạ cấp cơ quan. Nếu đợc thợng cấp cơ quan phê cho thì có phép chỉ
định ủy viên mới gia vào Đảng bộ ủy viên.
c) ở trong phạm vi Nghị quyết Quốc tế và Đảng thì Đảng bộ địa
phơng nào có quyền giải quyết các vấn đề trong địa phơng ấy.
d) Cơ quan cao nhất của các cấp Đảng bộ là toàn hội chi bộ hoặc hội
nghị của các cấp ấy hoặc Đảng Đại hội.
Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dơng (10-1930) cũng xác định chi bộ là
nền tảng của Đảng, là một trong những khâu quan trọng trong hệ thống tổ
chức và trong việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Điều lệ nêu ra rằng:
a) Căn bản tổ chức của Đảng là chi bộ (lò máy, mỏ, công sở, nhà buôn,
trờng học v.v..). Tất cả đảng viên làm ở chỗ ấy đều phải vào chi bộ. Nơi nào
có ba đảng viên trở lên, đợc tổ chức một chi bộ mới, nhng phải do cơ quan
chỉ huy kề đó chuẩn y.
Cộng sản là một đội tiền phong lãnh đạo hành động cách mạng chớ không
phải là một hội thảo luận nghiên cứu suông, cho nên Đảng không phải là một
bầy bè phái, Đảng phải thành một đoàn thể có t tởng và hành động thống
nhất () Đảng tổ chức theo cách dân chủ tập trung. Dân chủ trong Đảng
nghĩa là các cơ quan chỉ huy từ dới lên trên đều do đảng viên cử ra, các
đảng bộ ở các địa phơng có quyền tự trị về việc địa phơng, nghĩa là trong
phạm vi nghị quyết chung của Đảng thì các đảng bộ địa phơng có thể phát
sinh hết sáng kiến và tự động của họ. Còn tập trung nghĩa là hết thảy cơ quan
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H. 1999, tập 3, tr. 104.14
dới phải phục tùng cơ quan trên mà cơ quan chỉ huy cao hơn hết là Trung
ơng. Tuy nhiên Đảng Cộng sản không phải cứ sùng bái hai chữ dân chủ, khi
nào cũng thực hành mà không kể gì đến thời buổi và điều kiện làm việc. Trái
lại, gặp lúc khủng bố dữ dội, khó khăn cản trở nhiều mà công việc lại cấp
bách thì không thể theo dân chủ đợc, không phải bầu cử gì hết mà chỉ phải
trên chỉ định xuống mà thôi. Nếu hoàn cảnh thuận tiện thì tất nhiên phải thực
hành hoàn toàn dân chủ. Vậy cho nên ý nghĩa dân chủ không phải là một quy
tắc nhất định, nhng phải tùy theo từng lúc mà mở rộng hay thâu hẹp"
1
.
Về xây dựng chi bộ sản nghiệp, Hội nghị yêu cầu các đảng bộ phải coi
chi bộ sản nghiệp là căn bản tổ chức, là tổ chức cơ sở căn bản, phải xoay
hớng về chi bộ, nhất là chi bộ nhà máy. Hội nghị chỉ thị các đảng bộ căn
cứ vào sản nghiệp mà tổ chức căn bản - nghĩa là theo chỗ làm việc của quần
chúng công nhân mà đặt chi bộ, chứ không phải theo chỗ ở của đảng viên.
Cuối 1931, đầu 1932, đế quốc Pháp tiến hành khủng bố đẫm máu,
hàng ngàn cán bộ, đảng viên bị bắt, hầu hết các tổ chức Đảng bị phá vỡ.
Trớc tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã tăng cờng chỉ đạo giúp đỡ Đảng
Cộng sản Đông Dơng khôi phục tổ chức, ổn định t tởng cho cán bộ, đảng
viên.
Đợc sự chỉ đạo, giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài
của Đảng Cộng sản Đông Dơng đợc thành lập năm 1934, do đồng chí Lê
Hồng Phong đứng đầu. Sau khi thành lập, Ban Chỉ huy ở ngoài bắt tay ngay
vào việc tiếp tục chỉ đạo việc khôi phục, củng cố và xây dựng hệ thống tổ
chức cơ sở Đảng; thống nhất lực lợng trong cả nớc; chuẩn bị Đại hội đại
biểu lần thứ nhất của Đảng.
Từ 27 đến 31-3-1935, Đảng Cộng sản Đông Dơng tiến hành Đại hội
đại biểu lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội hoạch định đờng lối,
chính sách trong tình hình mới và bầu ra Ban Chấp hành Trung ơng chính
thức để lãnh đạo phong trào toàn xứ
Đại hội nhận định, hệ thống tổ chức của Đảng bị địch phá vỡ đã đợc
khôi phục. Tuy nhiên, Đảng vẫn cha phát triển mạnh ở những vùng công
nghiệp tập trung; công nhân ra nhập hàng ngũ Đảng còn ít; hệ thống tổ chức
của Đảng cha đợc thống nhất; sự liên lạc giữa cấp trên và cấp dới cha
thật thông suốt...
Đại hội đề ra những nhiệm vụ chính của toàn Đảng, trong đó củng cố,
phát triển Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đại hội chỉ rõ: nhiệm vụ của các Đảng
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 3, sđd, tr.110.
16
bộ lúc này là củng cố lực lợng đảng viên hiện tại; tìm và lập mối liên lạc với
các cơ sở Đảng, các đảng viên lẻ tẻ ở khắp các miền nh miền trung châu Bắc
thi hành nh cũ.
Điều lệ cũng lu ý: Trong điều kiện công tác bí mật, nếu đợc các cơ
quan thợng cấp của Đảng đồng ý thì các Ban ủy viên hạ cấp có thể bị chỉ
định, nghĩa là không do đại biểu hội nghị của Đảng bộ tơng đơng cử ra, hay
là có thể liên hiệp tuyển cử với sự chỉ định, nghĩa là một bộ phận ủy viên do
đại biểu hội nghị cử ra, còn một bộ phận nữa thì chỉ định ra; Vì nguyên nhân
công tác bí mật, nên Ban ủy viên có thể không do đại biểu hội nghị cử ra, mà
chỉ do thợng cấp cơ quan chọn những phần tử hăng hái hơn hết trong chi bộ,
trong các Đảng đoàn của Công hội, của các đoàn thể quần chúng mà thiết lập
ra.
Điều lệ cũng tiếp tục nhấn mạnh: "Căn bản về đờng lối tổ chức của
Đảng là chi bộ sản nghiệp (nhà máy, mỏ, đồn điền, công xởng, công sở, trại
lính, trờng học v.v..). Tất cả đảng viên làm trong một sản nghiệp đều phải
vào chi bộ đó. Các đảng viên khác nh thủ công, trí thức, tiểu thơng gia,
ngời đi ở v.v.. thì lấy chỗ làm của họ làm gốc mà tổ chức ra chi bộ đờng
phố. Các làng xã thì tổ chức ra chi bộ làng xã"
1
.
Về hệ thống tổ chức Đảng, Điều lệ vẫn phân thành 6 cấp: Trung ơng,
Xứ uỷ, Tỉnh bộ hoặc Thành bộ, Huyện bộ, Tổng bộ và Chi bộ. Điều lệ ghi Hệ
thống tổ chức của Đảng nh sau:
a, Toàn Đông Dơng đại biểu Đại hội: Trung ơng;
1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H. 2002, tập 5, tr.120. Vấn đề
coi chi bộ sản nghiệp là tổ chức cơ sở căn bản của Đảng hoàn toàn cha nhận đợc sự nhất trí cao
và trở thành quan niệm nhất quán trong khoảng thời gian từ 1931 đến 1935. Tài liệu Trật tự tiến
hành công tác cách mạng do BCHON soạn thảo để huấn luyện cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo vào
năm 1934 lại quan niệm:
tỉnh ấy, xứ ủy có thể ủy quyền cho thành ủy (ở tỉnh lỵ) tạm thời phụ trách chỉ
huy công tác khắp toàn tỉnh, nh tỉnh ủy và thành ủy mà cha thành lập, và xứ
ủy lại không thể trực tiếp chỉ huy đợc mau và sát, thì xứ ủy có thể tạm thời
giao các đảng bộ trong tỉnh ấy cho một tỉnh ủy gần đấy chỉ huy.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, sđd, tr.119 - 120.
19
- Huyện, châu, quận, phủ, khu mà cha có huyện, châu, quận, phủ, khu
ủy thì tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo các đảng bộ trong huyện, châu, quận, phủ, khu
ấy
1
.
Về vấn đề Đảng đoàn, Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dơng (3-1935)
ấn định: Trong các tổ chức quần chúng của Đảng, có từ hai đảng viên trở lên
thì lập ra Đảng đoàn nhằm mở rộng ảnh hởng của Đảng và thực hành chính
sách của Đảng; Đảng đoàn dới quyền chỉ huy của Đảng ủy tơng đơng ...
Điều lệ Đảng do Đại hội lần thứ nhất thông qua đã kế thừa và bổ sung
một số nội dung các Điều lệ của Đảng đã ban hành trớc đó, là cơ sở cho sự
khôi phục và phát triển hệ thống tổ chức của Đảng trong những năm 1936-
1939.
Tuy nhiên, ngoài Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dơng, Đại hội còn
thông qua Nghị quyết về hệ thống tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban chỉ
huy ở ngoài (BCHON), trong đó có một số qui định mối quan hệ giữa Ban chỉ
huy ở ngoài với Ban Trung ơng là cơ quan cao hơn Ban Chấp hành Trung
ơng; qui định mối quan hệ giữa Ban chỉ huy ở ngoài với các xứ uỷ. Nghị
quyết nêu rõ các xứ ủy do Ban Chấp hành Trung ơng chỉ đạo trực tiếp nhng
đề phòng sự bất trắc khi bị địch khủng bố, mất liên lạc, phải trực tiếp liên lạc
với Ban chỉ huy ở ngoài; mỗi lần báo cáo công tác với Ban Chấp hành Trung
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Trớc sự đàn áp
dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hệ thống tổ chức Đảng các cấp bị
tổn thất nặng nề. Trớc tinh thần đó, song song với việc vạch ra đờng lối cho
cuộc vận động giải phóng dân tộc, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Đảng đặc
biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức Đảng.
Trong điều kiện địch khủng bố, Đảng có một số hiệu chỉnh về hệ
thống tổ chức của Đảng. Hội nghị Trung ơng tháng 11-1939 nhấn mạnh vai
trò của các tỉnh uỷ, cho đó là một khâu, một mắt xích quan trọng trong toàn
bộ hệ thống. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ơng (11-1940) chủ
trơng hết sức củng cố, mở rộng tổ chức Đảng cùng với củng cố mặt trận.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ơng thông qua Điều lệ
tóm tắt của Đảng. Điều lệ nhấn mạnh, Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất
của giai cấp vô sản, gồm những ngời giác ngộ nhất, kiên quyết đấu tranh
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H. 2002, tập 6, tr.363.21
nhất của giai cấp vô sản. Đảng có kỷ luật sắt, thống nhất hành động và t
tởng. Đảng là tổ chức bí mật, nhiệm vụ của Đảng là lấy công tác quần
chúng làm trung tâm, giữ quyền lãnh đạo giai cấp vô sản trong các cuộc
vận động cách mạng. Nguyên tắc tổ chức của Đảng vẫn đợc Điều lệ khẳng
định là dân chủ tập trung. Theo đó:
a) Từ dới lên trên, các cơ quan chỉ đạo của Đảng ở cấp nào đều do đại
biểu đại hội của cấp ấy cử ra.
b) Các cơ quan hạ cấp nhất định phải thờng lệ báo cáo công tác của
mình lên thợng cấp.
khu cũng vậy). Xứ đại biểu Hội nghị cử ra ban xứ uỷ. Toàn Đông Dơng đại
biểu đại hội cử ra Ban Trung ơng Chấp hành uỷ viên( ) Nơi nào ba, bốn
tỉnh liền nhau mà cơ sở Đảng phát triển thì muốn tiện việc chỉ huy, xứ uỷ có
thể thơng lợng với Trung ơng lập ra các ban liên tỉnh để chỉ huy ba, bốn
tỉnh ấy. Xứ nào cha lập đợc xứ uỷ thì Trung ơng phải trực tiếp chỉ huy các
đảng bộ trong xứ ấy. Trung ơng lại có thể uỷ quyền cho ban uỷ viên của
Đảng ở tỉnh nào hay Liên tỉnh nào mạnh nhất trong xứ ấy tạm thời chỉ huy
các đảng bộ toàn xứ
2
.
Hệ thống Đảng đoàn vẫn đợc xác nhận và đợc coi là một công cụ để
mở rộng ảnh hởng của Đảng và thực hành chính sách của Đảng trong các
đoàn thể.
Những qui định về nguyên tắc tổ chức và những bổ sung trong Điều lệ
tóm tắt sau đó đợc quán triệt sâu hơn qua các chỉ thị của Đảng đã đóng vai
trò quan trọng trong quá trình khôi phục và củng cố hệ thống tổ chức của
Đảng giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.
Trong những ngày sục sôi không khí chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Hội
nghị toàn Đảng diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 - 8-1945, tại Tân Trào (Tuyên
Quang), trong khi quyết định lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 7, tr.141.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 140.
23
quyền đã tiếp tục nhấn mạnh vấn đề phát triển và củng cố Đảng. Đặc biệt, lần
đầu tiên Đảng đặt nhiệm vụ phát triẻn Đảng trong lực lợng vũ trang. Nghị
quyết Hội nghị viết: phải tổ chức đảng trong quân giải phóng Việt Nam (lấy
24
ngời công nhân, nếu là công nhân sản nghiệp càng tốt; trong xứ uỷ, phải
bầu một ban Thờng vụ ba ngời để chỉ huy và lập ra các Ban chuyên môn.
Thông cáo còn nêu rõ: ở những thành phố mà Xứ uỷ đóng thì giải tán thành
uỷ, lập ra các khu uỷ, do xứ uỷ trực tiếp chỉ huy. Xứ uỷ phải căn cứ theo Điều
lệ mới để định ra quyền hạn của các tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc uỷ.
Tiếp đó, Đảng ra chỉ thị về những nhiệm vụ tổ chức cần kíp của Đảng.
Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ toàn Đảng, trong đó có các Đảng bộ Bắc Kỳ coi
trọng vai trò của các chi bộ công xởng, xởng chế tạo, coi đó là cơ sở của
Đảng trong các thành phố và trung tâm công nghiệp để Đảng có thể tiến lên
tổ chức và lãnh đạo đợc cách mạng.
Cuối năm 1930 đầu 1931, do địch khủng bố, Xứ ủy Bắc Kỳ lâm vào
tình trạng phân tán trong lãnh đạo, thiếu chỉ huy thống nhất, Ban Thờng vụ
Xứ ủy cha đợc thành lập, đã làm ảnh hởng rất nhiều đến phong trào và
xuất hiện t tởng nơng tựa vào Trung ơng, muốn cơ quan chỉ đạo của
Trung ơng đóng tại Bắc Kỳ.
Trớc tình hình đó, Trung ơng kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong
công tác tổ chức của Đảng bộ Bắc Kỳ. Ngày 26 - 1- 1931, Ban Thờng vụ
Trung ơng gửi th cho Xứ uỷ Bắc Kỳ thông báo điều kiện hiện tại không cho
phép Trung ơng đóng cơ quan ở Bắc Kỳ; đồng thời chỉ thị cho Xứ uỷ tiến
hành tổ chức lại nội bộ Đảng, tổ chức Hội nghị đại biểu một số đảng bộ lớn
trong xứ nh Hải Phòng, Nam Định, Phủ Lý, Hòn Gay để cử ra Xứ uỷ mới,
đảm bảo cho Xứ uỷ có đợc sự tin tởng của các tỉnh uỷ trong xứ.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (3 -1931) phê
phán Xứ uỷ Bắc Kỳ về việc không nắm đợc qui tắc tổ chức của Đảng, không
nhận rõ ý nghĩa tập trung của Đảng nên giải tán cơ quan tập trung (Xứ uỷ Bắc
Kỳ không có Th
ờng vụ), hoạt động chia tách, phân công các xứ uỷ viên mỗi