chủ trương vận động nông dân của đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930 1945 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

KIỀU VINH TRỌNG

CHỦ TRƢƠNG VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH
QUYỀN (1930 - 1945)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

KIỀU VINH TRỌNG

CHỦ TRƢƠNG VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH
QUYỀN (1930 - 1945)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Hiển


ĐCSVN:

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐQCN:

đế quốc chủ nghĩa

CMDTDCND:

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

GPDT:

giải phóng dân tộc

HN:

Hà Nội

Nxb.:

Nhà xuất bản

QTCS:

Quốc tế Cộng sản

5



1.2.1. Vấn đề nông dân trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên

23

1.2.2. Vận động nông dân đấu tranh trong cao trào cách mạng năm 1930

26

1.3. Vận động nông dân từ tháng 10-1930 đến năm 1935

32

1.3.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

32

1.3.2. Vận động nông dân trong cuộc đấu tranh khôi phục lực lượng cách mạng

45

Tiểu kết

47

Chƣơng 2: CHỦ TRƢƠNG VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG TRONG

48

PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 - 1939


82

6


3.2.1. Chỉ đạo xây dựng các tổ chức trong nông dân

82

3.2.2. Chỉ đạo phong trào đấu tranh của nông dân

89

Tiểu kết

100

Chƣơng 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

102

4.1. Một số nhận xét

102

4.2. Một số kinh nghiệm

120


Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên)
của Đảng nêu rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa
vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong
kiến”. Nông dân cùng với công nhân trở thành “gốc của cách mạng”, động lực của
cách mạng. Cương lĩnh chính trị
Công tác vận động nông dân giữ vị trí quan trọng, nền tảng tập hợp các giai cấp
khác trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong mỗi giai đoạn, căn cứ vào
đặc điểm tình hình thế giới và trong nước, Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể, đề ra
những chủ trương vận động, tổ chức, lãnh đạo nông dân đấu tranh phù hợp. Thắng
lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận động nông dân, tiến tới
thành lập chính quyền cách mạng.

8


Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, trong đó
nông dân luôn là lực lượng chiếm số đông trong dân số; vấn đề nông nghiệp, nông
dân và nông thôn vẫn luôn có vị trí rất quan trọng, cấp bách. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu, tổng kết, đánh giá kinh nghiệm cuộc vận động nông dân của Đảng
trong tiến trình cách mạng luôn có giá trị lịch sử, mà còn có tính thực tiễn và khoa
học sâu sắc. Qua đó, nhằm khẳng định vai trò to lớn của nông dân trong tiến trình
cách mạng, đồng thời nhằm phát huy sức mạnh to lớn của nông dân trong khối đại
đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo. Vì vậy,
tôi chọn đề tài Chủ trương vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đấu tranh
giành chính quyền (1930 - 1945) để viết đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch
sử ĐCSVN.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Vấn đề vận động nông dân được đề cập đến trong nhiều công trình có liên quan
khác nhau, thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Căn cứ vào nội dung

chất nguyên tắc về đường lối cách mạng đối với một nước nông nghiệp lạc hậu thể
hiện trên các lĩnh vực: xây dựng đội quân cách mạng, xây dựng chính quyền dân
chủ nhân dân, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi trên cơ sở liên minh
công nông, xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, kết hợp khởi nghĩa vũ trang ở nông
thôn với phong trào đấu tranh ở đô thị… Tác giả đánh giá vấn đề nông dân là vấn đề
chủ yếu của cách mạng Việt Nam, đánh giá đúng vị trí của vấn đề nông dân: “Ở
thuộc địa, vấn đề dân tộc tức là vấn đề nông dân. Vì tinh thần dân tộc của nông dân
rất cao, không ai tha thiết với mảnh đất Tổ quốc bằng nông dân, cho nên ngoài giai
cấp vô sản ra, cũng không ai tha thiết với việc giải phóng dân tộc bằng nông dân”
[18; tr.37]. Đồng thời, tác giả cũng phân tích sâu sắc những yêu cầu của nông dân
trong xã hội thuộc địa; khẳng định yêu cầu số một của nông dân ở thuộc địa là vấn
đề độc lập dân tộc chứ không phải ruộng đất, chống phong kiến chỉ là khẩu hiệu thứ
yếu…
Tác giả Chu Đức Tính với Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc giải quyết vấn đề dân
tộc dân chủ trong cách mạng Việt Nam (1930 - 1954), Nxb. Chính trị quốc gia, HN,
2001. Tác giả phân tích tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX; mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải giải quyết, trong đó nhấn mạnh: “nhiệm
vụ chống đế quốc cấp bách và bao trùm hơn, vì đánh đuổi được đế quốc, giành được
độc lập dân tộc là đã đồng thời giải quyết một phần nhiệm vụ dân chủ, đã đánh đổ
và chặt đứt chỗ dựa của chế độ phong kiến [107; tr.12]. Tác giả cũng phân tích
những quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giải

10


quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược độc lập dân tộc và CMRĐ của
nông dân…
Lê Thị Quỳnh Nga với Quá trình thực hiện chủ trương cách mạng ruộng đất của
Đảng ở tỉnh Thanh Hóa, luận án tiến sĩ lịch sử, trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn, 2010. Luận án phân tích sâu sắc những biến chuyển của xã hội Việt Nam

cấp nông dân, mối quan hệ giữa địa chủ với nông dân…) và phong trào nông dân,
nhưng ít nhiều có đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng
Hội Nông dân Việt Nam với tác phẩm Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông
dân Việt Nam (1930 - 1995), Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 1998: tổng kết quá trình
hình thành, phát triển của phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam từ khi có
Đảng lãnh đạo, đánh giá, phân tích vai trò giai cấp nông dân Việt Nam, rút ra những
kinh nghiệm lãnh đạo phong trào nông dân và tổ chức Hội Nông dân Việt Nam.
Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp với tác phẩm Vấn đề dân cày, Nxb. Sự thật,
HN, 1959. Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng vào
thực tiễn khảo sát về đời sống nông dân, hai tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng của
nông thôn Việt Nam dưới ách áp bức thực dân, phong kiến. Các tác giả đặt vấn đề
về ruộng đất và dân cày là trụ cột của Đông Dương, phân tích về địa vị giai cấp, vị
trí, khuynh hướng và tính chất của giai cấp nông dân. Cuốn sách tố cáo tội ác của đế
quốc và phong kiến, phản ánh trung thực đời sống cơ cực của giai cấp nông dân
Việt Nam, nêu rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến vì độc
lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, vạch rõ con đường và phương hướng giải
quyết vấn đề ruộng đất ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt và trong tương lai.
Qua cuốn sách, tác giả dành nhiều trang viết để trình bày những vấn đề ruộng đất,
địa tô, sưu thuế, cho vay nặng lãi, hối lộ, giáo dục… đồng thời cũng nêu lên những
yêu sách của dân cày Đông Dương trước Mặt trận nhân dân Pháp.
Minh Tranh với Một số ý kiến về nông dân Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
1959. Cuốn sách đề cập đến những nội dung chính: những đặc điểm chính của
phong trào nông dân Việt Nam trong lịch sử; nông dân Việt Nam và cách mạng; vấn
đề nông dân trong cách mạng dân tộc… Đặc biệt, tác giả đã phân tích sâu sắc đặc
điểm tình hình xã hội Việt Nam dưới thời thuộc địa, trong đó nhấn mạnh những
mâu thuẫn giữa nông dân với thực dân xâm lược cao hơn hết: “Ở thuộc địa, vấn đề
dân tộc tức là vấn đề nông dân. Vì tinh thần dân tộc của nông dân rất cao, không ai
tha thiết với mảnh đất Tổ quốc bằng nông dân, cho nên ngoài giai cấp vô sản ra
cũng không ai tha thiết với việc giải phóng dân tộc bằng nông dân” [18; tr.37].


Đảng trong từng giai đoạn cách mạng, đồng thời trình bày khái quát phong trào đấu
tranh của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nguyễn Thị Ngọc Mai với đề tài Tìm hiểu giai cấp địa chủ Việt Nam ở đồng
bằng Bắc Bộ từ đầu thế kỷ XX đến trước cuộc cải cách ruộng đất, luận văn khoa

13


học lịch sử, 2010. Luận văn khái lược về giai cấp địa chủ Việt Nam thời cận đại,
chính sách thuộc địa của người Pháp đối với nông thôn và sự biến đổi của giai cấp
địa chủ Việt Nam thời cận đại. Tìm hiểu diện mạo kinh tế của giai cấp Việt Nam ở
đồng bằng Bắc Bộ; Nghiên cứu một số luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
QTCS về vấn đề ruộng đất, nông dân và địa chủ; thái độ của địa chủ Việt Nam đối
với cuộc CMDTDCND. Qua đó, làm rõ những đặc trưng cơ bản của giai cấp địa
chủ Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Kỳ nói chung trong hành trình của cuộc
CMDTDCND (1930 - 1953) như về địa vị kinh tế, phương thức bóc lột, mối quan
hệ với các giai cấp, tầng lớp khác, vị thế xã hội, thái độ chính trị và quá trình
chuyển biến của giai cấp địa chủ trong thời kỳ này. Đặc biệt, luận văn khái quát một
số luận điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản về vấn đề
ruộng đất, nông dân và địa chủ; chủ trương vận động nông dân của Đảng trong thời
kỳ 1930 - 1945.
3. Những công trình viết về sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng ở địa phương
Các công trình Lịch sử Đảng bộ địa phương được xuất bản như: Hà Nội, Cao
Bằng, Hòa Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Tuyên
Quang, Hà Giang, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, An
Giang, Quảng Ngãi, Bình Dương, Đắk Lăk… đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
địa phương đối với phong trào cách mạng nói chung, đặc biệt là phong trào nông
dân.
Cùng với công trình nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lịch sử Đảng bộ tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, nhiều công trình về lịch sử phong trào nông dân

6. Những vấn đề mà luận văn cần tập trung giải quyết:
- Tập trung trình bày một cách có hệ thống và phân tích các chủ trương, biện
pháp của Đảng về vận động nông dân qua từng giai đoạn cách mạng trong thời kỳ
1930 - 1945, gắn với hoàn cảnh lịch sử từng giai đoạn.
- Làm rõ các hình thức tổ chức, cũng như hình thức vận động nông dân đấu tranh
qua từng giai đoạn cách mạng nhằm làm rõ hiệu quả cuộc vận động của Đảng.
- Bước đầu tổng kết những ưu điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm lịch sử rút ra
từ sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc vận động nông dân thời kỳ 1930 - 1945.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ chủ trương và biện pháp của Đảng trong quá trình vận động nông dân,
việc thực hiện những chủ trương của Đảng thời kỳ 1930 - 1945; từ đó bước đầu rút
ra một số một số kinh nghiệm lịch sử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

15


- Tập hợp và hệ thống hóa những tài liệu liên quan đến đề tài.
- Trình bày có hệ thống những chủ trương và biện pháp của Đảng trong vận động
nhằm nông dân qua các giai đoạn cách mạng gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử
cụ thể và kết quả của mỗi giai đoạn trong thời kỳ 1930 - 1945.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng trong cuộc vận động nông dân, cũng
như hiệu quả của cuộc vận động thời kỳ 1930 - 1945.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng:
- Chủ trương và biện pháp vận động nông dân của Đảng.
- Hiệu quả của cuộc vận động nông dân, biểu hiện ở phong trào nông dân tham
gia đấu tranh cách mạng trong mỗi giai đoạn từ 1930 - 1945
4.2. Phạm vi nghiên cứu:

chọn các tài liệu cần thiết làm cơ sở cho việc viết nội dung đề tài.
Phương pháp nghiên cứu logic: Trên cơ sở khai thác triệt để các sự kiện lịch sử,
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thuộc phạm vi đề tài sau đó tiến
hành viết nội dung đề tài. Các sự kiện đều được sắp xếp một cách tuần tự, có hệ
thống, lôgic nhằm phác họa lại chủ trương vận động nông dân trong thời kỳ 1930 1945.
Mặt khác, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
các quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng ở từng thời điểm khác nhau trong lịch
sử để từ đó thấy rõ sự linh hoạt, sáng tạo của Đảng trong cuộc vận động toàn dân
tham gia phong trào cách mạng nói chung và đối với cuộc vận động nông dân thời
kỳ 1930 - 1945 nói riêng.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm
bốn chương:
Chương 1: Chủ trương vận động nông dân của Đảng trong phong trào cách mạng
1930 - 1935
Chương 2: Chủ trương vận động nông dân của Đảng trong phong trào dân chủ
1936 - 1939
Chương 3: Chủ trương vận động nông dân của Đảng trong cao trào giải phóng
dân tộc 1939 - 1945
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm

17


Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG
TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1935
1.1. Nông dân Việt Nam thời thuộc địa và quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về
nông dân trƣớc khi Đảng ra đời
1.1.1. Nông dân trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa

nhất trong bức tranh nông thôn Việt Nam thời Pháp thuộc là cảnh đói nghèo, lạc
hậu. Họ phải chịu rất nhiều gánh nặng từ thuế má, địa tô, nợ lãi…
Trong quá trình sản xuất, giai cấp nông dân cũng bị phân hóa dần thành các tầng
lớp: phú nông, trung nông, bần nông và cố nông.
Phú nông: trong nông dân là số người có nhiều ruộng đất hơn cả. Với 2,2% dân
số nông thôn, họ có 7,1% ruộng đất. Bình quân sở hữu ruộng đất của 1 nhân khẩu
phú nông gấp 3 lần 1 nhân khẩu trung nông, gấp 9 lần 1 nhân khẩu bần nông… Phú
nông không bị bóc lột mà có tham gia bóc lột nhân công, nợ lãi nhưng họ tham gia
lao động sản xuất là chủ yếu [56; tr.43].
Tầng lớp trung nông tương đối đủ ruộng đất (khoảng từ 3 mẫu trở lên đối với
Bắc Kỳ) và các công cụ sản xuất như trâu, bò, nông cụ… để tự sản xuất và nuôi
sống mình, không phải bán sức lao động, nhưng cũng không có khả năng tham gia
vào việc bóc lột người khác. Nhưng đây cũng chỉ là sự phân chia giới hạn tương
đối. Trên thực tế, có một số hộ trung nông lớp dưới đôi khi vẫn phải bán sức lao
động cho địa chủ lớn và một số cũng tham gia bóc lột qua việc cho lĩnh canh ruộng
đất dư hoặc phát canh lại ruộng lĩnh canh của địa chủ như ở Nam Kỳ.
Tầng lớp bần nông bao gồm những người thiếu ruộng đất canh tác, thiếu trâu bò
và nông cụ sản xuất nên phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, thuê mướn trâu bò,
nông cụ sản xuất và tiền vốn. Theo số liệu điều tra ở 16 tỉnh miền Bắc trước năm
1945 thì tầng lớp này có 20.246 hộ, chiếm 35,4% số hộ nông dân, nắm trong tay
10,8% diện tích canh tác; bình quân mỗi người sở hữu 476 m2 ruộng đất [58; tr.69].
Cố nông là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân. Họ
thường không có ruộng đất để cày cấy, không có trâu bò, nông cụ để sản xuất.
Nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng đất, đi làm thuê, làm mướn, đi ở cho
nhà giàu, địa chủ... Một phần trong số họ vì không có ruộng đất bỏ làng đi làm thuê
ở các đồn điền hay các cơ sở công nghiệp, hoặc đi làm cu li ở xứ Nam Kỳ. Họ trở
thành công nhân đồn điền hay công nhân “áo nâu” trong các xí nghiệp, công xưởng

19


ruộng đất, vừa là chỗ dựa cho phong kiến. Yêu cầu giải quyết mâu thuẫn dân tộc
của nông dân còn cao hơn, cấp bách hơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

20


Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tư tưởng cách mạng và phương thức vận động
cách mạng có phát triển tiến bộ hơn, nhưng chủ trương GPDT đều mang một nhược
điểm căn bản, chưa chủ trương dựa vào lực lượng to lớn của nông dân, chưa giải
quyết đúng mức mâu thuẫn giữa phong kiến với nông dân. Vì thế, dù các sĩ phu
phong kiến yêu nước kiên quyết chiến đấu, cố gắng tìm một con đường cứu nước
mới, cũng như hết lòng muốn tập hợp dân tộc, nhưng rốt cuộc phong trào kháng
Pháp vẫn mang tính chất phân tán với sự ủng hộ của nông dân từng địa phương.
Ở thuộc địa, vấn đề dân tộc tức là vấn đề nông dân. Vì tinh thần dân tộc của nông
dân rất cao, không ai tha thiết với mảnh đất Tổ quốc bằng nông dân, cho nên ngoài
giai cấp vô sản ra cũng không ai tha thiết với việc giải phóng dân tộc bằng nông dân
[18; tr.37].
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, nông dân Việt
Nam luôn luôn là đội quân chủ lực. Trong lịch sử ấy, kẻ thù chủ yếu và trước mắt của
nông dân là phong kiến ngoại tộc xâm lược cho nên trong những thời kỳ bị đô hộ
hoặc những thời kỳ phải đề phòng xâm lược, mũi nhọn đấu tranh chủ yếu của nông
dân không chĩa vào đâu khác mà chính là bọn phong kiến xâm lược [83; tr.10]. Khi
Tổ quốc bị xâm lăng thì “… nguyện vọng ấy là nguyện vọng độc lập của đất nước.
Lúc bấy giờ, nông dân đoàn kết với nhau dưới một khẩu hiệu chính trị là diệt xâm
lược còn khẩu hiệu kinh tế, khẩu hiệu chống phong kiến địa phương hay chống
phong kiến Trung ương cũng chỉ là thứ yếu” [83; tr.18].
Nông dân là một bộ phận đông đảo nhất, lại bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Họ
chẳng mất gì mà chỉ được lợi trong cuộc cách mạng phản đế và phản phong kiến.
Nếu được giai cấp vô sản lãnh đạo, sức mạnh của nông dân sẽ trở nên lớn lao vô
địch. Nông dân là đồng minh chính và gần gũi nhất của giai cấp vô sản [83; tr.62].

nước. Những lãnh tụ Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám
huy động chính nông dân cùng mình chống Pháp nhưng lại “cần vương” và chưa
bao giờ coi nông dân là lực lượng chính, vấn đề nông dân chưa được đặt ngang tầm.
Đến Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh tuy có đề xướng Duy tân, dân chủ theo
lối tư sản, song cả hai chưa bao giờ nói đến vấn đề nông dân. Theo Phan Bội Châu,
muốn đánh thắng giặc thì đồng bào cả nước phải đồng tâm, chung sức. Song cụ lại
gửi gắm sứ mệnh cứu nước cho mười giới “phú hào, quý tộc, sĩ phu, lính tập, tín đồ
thiên chúa, du đồ hội đảng, nhi nữ anh si, thông ngôn, ký lục, bồi bếp” mà không
nói gì đến nông dân là lực lượng to lớn nhất. Phan Bội Châu dựa vào Nhật Bản để
đánh Pháp. Còn Phan Chu Trinh coi Pháp là chỗ dựa để thực hiện cải cách dân chủ,
đánh đổ nền quân chủ chuyên chế, gây dân quyền tự do rồi mới tính đến chuyện
GPDT [33; tr.31]. Còn về Việt Nam quốc dân đảng chủ trương dân chủ tư sản rõ rệt

22


hơn các phong trào trước, song khẩu hiệu đề ra cũng chỉ là: Đánh giặc Pháp về nước
Pháp, trả nước Nam cho người Nam, để trăm họ khỏi lầm than, để người người
thêm hạnh phúc. Trong đường lối, chủ trương cũng như thực tiễn hoạt động của
mình, Việt Nam quốc dân đảng chưa thấy được hết vai trò to lớn của giai cấp nông
dân đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc, để có chủ trương, biện pháp kêu gọi, lôi
kéo họ đứng về phía mình và tham gia tranh đấu, cho nên trong suốt quá trình hoạt
động của mình, Việt Nam quốc dân đảng không nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, sự
tham gia đông đảo của quần chúng. Hoạt động của Việt Nam quốc dân đảng quá
đơn độc giữa quần chúng.
Như vậy, các phong trào yêu nước chống Pháp với các xu hướng chính trị khác
nhau nổi lên, song xác định được lực lượng cơ bản trong vấn đề dân tộc ở Việt Nam
thì chưa ai xác định đúng và trúng. Giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ yếu về thế lực
kinh tế, dễ dao động về chính trị, có quan hệ khá thân thiết với giai cấp phong kiến
và thực dân nên khá xa lạ với vấn đề nông dân. Bởi vậy, dù có tinh thần yêu nước,

theo Người khi tiến hành cuộc cách mạng GPDT phải gắn liền với phạm trù cách
mạng dân chủ. Trong một báo cáo gửi QTCS năm 1923, Nguyễn Ái Quốc viết:
“Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước. Tuyên truyền
tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân nếu chúng ta làm được điều đó thì
tương lai thuộc về chúng ta” [75; tr.204].
Tháng 10-1923, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế nông dân họp
tại Matxcơva và được bầu vào BCH quốc tế Nông dân với tư cách là đại biểu nông
dân của các nước thuộc địa. Tại Đại hội, Người nêu lên sự đồng cảm sâu sắc đối với
tình cảnh khổ nhục của những người dân mất nước, đặc biệt là nông dân, “nông dân
An Nam lại giống như một người bị trói vào một chiếc cột, đầu ngược xuống đất”
[75; tr.209]. Người nông dân bị nhiều tầng bóc lột của thực dân, đế quốc và phong
kiến “Như vậy là người nông dân An Nam không phải chỉ bị trói vào một chiếc cột
như tôi đã trình bày với các đồng chí, mà họ bị đóng đinh câu bởi bốn thế lực liên
hợp là: Nhà nước, tên thực dân, nhà thờ và tên lái buôn” [75; tr.211].
Ngày 3-7-1924, phát biểu tại phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V QTCS, khi nói
về tình hình kinh tế thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Trong tất cả các thuộc địa
Pháp, công nghiệp và thương nghiệp phát triển yếu ớt và nhân dân hầu hết làm nghề
nông, 95% dân số bản xứ là nông dân” [75; tr.283].

24


Năm 1924, trong bài viết Tình cảnh nông dân An Nam đăng trên báo La Vie
Ouriève, Người cho thấy bức tranh toàn cảnh về nỗi thống khổ của người dân An
Nam:
Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu công ơn bảo hộ của nước
Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự
bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người
nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản… [75;
tr.227].

Nam lúc bấy giờ. Trong tác phẩm này, Người tiếp tục đề cập đến việc người nông
dân bị tước đoạt ruộng đất, đến sự cùng cực của người nông dân nghèo; đồng thời
vạch ra con đường giải phóng cho họ, đó là gia nhập tổ chức Nông hội và hợp tác
xã. Trong chương “Tổ chức dân cày”, Người nêu lý do “Vì sao phải tổ chức dân
cày?”: Vì “Nước ta kinh tế chưa phát đạt, trong một trăm người thì có đến 90 người
là dân cày. Mà dân cày ta rất là cực khổ, nghề không có mà làm, đất không có mà
đủ ăn, áo không có mà mặc” [76; tr.308]. Người có những đồng cảm sâu sắc với
tình hình đời sống khổ cực của nông dân Việt Nam, nhận thấy được số lượng đông
đảo của họ, là lực lượng to lớn của cách mạng. Đặc biệt, Người khẳng định công
nhân và nông dân là hai lực lượng chủ yếu của cách mạng, là người chủ của cách
mạng, là hai bạn đồng minh tự nhiên, đảm bảo chắc chắn nhất những thắng lợi của
cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc cũng xác định vị trí, vai trò của nông dân trong khối liên minh
công nông, tiến hành cách mạng GPDT
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm của hai cuộc khai thác thuộc địa, có
nguồn gốc xuất thân từ giai cấp nông dân. Chính vì vậy, giai cấp công nhân chịu
ảnh hưởng rất lớn tư tưởng bất khuất, không chịu khuất phục trước thế lực ngoại
bang. Đời sống khổ cực và sự bóc lột dã man, tàn bạo của thực dân Pháp đối với
dân tộc Việt Nam là động lực chính làm khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa công nhân
và nông dân với đế quốc. Nguyễn Ái Quốc nhận thấy và phân tích khả năng cách
mạng của giai cấp công nhân và nông dân:
Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì
lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị
phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công
nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh [76; tr.266].
Trong bài viết Công tác quân sự của Đảng trong nông dân (năm 1927), Người
rất đề cao vai trò to lớn của nông dân cũng như liên minh công - nông trong sự
nghiệp cách mạng:

26

bằng cách liên minh với giai cấp nông dân. Những trào lưu cơ hội chủ nghĩa,
phỉnh nịnh nông dân, coi nông dân là lực lượng chủ yếu, là động lực duy
nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, chỉ dẫn tới chủ nghĩa phiêu

27


Trích đoạn Vận động nông dân trong cao trào cách mạng năm Vận động nông dân từ tháng 10-1930 đến năm Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng Công tác vận động nông dân Một số kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status