ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
VÕ THỊ NGỌC
LỘC SƠN TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH
GIÀNH CHÍNH QUYỀN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG 1930 - 1945
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Việt Nam
KHÓA: 34 (2010 - 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
PGS.TS. BÙI THỊ TÂN
HUẾ, 05/2014
1
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, trước hết tôi xin gửi lời cám ơn
sâu sắc nhất đến toàn thể thầy cô giáo trong Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học
Khoa Học Huế, những người đã giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho tôi trong
suốt thời gian tôi học tập tại trường.
Tôi xin cám ơn các cấp Uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cụ lão
thành cách mạng xã Lộc Sơn, Huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế, đã tận
tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong trong quá trình thực tập
Xin chân thành cám ơn Thư viện, Phòng tư liệu Khoa Lịch sử Trường
Đại Học Khoa Học Huế và thư viện Tổng Hợp Tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo
điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Đặc biệt, xin gửi lời cám ơn trân trọng đến cô giáo PGS.TS Bùi Thị Tân
đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Qua đây, cho phép tôi gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình cùng bạn
bè đã luôn động viên, chia sẽ để tôi yên tâm học tập và hoàn thành báo cáo tốt
nghiệp của mình một cách tốt đẹp.
huyện Phú Lộc cho nên nó nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, vì
nhiều lý do khác nhau, xã Lộc Sơn trong giai đoạn 1930 – 1945 vẫn chưa được
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề
này, cho nên trong thời gian qua đã có công trình nghiên cứu như phong trào đấu
tranh cách mạng của nhân dân xã Lộc Sơn, huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế
giai đoạn 1930 - 1945. Nhưng công trình nghiên cứu này, chỉ đề cập một vài khía
cạnh, chưa thật sự đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống về phong trào
đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Lộc Sơn trong kháng chiến chống thực dân
Pháp. Do đó, chúng ta chưa có cái nhìn toàn diện về xã Lộc sơn trong giai đoạn đấu
tranh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng.
4
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu trên chỉ là cơ sở ban đầu để giúp chúng tôi
thuận lợi hơn trong quá trình tìm hiểu về phong trào cách mạng xã Lộc Sơn trong
giai đoạn 1930 - 1945. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những công trình đã có cùng với
những tư liệu thu thập được từ những lời kể của các nhân chứng, tôi sẽ đi sâu
nghiên cứu một cách cụ thể hơn về vấn đề này. Khi thực hiện đề tài này, tôi muốn
góp một phần nhỏ vào việc hệ thống lại phong trào đấu tranh giành chính quyền của
nhân dân Lộc Sơn dưới sự lãnh đạo của Đảng giai đoạn 1930 – 1945, để từ đó cho
ta thấy tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh cách mạng vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc của xã nhà.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Tìm hiểu Lộc Sơn trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo
của Đảng 1930 – 1945, nhằm tái hiện phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân
và xác định rõ vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân Lộc Sơn đấu tranh
giành chính quyền thắng lợi. Đồng thời góp phần giáo dục tinh thần yêu nước và
lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ đi sau.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Lộc Sơn trong đấu tranh giành chính quyền
dưới sự lảnh đạo của Đảng 1930 – 1945. Đây là giai đoạn mà nhân dân xã Lộc Sơn
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra còn sử dụng phương pháp sưu tầm hệ thống
và sử lí tư liệu, khảo sát, điền giã, phỏng vấn để làm rõ truyền thống đấu tranh cách
mạng của nhân dân xã Lộc Sơn giai đoạn (1930 – 1945).
6. Đóng góp của đề tài
Một là nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về phong trào
đấu tranh cách mạng nhân dân xã Lộc Sơn (1930 – 1945).
Hai là góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác
nghiên cứu giảng dạy cho cán bộ và sinh viên chuyên ngành lịch sử của các trường
cao đẳng, đại học.
Ba là giáo dục cho thế hệ sau về truyền thống hào hùng của dân tộc, làm cho
thế hệ sau thấy được trách nhiệm của mình trong thời kỳ mới và có những hành
động cách ứng xử đúng đắn với những gì mà thế hệ đi trước để lại cho chúng ta
hôm nay.
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của báo cáo được chia như sau:
Chương 1 Mảnh đất và con người xã Lộc Sơn trong quá trình lịch sử
Chương 2 Lộc Sơn trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền dưới sự lãnh
đạo của Đảng 1930 – 1939.
Chương 3 Nhân dân Lộc Sơn đấu tranh giành chính quyền giai đoạn 1939 –
1945 và cách mạng Tháng Tám ở xã Lộc Sơn.
6
CHƯƠNG 1
MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI XÃ LỘC SƠN
TRONG QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ
1.1 Khái quát chung về xã Lộc Sơn
1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Lộc Sơn thuộc huyện Phú Lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế cách thành phố Huế
25km về phía Bắc, cách huyện lỵ 15km về phía Đông Nam. Lộc Sơn nằm ở16
0
10
Sơn là 1911 ha (theo số liệu thống kê năm 2010). Tăng 141 ha so với năm 1999,
trong đó đất lâm nghiệp chiếm ½ diện tích đất tự nhiên toàn xã với 917,2 ha. Đất
nông nghiệp khoảng 554,07 ha, chủ yếu là trồng lúa và các loại hoa màu. Đất phi
nông nghiệp gồm các loại đất ở, các công trình xây dựng có khoảng 187,32 ha. Còn
lại là đất chưa sử dụng là 258,05 ha [ 7, tr. 8 – 9 ].
Như vậy, với đặc điểm địa hình nêu trên, nơi đây có tiềm năng và thế mạnh về
lâm nghiệp vì diện tích đất rừng chiếm phần lớn diện tích đất đai của vùng, hơn nữa
đất đai ở đây được hình thành trên sản phẩm của đá Macma, Bazơ và trung tính đá
vôi có hàm lượng dinh dưỡng trung bình thấp, tầng đất trung bình dày 0,8 - 1m phù
hợp cho việc trồng cây công nghiệp và cây ăn quả. Còn vùng đồng bằng được hình
7
thành do sự bồi tụ của các con sông có thành phần cơ giới là thịt nhiều, phù hợp cho
việc trồng luá nước và hoa màu, tuy nhiên loại đất này rất ít.
Về khí hậu, xã Lộc Sơn thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa
mưa nắng rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 27
0
C và tháng nóng nhất lên tới
31
0
C. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11, trong đó tháng 9 và tháng 10
thường xảy ra bão lụt. Nhưng vào tháng 5 và tháng 6 lại rất khô hạn do nắng nóng
kéo dài, có gió Tây - Tây Nam (gió Lào) làm khí hậu khắc nghiệt hơn.
Ở đây có độ ẩm trung bình hằng năm vào khoảng 84%. Độ ẩm trong năm cũng
có sự khác biệt khá rõ nét: Vào các tháng mùa mưa độ ẩm cao, có thể lên đến 90%
vào các tháng khô nóng độ ẩm chỉ đạt mức 45-50% [ 7, tr. 8 – 9 ].
Lượng mưa trung bình hàng năm trên địa bàn vào khoảng 2400mm. Mưa lớn
thường tập trung vào các tháng 10,11 với 280 - 300mm. Trong khi đó thời gian từ
tháng 3 đến tháng 5 lượng mưa không đáng kể.
Nhìn chung Lộc Sơn có nền nhiệt độ tương đối cao và khá ổn định. Đây là
điều kiện thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ. Mùa hè có thể trồng được các loại cây
1.1.3 Lộc Sơn tên gọi qua các thời kỳ
Lộc Sơn từ khi hình thành cho đến nay có nhiều nhiều tên gọi khác nhau gắn
liền với những giai đoạn thăng trầm của lịch sử.
Trước năm 1945, các xã, thôn ở Lộc Sơn nằm trong Tổng An Nông có tên gọi
là xã Đại Đức. Sau khi cách mạng tháng Tám thành công ranh giới huyện, xã, tổng có
nhiều thay đổi, Lúc này xã Đại Đức được chia ra làm hai, một nữa thuộc về xã Lương
Lộc (Lộc An) một nữa thuộc về xã An Nông (Lộc Bổn) [15]. Trong kháng chiến
chống Pháp thì Lộc Sơn cùng với Lộc Bổn được gọi là xã Hưng Lộc. Năm 1954, Ngô
Đình Diệm lên nắm chính quyền đã tiến hành phân chia lại đơn vị hành chính: xã An
Nông gọi là xã Lộc Bổn, thôn La Sơn, An Thạch (An Nông) cùng với 2 thôn khác
của xã Lộc An trở thành xã Lộc Sơn. Tuy vậy, trong thời gian này Đảng và Mặt trận
Dân tộc giải phóng, tổ chức kháng chiến chống Mỹ theo đơn vị hành chính trong thời
kỳ chống Pháp là xã Hưng Lộc, huyện Phú Lộc [2, tr. 5 - 6].
Sau ngày quê hương được giải phóng 24 – 3 – 1975 về việc phân chia địa giới
hành chính xã Lộc Sơn chính thức được hoàn thành. Như vậy, đến năm 1975 thì
xã Lộc Sơn mới chính thức được thành lập và sau khi thành lập xã Lộc Sơn có tên
gọi như ngày hôm nay.
1.1.4 Tình hình dân cư
Đặc điểm dân cư: Theo thống kê về dân số của Ủy ban xã Lộc Sơn (20 - 1 -
2012). Tổng dân số xã Lộc Sơn là 8600 người và ước tính đến cuối năm 2013 dân
số toàn xã là 8670 người, mật độ dân số đạt 415 người/km
2
. Tổng số hộ là 1799
theo ước tính năm 2013, tổng số khẩu 1670 [7, tr. 8 – 9 ]. Nhìn chung, dân cư ở đây
tập trung không đông, dân cư phân bố không đồng đều giữa các thôn, cụ thể như
dân cư tập trung đông ở những vùng đồng bằng (An Sơn và Vinh Sơn) và thưa thớt
9
ở Xuân Sơn, La Sơn. Phần lớn người dân thờ cúng tổ tiên là chính, một số ít theo
đạo Phật và Thiên Chúa Giáo.
Về lao động và việc làm, dân cư xã Lộc Sơn trong độ tuổi lao động là 4410
Sơn bao gồm 4 thôn và 7 làng đó là thôn An Sơn, thôn Vinh Sơn, thôn Xuân Sơn và
10
thôn La Sơn [7, tr. 4 – 5], cư dân ở đây dù đến trước hay đến sau thì ở họ cũng đều
có chung một ý chi đó là ổn định đời sống và xây dựng quê hương.
Thôn La Sơn
Thôn La Sơn có 3 Họ lớn đó là họ Nguyễn và họ Lê. Trong đó họ Nguyễn có quê
gốc ở Nghệ Tĩnh và họ Lê là ở Thanh Hóa. Họ là những họ dân vào sau nên sinh sống
trên những mảnh đất này chủ yếu canh tác và khai hoang trồng trọt và chăn nuôi.
Theo lời kể từ những cụ lão làng thì tộc họ Trần là tộc vào cư trú sớm nhất còn
các tộc họ còn lại như họ Nguyễn hay họ Lê là hai họ đến sau. “Đất lành chim đậu”
chính vì những điều kiện tư nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế mà nhiều tộc
người sớm tìm về đây để xây dựng sự nghiệp cho dòng họ mình.
Ở thôn La Sơn gồm có 2 làng: làng An Thạch, làng La Sơn, dân cư của hai
làng chủ yếu là từ miền bắc di cư vào.
Làng An Thạch Làng: các vị tiền bối tiền khai canh, hậu khai khẩn thủy tổ của
3 họ tộc là họ Nguyễn Hữu, Họ Trịnh và Họ Lê Vĩnh, có 2 họ đến khai khẩn sau là
họ Lê Văn và Họ Trần Văn.
Người khai canh làng An Thạch là người từ Thanh Hóa ở phủ Hoài Trung
ngài Nguyễn Hữu Chấp, ông đến vùng đất này để sinh sống và lập nghiệp từ rất
sớm, từ khi mới thành lập làng thì có khoảng 100 người, người khai khẩn Hậu khai
khẩn là ông Nguyễn Hữu Điền như vậy trong quá trình di cư của mình thì hai họ
này đã có công rất lớn trong việc hình thành nên làng An Thạch như ngày nay.
Làng La Sơn: Thủy tổ ngài khai canh làng La Sơn là người từ Nghệ An -
Thanh Hóa vào đây trong đợt di dân cùng với chúa Nguyễn Hoàng năm 1558 tên là
Lê Quý Công. Trước đây, Lê Quý Công làm quan ở triều đình, nhưng được một
thời gian ông không làm nữa mà vào đây khai canh lập làng lấy tên là làng La Sơn
và cho đến nay tên làng không thay đổi.
Thôn An Sơn
Thôn An Sơn có 3 họ lớn đó là họ Trần, họ Nguyễn và họ Lê, ngoài ra có các
họ khác nhưng số lượng không đáng kể. Đa số người dân đều có nguồn gốc từ
Thôn Xuân Sơn thủa ban đầu lập làng có tên là Xuân Hồi. Làng Xuân Hồi do
ngài Trần Văn Thông biệt hiệu bổn thổ khai canh Trần Qúy Công, ông sinh tại Xuân
Hồi, Tổng An Nhy, Hương Thủy vào những nâm 1825. Dưới triều Minh Mạng ông là
viên quan ở Hàm Lâm Viện, phụng chỉ vua ông đã chiêu triệu 8 họ: Trần, Lê,
Nguyễn, Phạm, Phan, Mai, Hồ, Hà. Lập nên đình làng tại Bàn Môn (Lộc An). Đến
năm 1945 thì được chấp nhận là làng Xuân Hồi, Tổng An Nông, Hương Thủy. Đến
năm 1951 được chính thức thành làng Xuân Hồi, Lộc Sơn có đình làng và địa giới.
Làng Xuân Hồi (sau được đổi tên thành làng Xuân Sơn) có 2 tộc: (Trần,
Nguyễn ) nó cũng bắt nguồn từ Thanh, Nghệ. Thôn Xuân Sơn chỉ có một đó là làng
Xuân Hồi (sau được đổi tên thành làng Xuân Sơn). Làng Xuân Hồi có một đặc điểm
khác vói các làng khác là cả thôn chỉ có một làng nên người ta thường gọi làng
12
Xuân Hồi “một làng, một đội, một xã”. Ở làng Xuân Hồi có hai họ lớn đó là họ
Trần và họ Nguyễn, hầu hết cư dân bắt nguồn từ Thanh, Nghệ. Họ làm nông là
chính, nhân dân ở đây cùng nhau khai hoang lập làng và phát triển kinh tế.
Thôn Vinh Sơn
Thôn Vinh Sơn cũng có hai họ chính: họ Trần và họ Lê và cũng như các thôn
khác thì người dân ở đây có gốc gác từ vùng Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Sau khi họ
di cư vào đây họ tiến hành khai hoang lập làng như các họ dân nói trên.
Từ ngã ba La Sơn theo hướng Đông Nam 50m sâu vào thôn Vinh Sơn, xã Lộc
Sơn, huyện Phú Lộc ta sẽ gặp đình làng Bao Vinh Hạ. Đình làng nằm trong hệ
thống di tích lịch sử - văn hóa của xã Lộc Sơn.
Bao Vinh là tên gọi chính thức của làng kể từ khi thành lập. Bao Vinh ở đây
có nghĩa là “đem điều khen vẻ vang lấy làm vinh dự muốn phô bày ra”. Để phân
biệt với làng Bao Vinh của huyện Phú Vang thì làng Bao Vinh ở Lộc Sơn còn được
gọi là làng Bao Vinh Hạ, còn làng Bao Vinh Thượng thuộc huyện Phú Vang.
Làng Bao Vinh Thượng được thành lập năm 1538. Khoảng năm 1673, ngài
tiếp tục khai khẩn ở làng Bao Vinh Hạ thuộc Lộc Sơn, huyện Phú Lộc ngày nay. Từ
đó hình thành nên làng Bao Vinh Thượng và Bao Vinh Hạ.
Như vậy, từ khi hình thành làng bản thì con người xã Lộc Sơn đã cùng nhau
Nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho các
ngành kinh tế ở xã phát triển.
Ngày nay với chính sách và sự hổ trợ của nhà nước cũng như sự nổ lực của
người dân mà đời sống kinh tế của xã Lộc Sơn ngày một tiến bộ hơn. Bên cạnh nông
nghiệp ngày càng đạt năng suất và chất lượng cao người dân còn tham gia chăn nuôi
với quy mô lớn xây dựng kinh tế lâm nghiệp thu lại giá trị kinh tế cao… Bộ mặt đời
sống kinh tế xã Lộc Sơn được cải thiện liên lục trong giai đoạn ngày nay.
1.2.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần
Làng quê Lộc Sơn còn lưu giữ đậm nét thuần phong mĩ tục, có nền văn hóa
văn minh nông nghiệp. Đã từ lâu nhân dân Lộc Sơn đã tổ chức, hình thành các thiết
chế văn hóa làng, xã như soạn gia phả, tộc phả, dựng đình làng, nhà thờ họ, lập
miếu thờ thần hoàng, thờ vong linh người đã mất. Ngoài ra còn lập đền thờ người
có công với làng nước, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, dựng bia tưởng niệm các anh
hùng liệt sĩ.
Cuộc sống, lao động của cư dân nơi đây đã xây đắp nên những lễ hội truyền
thống: Tế làng, cúng xóm, kỵ giỗ, ma chay, cưới hỏi… mang đậm bản sắc văn hóa
làng xã Việt Nam. Cùng với lễ hội văn hóa các làng ở Lộc Sơn còn thể hiện trong
việc xây dựng trường học với đạo lí tôn sư trọng đạo, sáng tác ca dao, hò vè,…. đã
bồi đắp lòng yêu nước, yêu quê hương của bao thế hệ người dân trong xã.
14
Ngày nay xã Lộc Sơn tích cực thực hiện chủ trương của Đảng “Xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
Ở xã hình thành hệ thống giáo dục gồm các Trường Trung Học Cơ Sở, giáo dục
Mầm Non, hình thành ban văn hóa thông tin, các đội văn nghệ, các thôn, trường học,
phục hồi văn hóa, văn nghệ dân gian và tiếp thu biểu diễn văn hóa, văn nghệ hiện đại
Các đình làng, chùa miếu, nhà thờ ở La Sơn và Xuân Sơn được tiếp tục trùng
tu tồn tạo đáp ứng nguyện vọng nhân dân trong các dịp lễ hội truyền thống, phong
tục lâu đời của nhân dân. Đồng thời xã Lộc Sơn còn xây dựng bưu điện văn hóa xã,
nhà truyền thống nhà văn hóa, nhà cộng đồng, sân vận động… tổ chức các lễ kỷ
niệm yêu nước, cách mạng, tết cỗ truyền bằng biểu diễn văn nghệ, đua thuyền, đá
Phong trào yêu nước của nhân sĩ, trí thức và học sinh ở Phú Lộc nói chung và
ở xã Lộc Sơn nói riêng trước 1930 khi chưa có Đảng diễn ra với nhiều hoạt động.
Cuối thế kỷ XIX ở Bàn Môn, tổng An Nông có Cụ Trần Đình Túc làm quan thượng
thư là người tài đức vẹn toàn dưới thời vua Tự Đức đã giữ chức “dinh diền sứ ” ở
hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, biết lo cho dân cho nước. Cụ đã cùng cụ Lê
Dõng đắp đập ngăn song cải tạo cánh đồng từ một vụ thành hai vụ của tổng An
Nông và Lương Điền.
Phong trào yêu nước vẫn được duy trì vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX,
tiêu biểu là việc hưởng ứng và tham gia tích cực vào phong trào Cần Vương, phong
trào Đông Du và Duy Tân… Trong phong trào Cần Vương tham gia tích cực có cụ
Hoàng Đức Trạch ở Bàn Môn với một tinh thần yêu nước lớn và là người được ăn
học nên tư tưởng của cụ có phần tiến bộ. Năm 1908 cụ đã bắt đầu nghiên cứu những
sách tiến bộ như “Tân thư cách mạng Trung Hoa”, “Trung Hoa hồn” và “Âm Ban
Thất tự do”.
Đến năm Đinh Tỵ, cụ cùng các nhà yêu nước ở Thừa Thiên tham gia vào
phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu chủ trương nhằm mục đích đưa thanh
niên Việt Nam sang Nhật Bản du học. Đến năm Kỷ Mùi cụ lại cùng Huỳnh Thúc
Kháng, Lê Nguyên Bật tham gia vào phong trà Duy Tân do ông Trần Cao Vân và
Thái Phiên cầm đầu. Đến 1925 – 1926 được sự cộng tác của những thanh niên tiến
bộ, tờ Nam Phong và tờ Thực Nghiệm ra đời. Cụ đứng ra tổ chức hội giảng báo ở
làng Bàn Môn. Nhằm mục đích tập hợp lực lượng cách mạng, hoạt động của hội
ngày càng có hiệu quả.
Sau khi bắt ép nhà Nguyễn kí hiệp ước Patornot (tháng 6 – 1884) thực dân Pháp
khẳng định quyền thống trị của mình đối với nước ta. Chúng tiến hành lập bộ máy cai
trị than Pháp từ Trung ương đến địa phương. Vua chúa quan lại Việt Nam chỉ là bù
nhìn không có quyên hành như trước. Cùng với việc thiết lập bộ máy cai trị, thực dân
Pháp thực hiện chính sách khai thác kinh tế thuộc địa, chúng đặt ra hàng trăm thứ
thuế vô lí, bóc lột nhân dân ta vô cùng tàn nhân và dã man [13.tr 56 – 57 ].
16
Sự cai trị của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam nảy sinh những mâu
thực dân và địa chủ phong kiến, đòi quyền tự do dân chủ, dân sinh, bác ái, bảo vệ
quê hương đất nước.
17
CHƯƠNG 2
LỘC SƠN TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG 1930 – 1939
2.1 Đấu tranh cách mạng của nhân dân Lộc Sơn những năm 1930 – 1935
2.1.1 Nhân dân xã Lộc Sơn tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới
Những năm đầu của thế kỉ XX một loạt các trào lưu tư tưởng tiến bộ nảy sinh
và được truyền bá vào Việt Nam, chính những tư tưởng tiến bộ này tác động vào
nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội và đẩy mạnh hơn nữa phong trào cách mạng
Việt Nam. Các tư tưởng cách mạng được truyền bá vào nước ta dưới nhiều hình
thức thông qua hoạt động bí mật là chủ yếu như: dịch các sách báo có tư tưởng tiến
bộ về nước. Dần dần tư tưởng cách mạng được truyền bá một cách rộng rãi trong
thanh niên, giai cấp công nhân và các tầng lớp trí thức trong xã hội.
Ngày 3 - 2 - 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn
Ái Quốc, người đã tiến hành hợp nhất 3 tổ chức cách mạng thành một tổ chức, lấy
tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây cách mạng Việt Nam đã có Đảng tiên
phong lãnh đạo phong trào của đất nước, mở ra thời kì mới trong lịch sử dân tộc
nước nhà. Hầu hết các tổ chức Đảng ở các địa phương đều hợp nhất thành một tổ
chức đảng duy nhất. Sau khi Đảng Cộng sản thành lập các địa phương trong cả
nước cũng khẩn trương tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản. Ở Thừa Thiên việc
hợp nhất hai tổ chức: Đông Dương cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên
đoàn trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Năm 1930, Đảng bộ Thừa Thiên Huế được thành lập. Ngay sau đó, Chi bộ
Bàn Môn cũng được thành lập do đồng chí Lê Bá Dị Tỉnh ủy viên trực tiếp chỉ đạo
đã tuyên truyền gây ảnh hưởng Đảng xây dựng cơ sở ở xã Lộc Sơn, trong phong
trào vận động phát triển Dảng, Bàn Môn đa sản sinh ra người con ưu tú, những thế
hệ đảng viên đầu tiên đông đảo nhất như: Lê Trọng Uẩn, Lê Trọng Ngạc, Lê Thúc
Khánh, Nguyễn Sơn… đồng chí Võ Đại Thuyên quê ở Nam Phổ Cần được kết nạp
sách áp bức bóc lột của thực dân phong kiến và ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ
Tĩnh. Ảnh hưởng của Đảng trong các tầng lớp nhân dân càng lớn, tiếng vang của
cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh làm nức lòng nhân dân cả nước và địa phương Lộc Sơn.
Đây là những phong trào lớn với nhiều thành phần và lực lượng tham gia đông đảo,
nó giữ một vai trò quan trọng trong những giai đoạn cách mạng tiếp theo.
Ra đời cùng thời với cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chi bộ Bàn Môn một chi bộ
đầu tiên ở vùng nông thôn Thừa Thiên Huế, đã lãnh đạo quần chúng phối hợp đấu
tranh có hiệu quả với Xô Viết Nghệ Tĩnh, có tác dụng kìm chân địch tại chỗ, hạn
chế tổn thất của cách mạng trước sự khủng bố trắng của kẻ thù.
Ngay sau khi thành lập chi bộ ghép Phú Lộc – Phú Vang, đồng chí Lê Bá Dị
cùng chi bộ vận động nhân dân hai huyện Phú Lộc, Phú Vang đấu tranh kỉ niệm
19
ngày Quốc tế lao động 1 – 5. Nhân dân Phú Lộc tập trung ở những nơi treo cờ
Đảng, đọc truyền đơn, nghe diễn thuyết, tuyên truyền về tinh thần cách mạng của
giai cấp công nhân thế giới và tinh thần ngày Quốc tế lao động. Đồng chí Lê Trọng
Uẩn, đảng viên chi bộ, cùng với những thanh niên tiến bộ treo cờ đỏ búa liềm ở
ngọn cây Sen, làng Nam Phổ Cần (gần cầu Truồi), treo cờ Đảng ở ngọn cây làng
Xuân Lai (Truồi). Bên kia Cầu Hai, nhân dân Tổng Diêm Trường cũng xuất hiện cờ
đỏ sao vàng ở ngọn cây chợ Mỹ Lợi. Những địa điểm treo cờ Đảng trong địa bàn
huyện đều có truyền đơn cộng sản [12, tr. 65].
Đêm 30 – 4 rạng sáng 1 – 5 – 1930 chi bộ Đảng đứng đầu là đồng chí Lê Bá Dị
về Bàn Môn đã ra sức vận động nhân dân tập trung ở vùng Truồi, tổng An Nông, tổ
chức mít tinh giới thiệu đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi
nhân dân địa phương rải truyền đơn, khẩu hiệu bươm bướm kêu gọi công nhân, nông
dân, binh lính, thanh niên, đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, đòi tăng lương, chống chủ
nghĩa đế quốc, ủng hộ Liên bang Xô Viết, chống chiến tranh đế quốc [3, tr. 2 - 3].
Việc treo cờ Đảng và rải truyền đơn kỉ niệm ngày Quốc Tế Lao Động 1 – 5 do
Chi bộ Bàn Môn tổ chức đã gây được tiếng vang lớn, từ nông thôn đến thành thị lan
ra các xã lân cận, làm cho kẻ thù hoang mang lo sợ.
Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng nhân dân Lộc Sơn đã dấy lên phong trào
Trước tình hình đó, Thực dân Pháp, quan lại phong kiến hoang mang, chúng
tìm mọi thủ đoạn để thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh. Tại đây, bọn quan lại,
cường hào lý hương thôn hoảng sợ trước ảnh hưởng to lớn của cao trào Xô viết
Nghệ Tĩnh của Chi bộ Đảng nên chúng tìm mọi cách tuyên truyền, lừa bịp, tung ra
những luận điệu xuyên tạc, nói xấu cộng sản và tăng cường lùng sục, bắt bớ nhằm
ngăn chặn hoạt động của các đảng viên. Cuối năm 1930 nhân dân Tổng An Nông đã
theo hướng chỉ dẫn của Tỉnh ủy, tham gia vào phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Chi
bộ ghép Phú Vang – Phú Lộc thành lập do đông chí Lê Bá Dị làm bí thư lãnh đạo
phong trào cách mạng hai huyện. Tháng 10 – 1930 đồng chí Lê Bá Dị và các đồng
chí trong chi bộ ghép lần lượt bị địch bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ Huế, phong trào
đấu tranh trong huyện tạm thời lắng xuống. Trong nhà lao các đảng viên vẫn bí mật
hoạt động, gây cơ sở quần chúng.
Năm 1933, một số đảng viên mãn hạn tù tiếp tục hoạt động cách mạng, khôi
phục lại chi bộ và phong trào cách mạng. Từ 1933 – 1935, nhân dân xã An Nông
dấy lên phong trào đấu tranh chống địa chủ, cường hào quan lại chiếm ruộng đất,
đòi chia lại ruộng đất cho nông dân. Một số trí thức quan lại tốt, gần dân ủng hộ
phong trào đấu tranh này. Chi bộ ghép Phú Vang – Phú Lộc coi đây là dân sinh dân
chủ tốt, cần quan tâm đến nguồn lợi kinh tế của nông dân. Chi bộ đã lãnh đạo chống
đấu giá 35 mẫu ruộng của bọn địa chủ và buộc bọn chúng chia ruộng đất cho mỗi
xuất đinh từ 18 tuổi trở lên [2, tr. 9]. Cuộc đấu tranh đòi chia lại ruộng đất giành
thắng lợi đoạn bước đầu. Chi bộ vận động nhân dân đoàn kết đấu tranh chống bắt
21
người cầm đầu và những người tham gia cuộc đấu tranh. Cuộc đấu tranh của nhân
dân Lộc Sơn đã tập hợp được lực lượng đòi dân sinh, dân chủ là cuộc đấu tranh có
tiếng vang trong tỉnh, nhất là giai đoạn phong trào cách mạng trong tỉnh gặp khó
khăn (1932 – 1935) và là cuộc đấu tranh với quy mô có sự lãnh đạo của Đảng, sự
nghiệp đấu tranh vẻ vang của giai cấp nông dân huyện Phú Lộc nói chung và nhân
dân Lộc Sơn nói riêng.
Trong những năm 1930 – 1935 phong trào cách mạng ở xã Lộc Sơn nói chung
đều đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Bàn Môn. Đây được xem là bước khởi
phát xít. Mặt trận bình dân đã đắc thắng trong cuộc tổng tuyển cử, vì vậy mặt trận
bình dân chính thức thành lập vào ngày 6 – 6 – 1936 lên nắm chính quyền đã ban
bố một số chính sách tiến bộ đối với các thuộc địa, nới rộng một số quyền lợi kinh
tế và chính trị như ân xá, thả tù chính trị nhằm xoa dịu dư luận.
Ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng đang bị áp đặt dưới ách
thống trị của chính quyền thực dân. Chính phủ của mặt trận bình dân đã thành lập ban
điều tra của Quốc hội Pháp cử sang các nước thuộc địa để điều tra tình hình đều này
thực sự mang lại ý nghĩa to lớn của nhân dân các nước thuộc địa Pháp. Trước tình hình
đó, Đảng Cộng Sản đã tuyên truyền vận động nhân dân tham gia cuộc vận động dân
chủ, cuộc vận động bắt đầu từ 4 – 6 – 1936. Riêng ở Thừa Thiên Huế, đây là một phần
của Trung Kỳ nên ở đây có nhiều trường học: Quốc Học, Đồng Khánh, Kỹ Nghệ thực
hành… tập trung nhiều học sinh, tri thức tới học nên rất thuận lợi cho Đảng tổ chức
vận động, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, các tầng lớp nhân dân ở đây chịu nhiều
nổi thống dưới ách thống trị của thực dân phong kiến cho nên họ sớm ý thức được vai
trò cách mạng. Vì thế trong cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939, Đảng bộ Thừa Thiên
Huế đã tập hợp được một lực lượng quần chúng nhân dân lớn mạnh, đấu tranh trực
diện với kẻ thù, đòi quyền dân sinh dân chủ, chống chiến tranh đế quốc.
2.2.1.2 Chủ trường chuyển hướng chỉ đạo của Đảng
Dưới ánh sáng nghị quyết của Quốc tế Cộng Sản, căn cứ vào những chuyển
chuyển biến của phong trào cách mạng trong nước và ra yêu cầu thực tiễn đặc biệt
với sự thắng lợi của mặt trận bình dân Pháp đưa lại một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong tình hình mới. Tháng 7 – 1936, Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng
họp và đã xác định mục tiêu cụ thể, trước mắt bây giờ là đấu tranh chống chế độ
phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh. Để phù hợp với tình hình mới
Đảng Cộng Sản Đông Dương tạm thời chưa nêu khẩu hiệu “đánh đổ đế quốc Pháp”
và “tịch thu ruộng đất của địa chủ cho dân cày” mà nêu khẩu hiệu “tự do, dân chủ,
cơm áo và hòa bình”.
“Hởi anh chị em!
Đảng Cộng Sản Đông Dương khẩn thiết kêu gọi các đảng phái và nhóm cách
mạng và không cách mạng đoàn kết lại thành lập mặt trận bình dân Đông Dương bảo
các đảng viên của chi bộ Bàn Môn nói chung và Lộc Sơn nói riêng, lại bám sát cơ
sở vận động quần chúng nhân dân đấu tranh trong tình hình mới.
Ngay sau khi ra tù các Đảng viên đã vận động nhân dân đấu tranh, đòi tổ chức
Đông Dương đại hội (9 – 1936) tranh thủ một số quan lại, nghị viện (ông Đoàn Đức
Trạch) để công khai hoạt động, ủng hộ chủ trương của chi bộ là đưa người của ta
tham gia vào viện dân biểu Trung Kì. Trước đó nhằm tăng cường hoạt động ở vùng
24
nên chi bộ Phú Lộc được tách ra thành một chi bộ độc lập với chức năng như một
Huyện ủy lâm thời. Năm 1936, chi bộ kết nạp thêm 3 đảng viên: Phan Sung, Võ
Bính, Lê Thúc Khánh. Đến năm 1938 kết nạp thêm các đồng chí Đoàn Đình,
Nguyễn Đình Sản, Lê Minh và Năm 1939 kết nạp đồng chí Lê Cương… Nhiều
đảng viên tích cực hoạt động tại địa bàn xã Lộc Sơn như Lê Bá Nẩm (La Sơn) và
đồng chí Nguyễn Văn Dũng ( An Thạch). Phong trào đấu tranh của nhân dân Lộc
Sơn thời kỳ này phát triển mạnh trở lại. Nhân dân tích cực hưởng ứng các cuộc đấu
tranh công khai, hợp pháp do Đảng lãnh đạo. Mở đầu là phong trào “Đông Dương
đại hội”. Đảng đứng ra tập hợp nhân dân để lấy chữ ký để vạch tội ác của thực dân
Pháp và phong kiến tay sai. Như vậy, các làng tổ chức viết bản kiến nghị đòi giảm
sưu thuế, ban hành quyền dân chủ. Ở Lộc Sơn theo lời kể của ông Nguyễn Hoạt
nhân dân làng Xuân Hồi dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Bá Dị đã tích cực
hưởng ứng phong trào này [17].
Phong trào “Đông Dương đại hội”
Sự ra đời của mặt trận bình dân Pháp dã mở ra ở Đông Dương ba năm hoạt
động chính trị sôi nỗi đã diễn ra. Trước hết là cuộc vân động Đông Dương đại hội,
nhằm mục tiêu xây dựng yêu sách quốc gia cho ủy ban điều tra về các thuộc địa mà
chính phủ Pháp chuẩn bị thành lập vào tháng 1 – 1937.
Vào tháng 8 – 1936 dưới áp lực cuộc đấu tranh các lực lượng tiến bộ ở Pháp
và cuộc đấu tranh của nhân dân chống ách đô hộ của Pháp ở Đông Dương nên
chính phủ Pháp phải thu thập nguyện vọng của nhân dân Đông Dương. Đảng ta
nắm lấy cơ hội đó đã phát động một phong trào quần chúng rộng lớn nhằm tố cáo
chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, lập dân nguyện, chống các lực lượng