BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN BẮC THUỘC - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
------

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
BỘ MÔN: LỊCH SỬ VIỆT NAM
BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT
TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN BẮC
THUỘC
1
PHÁC THẢO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
“BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH
CHỐNG PHONG KIẾN BẮC THUỘC”
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhằm tìm hiểu thêm, khám phá những tri thức mới về lịch sử Việt
Nam, đề tài tập trung vào một giai đoạn lịch sử đầy thử thách của dân
tộc cách đây hơn một thiên niên kỷ.
Đây là một đề tài hấp dẫn, khơi gợi về ý thức tự hào dân tộc về
cha ông ta xưa dựng nước và giữ nước.
B. PHẠM VI ĐỀ TÀI
Là thời kỳ Bắc thuộc được xác định từ năm 179 tr. CN (Triệu Đà
đánh chiếm Âu Lạc) đến trận chung kết toàn thắng - chiến thắng Bạch
Đằng - 938.
Con người Việt thời kì Bắc thuộc với chống đô hộ và chống đồng
hoá của phong kiến phương Bắc.
C. PHẠM VI ĐỀ TÀI
Đã được ngiên cứu, khảo sát nhiều lần nhưng chưa thành một hệ
thống.
Được trình bày trong các tham luận, các sách giáo trình và cả các
bài báo song cũng chưa thật hoàn chỉnh và dầy đủ.

- Ý thức đấu tranh
- Các cuộc khởi nghĩa.
III. Nhận xét chung - kết luận.
- Bản lĩnh người Việt trong thời kì này.
- Những giá trị bền vững trường tồn với thời gian, tạo tiền đề
cho thắng lợi của dân tộc sau này.
- Những truyền thống của người Việt từ xưa cho đến nay.
3
LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ sau khi cuộc kháng chiến chống Triệu Đà của An Dương
Vương thất bại - năm 179 trước công nguyên - đến năm 938 là thời kì đất
nước ta bị ách đô hộ, cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc mà
lịch sử vẫn gọi đó là thời kì Bắc thuộc. Năm 938 là mốc son chói lọi
bằng vàng, chấm dứt hoàn oàn ách đô hộ, áp bức bóc lột của ngoại bang,
nhưng những mầm mống đầu tiên cho sự ra đời của một nhà nước độc
lập, đã có từ năm 905, khi Khúc Thừa Dụ bắt đầu công cuộc tự chủ.
Hiếm thấy trong lịch sử, một quốc gia nào khác trên thế giới, lại bị mất
nước và bị đô hộ kéo dài lâu như vậy - 1117 năm, mà cuối cùng lại giành
lại được độc lập. Và cũng hiếm có một nước nào có lịch sử chống giặc
ngoại xâm nhiều như vậy. Nếu xếp hạng, thì Việt Nam sẽ xếp hàng đầu
các quốc gia như thế, hàng đầu những ai chịu cái nhục mất nước, cái
nhục làm nô lệ. Phải chăng? Chính tạo hoá đã vô tình khi đặt Việt Nam
là một nước nhỏ bé bên cạnh một ông khổng lồ và có một vị trí địa lý
quan trọng như thế. Sẵn sàng trước mối đe doạ của giặc ngoại xâm vốn
đã mang tính thường trực, Việt Nam luôn luôn bị các nước lớn tìm cách
cấu xé, ăn tươi nuốt sống. Hoặc là tồn tại, hoặc là chết, đã đặt ra cho con
người Việt Nam bắt buộc không còn con đường nào khác. Quyết không
chết mà sẽ tồn tại! Đó chính là bản lĩnh của người Việt. Thời kì Bắc
thuộc là thử thách, cũng là điều kiện làm cho bản lĩnh ấy trở thành chất
thép!

1. Sự xuất hiện những nền văn hoá cổ và những thành tựu to lớn
đã đạt được của người Việt xưa
5
Người Việt cổ sớm quần cư ở các dòng sông lớn như sông Hồng,
sông Mã và tập trung dần dần thành các bộ tộc, bộ lạc, cuộc sống chủ
yếu dựa vào nông nghiệp còn mang tính chất sơ khai. Trải qua một thời
gian dài cùng với sự xuất hiện của thuật luyện kim, đã khiến cho cuộc
sống của các bộ lạc Việt cổ ngày càng phát triển. Từ đó đã hình thành
nên các nền văn hoá cổ phán ánh sự sáng tạo của người Việt ở mỗi giai
đoạn nhất định trong quá trình phát triển của mình:Văn hoá Sơn Vi, Văn
hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn… đặc biệt đỉnh cao là văn hoá Đông
Sơn.
Chính các nền văn hoá đó đã mang đậm tính cách, cuộc sống, tâm
hồn của người Việt. Đó là quá trình phát triển về vật chất thúc đẩy cho
đời sống tinh thần của người Việt nảy nở. Các thành tựu của các nền văn
hoá cổ là một minh chứng rõ ràng nhất.
Kỹ thuật cải tiến công cụ, nghệ thuật đúc đồng của người Việt đã
đến trình độ điêu luyện, có ảnh hưởng sâu rộng đối với sản xuất nông
ngiệp và những hoạt động tinh thần, điển hình là trống đồng Đông Sơn,
với những nét văn hoá trang trí vô cùng tinh xảo, thể hiện một đời sống
tinh thần của riêng người Việt.
Đồ gốm với hoa văn trang trí ngày càng uyển chuyển và mềm mại,
đa dạng và phong phú. Đồ gốm Phùng nguyên là tiêu biểu nhất, phản ánh
không chỉ tính sáng tạo mà còn phản ánh tư tưởng, suy nghĩ riêng của
người Việt.
2. Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
Sự phát triển của công cụ lao động đã dẫn đến những biến đổi to
lớn trong sản xuất và xã hội. Công cụ bằng kim loại phát triển và sản
xuất riêng lẻ theo từng gia đình, thời cổ đã góp phần đẩy mạnh năng suất
lao động, xuất hiện sản phẩm thừa và trong xã hội có kẻ giàu- người

có ý thức chung về lối sống, về dân tộc, về lãnh thổ. Bản lĩnh của họ dã
được hình thành hoàn toàn một cách tự nhiên và ngày càng trưởng thành
hơn. Nó có cơ sở vững chắc để bước vào thử thách “ngàn năm Bắc
thuộc”.
7
3. Con người và các bộ tộc người Việt ở phía Nam Trung Quốc
Buổi ban đầu lãnh thổ người Việt chủ yếu là phần đất bắc Bộ và
Bắc Trung bộ và lãnh thổ Trung Quốc bấy giờ chủ yếu là vùng phía Bắc
sông Dương Tử còn phía Nam là nơi sinh sống và cư trú của khối cộng
đồng cư dân Bách Việt bao gồm nhiều tộc người khác.
Người Việt sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Bữa ăn hàng ngày
là cơm - rau - cá. Ăn trầu, nhuộm răng là những tục lệ phổ biến, bánh
chưng (tượng trưng cho mặt đất), bánh giầy (tượng trưng cho vòm trời)
là hai loại bánh thờ cúng tổ tiên độc đáo.
Họ ăn mặc giản dị: đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy (ngày lạnh
có thêm áo chui đầu). Họ sống tập trung ở các làng bản, ở nhà sàn, do
tập trung ở ven đồi, gần suối hoặc ở những dải đất cao ven sông nên
phương tiện đi lại chủ yếu bằng thuyền .
Người Việt rất thích ca hát, người dân ăn mặc đẹp, vui chơi nhảy
múa… Mọi sinh hoạt đều gắn với điều cầu mong thiết thực của cuộc
sống: mong mưa thuận gió hoà, mông được mùa, yên ổn làm ăn. Họ thờ
cúng các thế lực tự nhiên (thần sông, thần núi…) và các con vật thiêng
(chim, rồng, hổ). Đặc biệt là người Việt biết thờ cúng tổ tiên và những
người anh hùng có công với làng bản.
Con người Việt làm nên bản lĩnh người Việt. Do sống ở vùng đấ
mà điều kiện tự nhiên ô cùng đa dạng và cũng phức tạp cộng với những
yếu tố xã hội đã làm cho con người Việt Nam luôn luôn phải thích nghi
để sống và đi lên. Vì thế bản lĩnh của người Việt đã được hình thành từ
sớm, cũng vì thế khi bước vào thời kì Bắc thuộc, người Việt đã có một
tư tưởng và một ý thức hệ về độc lập dân tộc với một nền văn hoá riêng

Đến năm 111 tr.CN, nhà Hán lên thay nhà Tần đã thôn tính cả Nam
Việt, Âu Lạc từ tay nhà Triệu lại lọt vào tay nhà Hán.
Nước Âu Lạc của người Việt tồn tại không lâu-gần 60 năm thì bị
thôn tính. Người Việt đã anh dũng, đứng lên chiến đấu chống lại quân
9
xâm lược, kiên quyết bảo vệ chủ quyền độc lập của mình song đã thất
bại. Xét về nguyên nhân khách quan thì Triệu Đà có lực lượng mạnh
hơn hẳn Âu Lạc và lại gian xảo, quỷ quyệt, đất nước ta tuy hiểm trở, có
thành Cổ Loa kiên cố nhưng yếu hơn, tiềm lực vật chất không bằng
được. Từ đây bắt đầu quá trình thử thách bản lĩnh của người Việt đầy
khó khăn và gian khổ. Quá trình đó kéo dài đến 1200 năm đô hộ của các
triều đại Bắc quốc: Hán, Đường, không diệt mất, chẳng những không
diệt mất mà còn tự mình vùng lên lật đổ Bắc quốc, đạt được một chiến
thắng hiếm có ở bất kì nơi nào của thời kỳ cổ đại.
2. Chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc
2.1. Chính quyền đô hộ thiết lập bộ máy cai trị
Sau khi bị thôn tính, đất đai Âu Lạc bị sát nhập vào đất Trung
Quốc và được chia thành quận huyện. Trải qua nhiều thời kì, Âu Lạc đã
bị chia đi chia lại nhiều lần song nhìn chung, mục đích chính của bọn đô
hộ là tổ chức được bộ máy cai trị để dễ dàng bóc lột và đô hộ nhân dân
ta, luôn luôn muốn sát nhập đất nước ta trở thành một quận huyện của
chúng.
2.1.1. Thời kì Nhà Triệu và Hán
Nhà Triệu chia Âu Lạc làm hai quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu
Chân (Thanh, Nghệ Tĩnh). Nhà Hán đặt thêm quận Nhật Nam (Từ Đèo
Ngang và đến Quảng Nam, Đà Nẵng). Nhà Hán lại còn nhập ba quận này
với 6 quận khác ở đảo Hải Nam và đất liền Trung Quốc lập thành châu
Giao. Đứng đầu châu Giao là một thứ sử, mỗi quận có một Thái thú coi
việc cai trị và một đô uý coi việc quân sự. Ở các huyện (tương đương với
bộ thời An Dương Vương), chúng duy trì phương thức cai trị rất thâm

tiếp bao triều đại Trung Hoa, có chính sách cai trị rất khôn khéo, xảo
quyệt. Thiết lập bộ máy cai trị rất chặt chẽ và hệ thống.
Nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ (679), chia An
Nam đô hộ thành 12 châu trong đó: Giao Châu, Phong Châu, Trường
Châu (Bắc Bộ); Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (Bắc
Trung Bộ). Nhà Đường sắp đặt bộ máy cai trị từ trên xuống dưới.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status