CÁI NÔI BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT - Pdf 27

LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ sau khi cuộc kháng chiến chống Triệu Đà của An Dương Vương
thất bại - năm 179 trước công nguyên - đến năm 938 là thời kì đất nước ta bị ách
đô hộ, cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc mà lịch sử vẫn gọi đó là
thời kì Bắc thuộc. Năm 938 là mốc son chói lọi bằng vàng, chấm dứt hoàn oàn
ách đô hộ, áp bức bóc lột của ngoại bang, nhưng những mầm mống đầu tiên cho
sự ra đời của một nhà nước độc lập, đã có từ năm 905, khi Khúc Thừa Dụ bắt
đầu công cuộc tự chủ. Hiếm thấy trong lịch sử, một quốc gia nào khác trên thế
giới, lại bị mất nước và bị đô hộ kéo dài lâu như vậy - 1117 năm, mà cuối cùng
lại giành lại được độc lập. Và cũng hiếm có một nước nào có lịch sử chống giặc
ngoại xâm nhiều như vậy. Nếu xếp hạng, thì Việt Nam sẽ xếp hàng đầu các quốc
gia như thế, hàng đầu những ai chịu cái nhục mất nước, cái nhục làm nô lệ. Phải
chăng? Chính tạo hoá đã vô tình khi đặt Việt Nam là một nước nhỏ bé bên cạnh
một ông khổng lồ và có một vị trí địa lý quan trọng như thế. Sẵn sàng trước mối
đe doạ của giặc ngoại xâm vốn đã mang tính thường trực, Việt Nam luôn luôn bị
các nước lớn tìm cách cấu xé, ăn tươi nuốt sống. Hoặc là tồn tại, hoặc là chết, đã
đặt ra cho con người Việt Nam bắt buộc không còn con đường nào khác. Quyết
không chết mà sẽ tồn tại! Đó chính là bản lĩnh của người Việt. Thời kì Bắc
thuộc là thử thách, cũng là điều kiện làm cho bản lĩnh ấy trở thành chất thép!
1
CHƯƠNG I
CÁI NÔI BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT
I. Vị trí địa lí và nguy cơ xâm lược của ngoại bang
Đất nước ta nằm ở phía Đông Nam của châu Á với diện tích không lớn
(khoảng 329.000 km
2
) và dân số không đông lắm. Song lại có vị trí địa lí hết sức
quan trọng và chiến lược.
Phía Bắc: giáp Trung Quốc.
Tây: giáp Lào và Campuchia
Đông và Đông Nam: giáp biển Đông.

Kỹ thuật cải tiến công cụ, nghệ thuật đúc đồng của người Việt đã đến
trình độ điêu luyện, có ảnh hưởng sâu rộng đối với sản xuất nông ngiệp và
những hoạt động tinh thần, điển hình là trống đồng Đông Sơn, với những nét
văn hoá trang trí vô cùng tinh xảo, thể hiện một đời sống tinh thần của riêng
người Việt.
Đồ gốm với hoa văn trang trí ngày càng uyển chuyển và mềm mại, đa
dạng và phong phú. Đồ gốm Phùng nguyên là tiêu biểu nhất, phản ánh không
chỉ tính sáng tạo mà còn phản ánh tư tưởng, suy nghĩ riêng của người Việt.
2. Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc
Sự phát triển của công cụ lao động đã dẫn đến những biến đổi to lớn trong
sản xuất và xã hội. Công cụ bằng kim loại phát triển và sản xuất riêng lẻ theo
từng gia đình, thời cổ đã góp phần đẩy mạnh năng suất lao động, xuất hiện sản
phẩm thừa và trong xã hội có kẻ giàu- người nghèo. Mâu thuẫn nảy sinh nhưng
không gay gắt giữa quý tộc và người dân. Bấy giờ 15 bộ lạc ở lưu vực các dòng
sông lớn do nhu cầu về thuỷ lợi, về quản lý xã hội cùng với nhu cầu liên hệ
chống xâm lấn đã dẫn đến sự ra đời của Nhà nước đầu tiên: Nhà nước Văn
Lang, kế tiếp nước Âu Lạc ra đời và phát triển. Sự đánh dấu chủ quyền của
người Việt ở đây đã được xác định.
Ngay từ khi ra đời, các vua Hùng đã phải đương đầu với sự xâm lấn của
ngoại xâm. Từ giặc “mũi đỏ”, “giặc Ân”, đến đạo quân xâm lược vô cùng to lớn
của đế chế Tần, 50 vạn quân. Tất cả đều đã bị đánh tan. Nhân dân Âu Lạc cũng
nhiều lần đánh đuổi được quân xâm lược nhà Triệu. Lãnh thổ của người Việt
3
được bảo tồn, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc được giữ vững, củng cố và phát
triển.
Nhân dân thời vua Hùng, vua Thục đã xây dựng được một nếp sống, với
những phong tục tập quán riêng: tục nhuộm răng, ăn trầu, tục giã bánh giầy, gói
bánh chưng, tục thờ cúng tổ tiên…
Thành Cổ Loa với nhiều vòng thành và hào liên tiếp là một thành tựu to
lớn về khoa học kĩ thuật quân sự của ông cha ta thời kì này. Tiêu biểu cho ý thức

thuận gió hoà, mông được mùa, yên ổn làm ăn. Họ thờ cúng các thế lực tự nhiên
(thần sông, thần núi…) và các con vật thiêng (chim, rồng, hổ). Đặc biệt là người
Việt biết thờ cúng tổ tiên và những người anh hùng có công với làng bản.
Con người Việt làm nên bản lĩnh người Việt. Do sống ở vùng đấ mà điều
kiện tự nhiên ô cùng đa dạng và cũng phức tạp cộng với những yếu tố xã hội đã
làm cho con người Việt Nam luôn luôn phải thích nghi để sống và đi lên. Vì thế
bản lĩnh của người Việt đã được hình thành từ sớm, cũng vì thế khi bước vào
thời kì Bắc thuộc, người Việt đã có một tư tưởng và một ý thức hệ về độc lập
dân tộc với một nền văn hoá riêng của quá trình thích nghi và phát triển. Bởi lẽ
ấy mà người Việt với bản lĩnh của mình có đủ tự tin để đối chọi lại ách đô hộ và
đồng hoá kéo dài hơn một thiên niên kỷ.
5
CHƯƠNG II
QUÁ TRÌNH THỬ THÁCH BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT
I. CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG VÀ ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN
PHƯƠNG BẮC
1. Nước ta rơi vào ách đô hộ
Nhân lúc nhà Tần suy yếu, một viên quan cũ của nhà Tần là Triệu Đà đã
chiếm cứ ba quận phía Nam (tương ứng với Quảng Đông, Quảng Tây) lập ra
nước Việt Nam - năm 206 tr.Cn.
Sau khi thành lập nước Việt Nam, Triệu Đà đã nhiều lần đem quân xâm
lược hòng thôn tính Âu Lạc. quân dân Âu Lạc, với vũ khí tốt và thành Cổ Loa
kiên cố, dưới sự chỉ huy của những tướng tài như Cao Lỗ, Nồi Hầu đã nhiều lần
đánh bại quân Triệu. Thấy không thể thắng được Âu Lạc, Triệu Đà giả vờ xin
hoà rồi dùng mưu mô quỷ quyệt kết hợp với tấn công quân sự. An Dương
Vương thiếu phòng bị nên đã bị thất bại nhanh chóng (khoảng năm 179 tr.CN).
Theo truyền thuyết thì một mặt Triệu Đà giảng hoà và dùng của cải mua
thuộc quý tộc Âu Lạc, mặt khác cho con trai là Trọng Thuỷ sang làm rể Âu Lạc.
Nhiều người đã can ngăn vua đừng gả Mị Châu cho Trọng Thuỷ nhưng An
Dương Vương không nghe, lại còn duổi cả trung thần đi (Cao Lỗ). Trọng Thuỷ

đảo Hải Nam và đất liền Trung Quốc lập thành châu Giao. Đứng đầu châu Giao
là một thứ sử, mỗi quận có một Thái thú coi việc cai trị và một đô uý coi việc
quân sự. Ở các huyện (tương đương với bộ thời An Dương Vương), chúng duy
trì phương thức cai trị rất thâm độc “lấy người Di trị người Di”, “dùng người
Việt trị người Việt”, nhằm biến các lạc tướng, quý tộc bản địa thành chỗ dựa cho
chính quyền đô hộ, giữ nguyên nguyên tắc tổ chức chính trị cũ của Âu Lạc ở
các địa phương để sử dụng nó vào mục đích bóc lột. Như thế vừa đảm bảo được
nguồn cung cấp, vừa ít động chạm đến quyền lợi của quý tộc bản địa.
2.1.2 Thời kì từ sau Trưng Vương đến trước Lí Nam Đế
Sau thất bại của Trưng Vương, nước ta lại bị rơi vào ách đô hộ của các
triều đại phong kiến Trung Quốc. Nhà Hán, Tấn, Ngô, Trần, Lương thay nhau
làm chủ Trung Quốc và cũng vì thế mà nước ta bị chia đi chia lại, chia ra nhập
7
vào nhiều lần. Nhìn chung miền đất Âu Lạc cũ gọi là châu Giao gồm có ba quận
là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50 huyện.
Đứng đầu Châu vẫn là thứ sử từ Trung Quốc cử sang. Thứ sử có quyền
cắt đặt quan lại, điều động quân lính ở trong Châu. Ở mỗi quận có chức thái thú
và những chức quan khác giúp việc, cũng là người Hán. Bên dưới quận là
huyện. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị bãi
bỏ. Thay cho các lạc tướng người Việt là những tên huyện lệnh người Hán.
Huyện Lệnh cho xây thành luỹ và đóng quân ở đây. Chính quyền đô hộ còn ra
sức sửa sang, làm thêm đường xá nối liền quận lị, huyện lị với Long Biên - nơi
tập trung các cơ quan cai trị và quân lính.
Luật cũ của người Việt bị bãi bỏ, dân ta buộc phải theo Luật Hán. Đây là
một trong những thủ đoạn quan trọng trong việc tổ chức bộ máy cai trị của
phong kiến phương Bắc. Dần dần thiết chặt bộ máy cai trị toàn do người Hán
cai trị, đẩy người Việt xuống lớp đáy, phải lệ thuộc và chịu sự bóc lột.
2.1.3. Thời kỳ nhà Đường
Năm 618, nhà Đường thay nhà Tuỳ thống trị ở Trung Quốc. Đất nước ta
lại rơi vào ách đô hộ của nhà Đường. Nhà Đường hùng mạnh, kế tiếp bao triều

cách thiết lập một bộ máy cai trị ngày càng chặt chẽ và có hệ thống hơn, mục
đích chính là để bóc lột nhân dân ta, thống trị lâu dài nước ta. Chúng chỉ thực
hiện được một phần kế hoạch đó mà thôi. Cuối cùng không có một triều đại nào
thiết lập được nền đô hộ của chúng lên các làng xã người Việt, không thể khống
chế hoàn toàn được toàn bộ lãnh thổ của người Việt.Lại càng không thể nào áp
đặt được “sự đô hộ” lên bản lĩnh vốn có của người Việt, hay làm cho bản lĩnh
của người Việt bị khống chế, bị kìm hãm mà ngày càng phát triển tinh tuý hơn,
đẹp đẽ hơn.
2.2. Chính sách đồng hoá người Việt của bọn đô hộ
Hòng thôn tinh đát nước ta, duy trì bộ máy cai trị và xoá sổ nươc ta trên
bản đồ, bọn phong kiến phương Bắc đã sử dụng nhiều thứ “vũ khí”, trong đó
đồng hoá là “vũ khí chủ lực” sau chiến tranh.
9
Đông Á là vùng đất có cư dân sớm. Ở trung tâm, trên lưu vực sông Hoàng
Hà, dân tộc Hán sớm lập nghiệp, văn hoá của người Hán vì thế mà phát triển
mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn và có một nền văn hoá, một trình độ
hiểu biết cao hơn các dân tộc xung quanh. Các dân tộc nhỏ, văn hoá thấp hơn bị
người Hán coi là “Nam Man”, “Đông Di”, “Bắc Địch” và “Tây Nhung”. Có một
số lần Di, Địch, Nhung đã xâm nhập đất Hán nhưng thường nhất là Hán bung ra
đánh chiếm xung quanh. Trong khi đô hộ, phong kiến Hán để nhiều công sức
đồng hoá, Hán hoá các dân tộc bị trị. Đồng hoá là “đặc sắc nổi bật” của phong
kiến Hán, các triều đại sau tiếp tục theo đuổi chính sách này: đồng hoá người
Việt chúng ta mà chúng gọi là Nam Man.
Để thực thi chính sách đồng hoá, nhằm vĩnh viễn biến các vùng đất mà
chúng thống trị thành vùng đất mới, sát nhập vào Đại Hán, dân chúng ở đây sẽ
sống và sinh hoạt theo lối Hán. Rồi từ đó mà chẳng cần cai trị thì tự nhiên lãnh
thổ của người Việt sẽ là của Trung Quốc. Bắc Quốc nắm được hai ưu thế lớn,
một là dân số đông, hai là văn hoá lớn hơn. Và chính vì lẽ đó mà chính sách Hán
hoá diễn ra hết sức bài bản và thâm độc.
Ban đầu, đồng hoá đi đôi với việc chiếm lĩnh đất đai và tuyên truyền đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status