ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
• • •
TRƯƠNG THỊ THÚY HÀ
BÙA CHÚ TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT
•
( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ NGŨ KIÊN HUYỆN VĨNH
TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
•
• • •
TRƯƠNG THỊ THÚY HÀ
BÙA CHÚ TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT
•
( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ NGŨ KIÊN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên
ngành: Dân tộc học Mã số
:
tốt nhất cho quá trình học tập của tôi tại đây.
Và cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đã luôn ủng hộ giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã cố gắng theo đuổi ý tưởng nghiên cứu và nỗ lực làm việc hết mình của bản
thân, song do kiến thức và thời gian có hạn nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của tất cả các thầy cô, bạn bè và những ai quan
tâm tới đề tài.
Hà Nội, tháng năm
Trương Thị Thúy Hà
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.l: Vật liệu sử
dụng để làm bùa của Thầy cúng Đạo giáo ở xã An Cầu,
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Bùa chú là một sản phẩm “kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật”, là một phần của đời
sống tôn giáo tín ngưỡng lâu đời nhất, cổ xưa nhất, phổ biến nhất trong lịch sử loài
người và còn tồn tại cho đến nay. Bùa chú có mặt trong tất cả các nền văn hóa và
được tìm thấy trong mọi thời kỳ của lịch sử.
Trong thế giới hiện đại, bùa chú tồn tại nhưng không hiển hiện một cách rõ
ràng trên bề mặt của những hành vi tôn giáo tín ngưỡng nhưng nó lại là một mạch
nước ngầm bền bỉ, sâu sắc và tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng trong đời sống tâm
linh. Nó được các pháp sư, thầy cúng, ông bà đồng, hoặc các nhà sư làm ra và sử
dụng cho các mục đích khác nhau, ngươi ta co thê dung đê bao vê cơ thê chông lai
một cách sâu sắc và toàn diện.
Trong quá trình thu thập tài liệu cũng như quá trình thực địa hiện vật được
“thiêng hóa” với tên gọi “bùa chú” này đã đem lại cho chúng tôi nhiều khám phá mới
mẻ và thú vị. Điều thú vị mà chúng tôi phát hiện được đó là từ việc sản xuất đến tiêu
dùng bùa chú nó đã mang trong mình một “qui trình” khép kín và chứa đựng những
qui tắc “ngầm” (hay kiêng kị) để phản ánh mối quan hệ quan hệ của con người với
thế giới thần linh. Bên cạnh đó, chúng tôi còn được chứng kiến hiệu ứng tác động của
bùa chú đối với chính đời sống tâm linh của người Việt.
Từ những cơ sở thú vị và mới mẻ của bùa chú, cũng như sự biến đổi nhanh
chóng trong đời sống xã hội đã khiến chúng tôi quyết định lựa chọn “Bùa chú trong
đời sống tâm linh người Việt (Nghiên cứu trường hợp xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh
Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” để làm đề tài luận văn của chuyên ngành Dân tộc học.
Nghiên cứu về bùa chú chính là nghiên cứu hiện vật của tôn giáo tín ngưỡng
đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng dân gian, nghi lễ và phong tục, một phần
trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng. Bởi vậy, tìm hiểu về đề tài này chính là tìm hiểu
về những thực hành tôn giáo tín ngưỡng trong dân gian nhằm nhận định mối quan hệ
của bùa chú với đời sống tinh thần của con người trong cuộc sống hiện đại là một
trọng tâm trong nghiên cứu nhân học.
Trên thực tế, bùa chú là một hiện vật của tôn giáo, tín ngưỡng vì thế nó sẽ có
những ảnh hưởng về mặt xã hội lên các hành vi của con người, về niềm tin tín
ngưỡng tôn giáo. Nghiên cứu này sẽ khám phá quan niệm, niềm tin của con người về
thế giới và chính bản thân mình.
Ngoài ra, trong khoảng những năm gần đây nhu cầu sử dụng bùa chú ngày
càng tăng lên, bùa chú đã trở thành một thứ hàng hóa và hình thành nên một “thị
trường bùa chú” rộng lớn, bùa chú mang lại lợi nhuận cho người làm bùa, người sản
xuất bùa và phân phối bùa, nó bao hàm bên trong nó những mục đích và những hành
vi kinh tế rất lớn. Vì thế, trong một chừng mực nào đó nghiên cứu phản ánh xã hội
hiện tại của con người.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngày chúng tôi sẽ tập trung và hai nhóm đối tượng chính:
Người sản xuất và phân phối bùa; người sử dụng lá bùa đó. Bên cạnh đó, một đối
tượng đặc biệt trong nghiên cứu này chúng tôi muốn đề cập đó là bản thân những lá
bùa.
Thứ nhất, người sản xuất và phân phối bùa: Thầy cúng, pháp sư, ông đồng,
nhà sư.. .Cụ thể, chúng tôi đã tiếp cận với một thầy cúng, một pháp sư đồng thầy, một
thầy cúng tại thôn Xám xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, một nhà Sư
tại chùa Thiên Phúc xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc; một pháp Sư
tại Thôn Lương Cầu, xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, một Pháp Sư tại
Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra chúng tôi còn tiếp cận với tầng lớp
trung gian chuyên phân phối bùa chú đó là một vài người bán bùa tại phố hàng Mã,
Hà Nội. Mặc dù, họ không làm ra bùa nhưng họ người giữ vai trò qua trọng trong
việc phát triển một thị trường bùa chú rộng lớn.
Thứ hai, những người sử dùng bùa: Những người sử dụng bùa là những người
dân tại địa bàn thôn Xám, xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong
nghiên cứu này chúng tôi đặc biệt quan tâm đến “những người sử dụng bùa”, họ sẽ là
những người giúp chúng tôi lý giải mã vai trò của bùa chú trong đời sống tâm linh
của người Việt trong thế giới hiện đại.
Chính bản thân những lá bùa: Loại bùa chúng tôi tiếp cận chủ yếu là bùa Bình
An, bùa Trấn Trạch, bùa Độ Tử, bùa Chữa bệnh đây là những loại bùa được sử dụng
chủ yếu trong đời sống của người Việt hiện nay.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu của tôi nhấn mạnh đến vị trí vai trò của bùa chú trong đời sống
lâm linh của người Việt trong xã hội hiện đại chính vì thế nghiên cứu sẽ kết hợp
nghiên cứu trên một không gian rộng và nghiên cứu sâu tại một địa bàn cụ thể.
người ta dùng bùa chú. Những trải nhiệm công hiệu của bùa chú trong cuộc sống của
người dân.
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu nêu ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, vấn
đề nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu thì phần nội
dung của luận văn bao gồm các chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về bùa chú và địa bàn nghiên cứu
Nội dung của chương nói lịch sử nghiên cứu, phân tích phương pháp và
khung lý thuyết tiếp cận vấn đề. Các khái niệm công cụ liên quan tới vấn đề nghiên
cứu, và địa bàn nghiên cứu.
Chương 2: Bùa chú trong đời sống
Chương này chúng tôi đưa ra các tiêu chí để phân loại bùa chú, và các loại
bùa chú được sử dụng trong đời sống của người Việt.
Chương 3: Bùa chú, thị trường và đời sống tâm linh
Chúng tôi đề cập đến quy trình sản xuất ra bùa chú: Từ người sản xuất ra bùa
chú, các phương thức sản xuất ra bùa chú, người tiêu thụ bùa chú, các yếu tố tác động
đến nhu cầu sử dụng bùa chú trong đời sống của người dân.
Kết luận
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÙA CHÚ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.
Lịch sử vấn đề
Bùa chú nằm trong ma thuật, và nó là hiện vật của tôn giáo tín ngưỡng vì vậy
trong các công trình nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng từ sớm đã ít nhiều đề cập đến
bùa chú một cách gián tiếp hoặc trực tiếp. Nghiên cứu về vấn đề này đáng kể phải kể
đến các công trình nghiên cứu của:Edward Tylor, Frazer, Macel Mauss, Bronislaw
với Frazer ông đều cho ma thuật là tất cả những hành động nhằm tạo ra các hiệu lực
riêng biệt bằng cách áp dụng hai định luật: Mẫn cảm, và đồng hóa. Theo đề mục cổ
điển của James Frazer sympathetic magic (ma thuật giao cảm) thì ma thuật đồng cảm
bao gồm hai tiểu loại nói về các phương thức công hiệu ma thuật: Homeopathic
magic (phép vi lượng đồng cân) - đây là ma thuật hoạt động thông qua hành động
tương đồng gián tiếp, sự giống nhau sản sinh ra sự giống nhau, và contagious magic
(phép lây nhiễm) - đây là ma thuật hoạt động thông qua hành động tiếp xúc trực tiếp
có ảnh hưởng đến kết quả mong muốn. Hành hộng ma thuật có thể đồng thời biểu thị
cả hai phương thức công hiệu này vì về nguyên tắc hoạt động chúng bổ trợ lẫn nhau
chứ không loại trừ nhau. Ví dụ, một bùa mê tình yêu có thể dùng các chất vi lượng
đồng cân (thảo dược, đá, vải, v.v - những vật, xét về mặt tượng trưng hoặc tác dụng
chữa bệnh, gắn liền với tình yêu và mong muốn tăng thêm) cũng như các chất hoạt
động qua sự lây nhiễm (một món tóc hoặc một vật dụng mà người bị bỏ bùa xé hoặc
sờ phải). Ông đã lập luận như sau: “Cái đồng dạng tạo ra cái không dạng, các vật tiếp
xúc với nó nhưng đã không còn tồn tại nữa tiếp tục tác động cái này với cái kia như là
sự tiếp xúc vẫn tồn tại” và người ta có thể thêm vào như một hiệu quả: “Bộ phận được
coi là cái toàn thể như là hình ảnh đối với các vật tiêu biểu” như thế định nghĩa tạo ra
của trường phái nhân chủng học nhằm thu hút ma thuật vào ma thuật mẫn cảm. Mẫn
cảm là đặc tính đủ và cần thiết của ma thuật, tất cả các nghi lễ ma thuật đều mẫn cảm
và ngược lại. Ông đã hoàn toàn biến nó vào những hiện tượng mẫn cảm nhưng ông đã
không có những chứng minh lý lẽ cho sự lựa chọn ấy.
Cả Frazer and Tylor coi ma thuật như là một phần của tư duy sai lầm và lây
nhiễm mà họ gán ghép cho những điều kiện xã hội nguyên thuỷ và ít tiến hoá về
những dân tộc mà họ nghiên cứu. Họ nhìn thấy những ví dụ về ma thuật trong xã hội
như là “tàn dư” của thời nguyên thuỷ. Frazer và Tylor dựa vào những bài viết, ghi
chép của những người du lịch, truyền giáo, những người phục vụ cho chế độ thực
dân. Hai ông là “Nhà nhân học ghế bành”, nghiên cứu tại nhà và không bao giờ tiếp
xúc với người dân, những con người mà về họ hai ông phân tích, lý giải văn hoá của
quyền năng thực hành ma thuật (thầy phù thủy) các đặc điểm của họ, cuộc sống của
họ, những nghi lễ họ phải trải qua.. .đến niềm tin của người dân vào sức mạnh của ma
thuật. Những luận thuyết của Marcel Mauss như là kim chỉ nan trong nghiên cứu về
ma thuật.
Malinowski, Bronislaw [29] trong “Magic, science and religion”1 ông đã sống
và trực tiếp quan sát cuộc sống, thực hành ma thuật của người dân trên đảo
Trobriands, phát triển một khía cạnh mới trong lĩnh vực nghiên cứu nhân học nói
chung và ma thuật nói riêng. Theo Malinowski, “ma thuật” giải quyết những vấn đề
mang tính không chắc chắn trong cuộc sống tại đảo Trobriand, đặc biệt là những thế
1 “Magic,
science and religion” trong Magic, science and religion and other essays.
Garden city, N.Y.: Doubleday anchor. Trang 17 - 92). Bản dịch in trong sách Nhân
học tôn giáo. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Tạp chí xưa & nay. Nhà xuất bản Đà
Nẵng, 2006.tr147-213.
lực thiên nhiên tác động vào làm vườn và chuyến đi biển xa. Malinowski chấp nhận ý
tưởng của Sir James Frazer, là thực hành ma thuật, những người nguyên thuỷ đã thực
hành “khoa học nguyên thuỷ.” Ông quan điểm ma thuật là sự thay thế nghèo nàn cho
khoa học, ít ra thì là một khoa học nguyên thuỷ. Mặc khác, ông nhận thấy ma thuật là
sự cần thiết của người ở đảo Trobriands bên cạnh những trí thức bản địa về cuộc
sống, làm vườn và đi biển. Nghiên cứu của Malinowski có tầm ảnh hưởng rất lớn
trong nghiên cứu nhân học về ma thuật.
Ma thuật, trong quan điểm của những nhà nhân học từ Frazer đến Marcel
Mauss, Malinowksi thì đều cho rằng: Ma thuật theo đuổi những mục đích thực tiễn và
vị lợi. Con người có thể sử dụng ma thuật để cầu cho vật thịnh, mùa màng tốt tươi,
hay với mục đích cá nhân để chiến thắng có người yêu, hay để làm cho người khác
bất hạnh... Và bùa chú chính là yếu tố căn bản trong ma thuật là “vật chứa đựng sức
mạnh của ma thuật, giá trị của ma thuật, và là yếu tố quan trọng nhất của ma thuật”
thuật tiêu cực, trong cả hai loại ma thuật này đều không thể thiếu được yếu tố cốt lõi
của bùa chú. Từ xưa, trong đời sống tín ngưỡng người An Nam bùa chú đã tồn tại,
người ta sử dụng bùa với rất nhiều mục đích cầu tài lộc, xua đuổi tà ma, tránh bệnh
tật, chống trộm cắp, cầu mong tình yêu, .và cách tạo ra bùa thay đổi theo mục đích sử
dụng. Paul Giran đã có những mô tả dân tộc học rất chi tiết về việc thực hành ma
thuật trong tín ngưỡng của người An Nam, từ những kiêng kỵ của người thầy phù
thủy, dụng cụ hành nghề, vật liệu để làm bùa, đồng thời ông cũng đưa ra những quy
tắc trong việc làm bùa
như: Hướng, ngày, mùa, năm. Các công đoạn trong việc tạo ra
bùa: Chuẩn bị các vật liệu, vẽ bùa, bắt quyết, thư hương.. .và
ông cũng đã có những lý giải cho các bước thực hành đó, bắt
quyết, niệm thần chú, và ông cũng đã đề cập khá chi tiết những
vị thần được thờ để làm ra bùa chú như: Ngọc Hoàng, Tam Danh,
Độc Cước, Trần Hưng Đạo. Paul Giran đã quan sát thực hành ma
thuật trong đời sống của người An Nam và ông nhận thấy rằng:
Bùa chú là một trong những thực hành ma thuật trong đời sống
tín ngưỡng tôn giáo của người An Nam. Có thể nói Paul Giran đã
để lại một mảng tư liệu vô cùng phong phú về những thực hành ma
thuật trong đời sống của người An Nam và trong đó có bùa chú.
Tuy nhiên, nghiên cứu của ông về bùa chú mới chỉ là những mô tả
sơ khai về việc thực hành tín ngưỡng này trong đời sống của
người An Nam mà chưa có những lý giải về vấn đề này. Pierre
Gourou [74], trong “Người nông dân ở châu thổ Bắc Ấ^”cũng đã nhắc tới
việc sử dụng bùa chú trong phong tục xây dựng nhà cửa của người
dân ở châu thổ bắc kỳ:“Hạnh phúc và an lành của người trong nhà
phụ thuộc vào việc xua đuổi tà khí” [74, tr.286]. Họ sử dụng
bùa chú để trấn trạch giữ bình yên cho ngôi nhà của mình, để
xua đuổi tà khí, để xử lý với những ngôi nhà không được hướng
Bùa Chú trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt. Theo tác giả bùa chú nằm trong
những “Biến thể của Đạo Lão” ở nước ta bùa chú nằm trong thuật “Phù Thủy” luyện âm binh
có phép làm bùa chú để chữa bệnh, có phép làm bùa yêu bùa mê, sai khiến âm binh làm các
công việc của người trần.
“Những nhà có người chết, gặp giờ xấu, sợ có trùng tức là có hung thần tra khảo phải
nhờ thầy phù thủy cho bùa dán trong quan tài, yểm chung quanh huyệt mộ cũng như ở trong
nhà để trấn áp tà ma. Người đau ốm cho là ma làm, mời thầy phù thủy để diệt ma” [5,tr. 211212).
Ngoài ra tác giả cũng đề cập đến bùa chú cũng được thực hiện trong đạo “Thanh
Đồng” thờ Trần Hưng Đạo cũng làm bùa chú chữa bệnh, xua đuổi tà ma. Đào Duy Anh, cũng
đã đề cập đến việc sử dụng bùa chú trong việc sinh đẻ cũng như nuôi con:
“Khi có người đẻ thì người ta treo ở trước nhà một vật gì làm hiệu để người ngoài
đừng đến thăm, vì sợ người xấu vía sẽ làm cho đứa con hay khóc hoặc ốm đau. Khi nuôi con
người ta còn dùng vô số cách trừ yểm để bảo hộ cho đứa trẻ như đựng miếng đá, miếng gạch
có vẽ bùa, đeo bùa cho đứa trẻ hay treo những xác rắn cùng những đồ uế tạp.”[2, tr. 1050].
Các công trình khảo tả trên đã đề cập đến bùa chú luôn hiển hiện trong đời sống tín
ngưỡng của người Việt từ xưa tới nay. Nhưng các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc mô
tả nó có tồn tại trong đời sống của họ mà chưa có những phân tích lý giải về vấn đề nghiên
cứu.
Nguyễn Đăng Duy [13] có đề cập đến bùa chú trong đạo giáo. Trong đó tác giả đề cập
đến ảnh hưởng của Đạo giáo trong đời sống tâm linh: Niềm tin về thuật phong thủy, niềm tin
vào tướng số, đồng thời tác giả cũng đề cập đến những địa danh và những không gian Đạo
giáo còn ở nước ta hiện nay. Nguyễn Đăng Duy có viết:
“Thuật phong thủy theo Đạo giáo cũng đã sớm du nhập vào nước ta. Thời thuộc
Đường, viên thái thú Cao Biền là người giỏi thuật phong thủy tương truyền y thường cưỡi
diều bay khắp đất Giao Châu để dò tìm chỗ nào có long mạch thì yểm bùa phá đi, để triệt hại
nhân tài nước Nam.” [13,tr.113].
Niềm tin vào thuật phong thủy đã ảnh hưởng và tác động vào việc thực hành tín
ngưỡng chọn đất làm nhà, chọn hướng nhà trong nhân dân. Còn rộng lớn hơn trên bình diện
; và “Bước đầu tìm hiểu về các loại hình bùa chú của người Việt” [59]; tác giả đã đề cập và
phân tích tương đối kỹ lưỡng những công đoạn để làm ra một lá bùa từ những công đoạn chọn
gỗ để làm ván khắc in bùa, đến những kiêng kỵ đối với người làm ra đạo bùa. Đồng thời tác
giả còn cho chúng ta một cái nhìn về thị trường bùa chú hiện tại không chỉ tồn tại những đạo
bùa được làm một cách cẩn thận bởi các pháp sư, thầy cúng mà bùa hiện nay còn được sản
xuất hàng loạt và trở thành một thứ hàng hóa trên thị trường. Với phương pháp điền dã dân
tộc học nghiên cứu của Vũ Hồng Thuật đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối toàn diện về
các công đoạn để làm ra một đạo bùa. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này Vũ Hồng Thuật đặt
trọng tâm vào chiếc Ván in Bùa Trấn Trạch một hiện vật tạo ra bùa, mà chưa cho chúng ta một
cái nhìn sâu sắc và toàn diện về bùa chú. “Bước đầu tìm hiểu về các loại hình bùa chú của
người Việt” Vũ Hồng Thuật khắc họa cho chúng ta một cái nhìn sơ khai về bùa chú của người
Việt: Từ bùa của Đạo giáo, bùa của Phật giáo, bùa của Công giáo. Cùng với đó tác giả đã khắc
họa bối cảnh như thế nào người ta sử dụng bùa, chất liệu để làm bùa, công năng của đạo bùa
trong đời sống tín ngưỡng của người Việt. Trong nghiên cứu này, Vũ Hồng Thuật đã sử dụng
khung lý thuyết “quyền lực” để làm nổi bật lên quyền lực của người thực hành tôn giáo cũng
như công năng của những lá bùa. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả mới khái quát một
cách chung nhất về bùa chú trong đời sống của người Việt mà chưa có những phân tích cụ thể
nào. Mặc dù vậy, công trình cũng cung cấp cho người đọc những kiến thức độc đáo về bùa
chú trong đời sống của người Việt mà từ trước đến nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Những
nghiên cứu của Vũ Hồng Thuật đã để lại nguồn tư liệu rất quan trọng trong nghiên cứu bùa
chú cho các học giả sau này.
Cũng phải kể đến nghiên cứu của Lương Thị Đại [16]về “Các hình thức ma thuật,
bùa chú của người Thái Đen ở Điện Biên ” tác giả đã sưu tầm được 125 bài chú cũng như
những hướng dẫn làm bùa chú về các lĩnh vực đời sống của người Thái ở Điện Biên. Họ làm
bùa để chữa bệnh từ những bệnh đơn giản đến phức tạp như: Chữa cho người bị cảm lạnh,
cảm gió, khó chịu trong người, đau đầu, sởi, bỏng nước sôi,
quai bị, hoặc bị ma tà làm hại.............; bùa ngăn chặn, đuổi ma cho Mường, cho bản, cho
gia đình; bùa trong sản xuất chăn nuôi, bùa cho dân bản mường được yên bình khỏe mạnh,
nghiên cứu về bùa chú ở Việt Nam mới chỉ ở dạng sơ khai chưa mang tính chất là một nghiên
cứu chuyên biệt. Và phần lớn bùa chú được mô tả trong các tập tục tín ngưỡng ở các dân tộc
thiểu số. Tuy nhiên, có thể khẳng định bùa chú tồn tại rất phổ biến trong sinh hoạt tín ngưỡng
ở mọi xã hội nhất là trong xã hội người Việt hiện đại.
Bên cạnh đó, trong thơi gian gân đây sô lương cac bai viêt vê chu đê bua chu trên cac
phương tiên truyên thông tăn g lên đôt biên đặc biệt vào dịp đầu năm mới, mở đầu với sự kiện
lễ hội Đền Trần mà tâm điểm của lễ hội là sự chú ý đặc biệt của cộng đồng giành cho lá Ân
với những ý nghĩa đặc biệt về mặt tâm linh. Những câu chuyện về sự thật, giả của lá ấn, về
việc thương mại hóa, và sự xuất hiện của “chợ ấn” với sự hoành hành của các tay “buôn ấn”,
“phe ấn” được báo chí dành nhiều lưu tâm để phản ánh (Nguồn: Hùng Bách, Chợ ấn nóng,
dân buôn ấn Đền Trần hoành hành, vietnamplus.vn, ngày 16/02/2011). Hay sự kiện “hòn đá
lạ” được trấn yểm một đạo bùa ở Đền Hùng cũng đã từng là những chủ đề “nóng” thu hút sự
quan tâm chú ý của công luận. Bùa chú cũng là chủ đề được đề cập đến trong rất nhiều trang
Web. Nếu ta mở vi tính ra thì thấy nhan nhản những trang mạng quảng cáo và giao bán những
thứ ngọc thạch, bảo thạch, hay những món bùa, những vật phẩm phong thủy, trang sức đeo để
lấy may, lấy phước, lấy hên...với giá không hề giẻ chút nào. Và bùa chú cũng là chủ đề được
đề cập đến trong rất nhiều bài xã luận trong các trang mạng: Bùa yêu, bùa ngải của các dân
tộc thiểu số, bị bỏ bùa, những cái chết bất đắc kỳ tử, những vụ thảm án liên quan đến bùa chú
[82]; nhưng đó chỉ là những bài mang tính chất thông báo. Một số bài viết cũng thông báo cho
người đọc những hiểu biết sơ qua về bùa chú như:Nguồn gốc của bùa chú, công năng về bùa
chú. Một số bài viết đi sâu về lịch sử bùa chú của Trung Quốc [83]. Không ít các bài viết đề
cập đến những câu truyện thực hư, kỳ bí liên quan đến bùa chú [84]. Bài viết đề cập đến bùa
chú chữa bệnh nhưng các bài viết chỉ đưa tin và đi xác minh vấn đề [85]. Bên cạnh đó cũng có
không ít những trang web đề cập đến bùa chú, phong thủy nhà ở, phong thủy văn phòng, nhà
bếp [86].. Bùa chú là chủ đề đang “hót” và được đề cập đến rất nhiều trên Internet tuy nhiên
đó mới chỉ là những bài viết đa phần mang tính thông báo, khám phá sự kiện, chưa có một
nghiên cứu sâu về bùa chú, và chưa có một cái nhìn toàn diện cũng như sâu sắc về vấn đề này.
1.2.
thuật bùa chú bao giờ cũng là vật được quan tâm và chú trọng nhất trong mọi trường hợp.
Với tính chất đặc thù như là một môn nghệ thật thực tiễn, có hiệu quả cao và đáp ứng
trực tiếp được những mong muốn của con người, bùa chú được công nhận như một dạng kĩ
thuật đặc biệt. Kỹ thuật đặc biệt ấy đã được Mauss phân tích và lý giải là sự kết hợp của rất
nhiều yếu tố: Đó là Nghệ thuật của người thực hành quyền lực ma thuật, là sự kết hợp của
những điều kiện nghi lễ (thời gian, không gian, chất liệu, bộ đồ nghề của thầy phù thủy, những
kiêng kỵ của thầy phù thủy.); của tính chất nghi lễ, để tạo nên tính hiệu lực của ma thuật.
Đồng thời, chúng tôi nhận thấy rằng: Phạm trù tôn giáo, tín ngưỡng được định nghĩa
bởi khái niệm linh thiêng tức là thiên về mặt “tinh thần”thì bùa chú trong ma thuật lại đáp ứng
phần vỏ “vật chất” cho sự chuyển giao từ “Phàm” sang “Thiêng”.Thực tế, trong bản thân một
nghi lễ đã mang tính vật chất và những lời chú ngữ mà người thầy phù thủy sử dụng để cầu
khẩn thì yếu tố linh thiêng hay “tinh thần” đã xuất hiện.
Bùa chú như một vật chứng cụ thể nhất của mối quan hệ, liên kết giữa hai yếu tố “vật
chất” và “tinh thần”. Và bằng một cách nào đó, yếu tố vật chất với sự tác động của tinh thần
đã biến một lá bùa bình thường trở thành một vật linh thiêng có sức mạnh huyền bí của ma
thuật. Nhưng “không phải con người thuần túy nô lệ cái thiêng đó mà tìm cách khống chế nó
khiến nó làm lợi cho cuộc sống của con người. Ma thuật là hình thức cao nhất để đạt đến mục
đích đó.Ma thuật điều kiển cái thiêng” [28, tr.233] để phục vụ cho những mục đích vị lợi của
con người.
Như vậy, với những lí giải “khoa học”đến từ ma thuật mà các học giả như Macell
Mauss, Malinowksi, và sau này là Tambiah, Alfred Gell cung cấp mà bùa chú trở thành một
vật thiêng liêng với một nhiệm vụ cụ thể đó là lý giải, khống chế, sai khiến các sức mạnh siêu
nhiên phục vụ cho những mục đích cụ thể của con người.
Trên thực tế, chúng tôi nhận thấy: Bùa chú là một hiện vật của tôn giáo tín ngưỡng, lâu
đời nhất, cổ xưa nhất, phổ biến nhất trong lịch sử loài người còn tồi tại đến ngày nay. Nó là
một “biển tri thức” mà bản thân chúng tôi với những hạn chế về mặt kiến thức trong luận văn
này chúng tôi sẽ không cố gắng đi sâu vào những yếu tố căn nguyên dẫn tới sự ra đời của bùa
chú, nguồn gốc của ma thuật nguyên thủy mà trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ cố gắng lý
Khái niêm về hồn và phách (dân gian còn gọi là vía)
Hồn, phách hay vía (theo cách gọi của dân gian) là một khái niệm tương đối phức tạp,
và được các nhà nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Hồn, phách (vía)
cũng là cụm được nhắc tới nhiều trong các sách viết về phong tục, tín ngưỡng ở Việt Nam
nhưng giải thích về vấn đề này lại vô cùng phong phú và phức tạp, cho đến giờ chưa có một
khái niệm chung nào cho Hồn, Phách hay Vía. Trong tâm linh của người Việt từ xưa đã cho
rằng tất cả mọi vật trong vũ trụ và thế gian này đều có linh hồn, và nó tồn tại với rất nhiều cái
tên: Hồn, linh hồn, phách, vía, ma, quỷ, thần, thánh, yêu. Quan niệm hồn phách, hồn vía khá
phổ biến trong các tộc người ở Việt Nam nói chung và người Việt nói riêng, ở mỗi tộc người
quan niệm về hồn phách, hồn vía lại khác nhau.
Theo quan niệm thông thường của người Việt, con người ai cũng có hồn, phách hay
vía (theo cách gọi dân gian) khi chết, phách bị tiêu tan cùng thể xác, chỉ còn hồn không thể
mất. “Thác là thể xác, còn là tinh anh” (Tinh anh cũng tức là linh hồn).
Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống con người và xã hội, vấn đề Hồn phách lại biểu
hiện không hề đơn giản. Bởi người Việt Nam từ ngàn xưa chịu ảnh hưởng qua lại của nhiều
luồng tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Ân Độ
giáo, Công giáo,...
Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Hồn là chỉ các hồn tinh thần, còn vía là chỉ những linh
hồn vật chất. Hồn thiêng hơn vía [33, tr.70].Vì thế, khi người ta còn sống mọi người tránh nói
tới hồn của người đó. Còn “Vía có thể gây hại. Vía có những tính chất khác nhau tùy theo
người có vía: có những người có vía tốt và lành; những người khác có vía xấu và dữ. Vía tốt
đem lại điều phúc: mọi người tìm cách gặp vía tốt. Vía xấu có ảnh hưởng tai hại: trong mọi
công việc, người ta thường tránh vía xấu” [33, tr.70. Tác giả cũng cho rằng: Cái chết của con
người là do hồn vía bỏ đi. Những hồn vía này rời khỏi thân thể người lúc còn hơi thở cuối
cùng.Và hồn sau khi chết cũng có những nhu cầu và ước muốn như người sống.
Nguyễn Duy Hinh [26], có dẫn trong Tả truyện, Chiêu Công thất niên đề cập đến hồn
và phách và được tác giả dịch nghĩa: “Khi con người mới sinh ra thì đã có phách, đã có phách
rồi thì biểu hiện dương là hồn, nếu như vật rất tinh thì Hồn Phách mạnh. Khổng Dĩnh Đạt giải