Giải mã về con số 3 trong tâm thức văn hóa của người Việt (nghiên cứu trường hợp thần thoại, truyền thuyết và cổ tích) - Pdf 25

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian vừa là bộ phận cấu thành nên nền văn học dân tộc, vừa
là một phần không thể thiếu được của văn hóa dân gian. Là những tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tập thể sáng tạo, mọi khía cạnh trong đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được phản ánh một cách rõ nét. Qua tác
phẩm văn học dân gian, chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc nhất vẻ đẹp
của trí tuệ, tâm hồn cùng với những truyền thống tốt đẹp của con người và dân
tộc Việt Nam.
Truyện cổ là bộ phận quan trọng của văn học dân gian, trong đó thể loại
thần thoại, truyền thuyết và cổ tích được xem như một món ăn tinh thần không
thể thiếu được trong đời sống của nhân dân lao động và là một di sản quý báu
của văn hóa dân tộc. Trong mỗi tác phẩm, chúng ta không chỉ thấy trong đó
công việc làm ăn cùng với những kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động
hay những ước mơ và khát vọng của họ được gửi gắm, mà còn thấy ẩn chứa ở
trong đó rất nhiều mã và mật mã văn hóa độc đáo, đặc sắc.
Một điều hiển nhiên, chúng ta dễ nhận thấy các con số được trở đi, trở lại
nhiều lần trong truyện thần thoại, truyền thuyết và cổ tích, sự có mặt của chúng
không hoàn toàn là ngẫu nhiên. Đặc biệt con số 3 là một con số huyền bí có tần
số cao, chìm sâu bên trong là những lớp lang văn hóa đòi hỏi phải đi sâu vào
nghiên cứu và giải mã thì mới có thể hiểu hết được. Việc giải mã văn hóa ở đây
sẽ phần nào cho chúng ta cảm nhận được, hiểu rõ hơn về các lớp lang văn hóa
nhiều thời đại và tâm thức văn hóa của dân tộc ta trong suốt trường kỳ lịch sử
cùng những quan niệm, tư tưởng, tình cảm của con người, bản sắc văn hóa và
nhất là tâm thức văn hóa dân gian Việt Nam. Đây quả thật là một lĩnh vực
nghiên cứu mới mẻ và tiềm năng.
Thực hiện đề tài này, trước hết chúng tôi sẽ có điều kiện để mài sắc một
công cụ lý thuyết nhằm tiếp cận một hướng đi mới trong nghiên cứu văn hóa dân
gian, văn học nói chung. Giải mã văn hóa, chúng tôi không những có cơ hội rèn
2

hóa
Đề cập tới vấn đề này có thể kể đến một số ý kiến sau:
GS. Phạm Đức Dương, trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh
Đông Nam Á” cho rằng: biểu tượng văn hóa chính là một phần của mã văn hóa.
Sau đó tác giả đưa ra nhận định: “Văn hóa học (culturologie) có nhiệm vụ giải
mã thế giới biểu tượng, nhằm phát hiện tâm thức của người bản ngữ thông qua
các quy luật vận động của các hệ thống tín hiệu” [8;17]. Ngoài ra, tác phẩm
chưa trình bày cụ thể hơn về vấn đề mã văn hóa và cách thức giải mã văn hóa
như thế nào.
Tham gia vào vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà trong bài viết
“Mã và mã văn hóa” đăng tải trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số tháng 9, năm
2006, cho rằng: “Mã văn hóa là kết tinh của những giá trị văn hóa, là phần nổi
bật nhất, cơ bản nhất, có tính ổn định tương đối của cộng đồng. Nó được biểu
hiện ra ngoài bằng các tín hiệu văn hóa, biểu tượng văn hóa chìm sâu bên trong
là vô vàn các lớp nghĩa luôn đòi hỏi giải mã thì mới có thể hiểu được con người
và cộng đồng đó” [12;46]. Như vậy, tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về
mã văn hóa nhưng mới chỉ dừng lại ở vấn đề lý luận, chưa đề cập tới một phạm
vi nghiên cứu cụ thể.
PGS.TS Trần Lê Bảo trong công trình có nhan đề “Giải mã văn học từ mã
văn hóa” cho rằng: “Giải mã là đặt văn học vào trong bối cảnh rộng lớn của văn
hóa - xã hội hoặc trong ảnh hưởng với những hiện tượng văn hóa - xã hội khác,
từ đó làm nổi bật lên những sắc thái văn hóa phong phú được thể hiện trong tác
phẩm văn học hoặc giải mã khám phá những phù hiệu, biểu tượng hàm ẩn muôn
vàn lớp nghĩa trầm tích của văn hóa trong văn bản văn học cụ thể qua những
lớp bề mặt của ngôn ngữ tác phẩm, trên cơ sở so sánh hiện thực và lịch sử, đi
sâu vào khám phá nội hàm tâm lý văn hóa và hạt nhân văn hóa tiềm ẩn trong
nhiều lớp trầm tích của tác phẩm, đối chiếu tổng thể trên nhiều bình diện, nhiều
góc độ để đánh giá hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học và ý nghĩa quan
trọng của văn học đối với cuộc sống của nhân loại” [2;35]
4

thể thấu hiểu được quan niệm, tư tưởng và tình cảm của con người và dân tộc
Việt Nam.
Quan tâm đến vấn đề này trong quá trình tìm tòi, khám phá ý nghĩa của
con số này, chúng tôi nhận thấy đã có một số tác giả với những cuốn sách và đề
tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu những cách lí giải về con số 3. Tác giả Trần Gia
Anh với cuốn sách “Con số dân gian” đã đưa ra những cách kiến giải về con số 3
trong truyện “Sự tích trầu cau”. Tác giả Phan Đào Nguyên với tác phẩm “Con số
3 huyền bí” đã một phần nào đó gợi mở và phát hiện thấy được sự xuất hiện hết
sức đặc biệt của con số này. “Giải mã văn hóa truyện Con Rồng cháu Tiên trong
hệ thống truyền thuyết Hùng Vương” của Nguyễn Thị Thu Thủy (Khóa luận tốt
nghiệp đại học, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ) cũng có đề cập đến
những con số trong hệ thống truyền thuyết Hùng Vương. Tuy nhiên để có những
kết luận thỏa đáng và sâu sắc thì những công trình trên chưa làm rõ, hầu như
những kiến giải đó còn khá sơ sài, thường tản mạn hoặc chung chung và nhất là
chưa có hệ thống, không gắn liền với thể loại truyện cổ dân gian.
Vì vậy, việc nghiên cứu và giải mã về con số 3 trong tâm thức văn hóa của
người Việt, nghiên cứu trường hợp thần thoại, truyền thuyết và cổ tích mà chúng
tôi lựa chọn là một vấn đề chưa được giới nghiên cứu quan tâm một cách cụ thể,
thấu đáo. Đi sâu vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có được những
đóng góp mới, ích dụng.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là con số 3 trong tâm thức văn hóa
của người Việt biểu hiện trong thần thoại, truyền thuyết và cổ tích.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các truyện có mặt trong các tài liệu sưu
tầm và tuyển soạn về ba thể loại này mà chúng tôi đã cân nhắc kỹ lưỡng để lựa
chọn, cụ thể như sau:
6
- Thần thoại: Khảo cứu trong cuốn “Kho tàng thần thoại Việt Nam” của

âm dương, thuật phong thủy, bản sắc văn hóa
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo cứu, thống kê, phân loại
Có thể nói rằng đây là một phương pháp cơ bản và rất cần thiết trong khi
thưc hiện đề tài này. Bởi vì phải khảo cứu thì chúng tôi mới có thể thực hiện
thống kê sự xuất hiện con số 3 trong các truyện thuộc ba thể loại thần thoại,
truyền thuyết và cổ tích, trên cơ sở đó mà chúng tôi có thể nhận diện và phân
loại được các mã văn hóa ẩn chứa bên trong con số 3 để phục vụ cho việc giải
mã một cách có hiệu quả.
- Phương pháp so sánh
Không chỉ có con số 3 mà trong truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích
còn có sự xuất hiện của các con số khác, cũng như không chỉ có một tác giả sưu
tầm truyện cổ dân gian mà còn rất nhiều các tác giả khác cũng quan tâm tới việc
tuyển soạn. Vì thế mà không thể không đặt nó trong tương quan so sánh với các
con số khác và trong tương quan giữa bản kể được chọn với các bản kể khác để
khảo cứu cùng với phân tích, tổng hợp các vấn đề mã văn hóa về con số 3 nhằm
tìm ra những khía cạnh cũng như những kết luận thỏa đáng, khách quan, phải
xem đây như một thao tác quan trọng trong quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Văn học dân gian nói chung và ba bộ phận thần thoại, truyền thuyết, cổ
tích nói riêng, không chỉ tồn tại dưới dạng kể mà còn liên quan đến cả những
ngọc phả, thần tích, lễ hội diễn xướng, tín ngưỡng dân gian,… điều đó cho thấy
thần thoại, cổ tích và đặc biệt là truyền thuyết vừa là văn học, vừa là văn hóa dân
gian. Việc vận dụng phương pháp liên ngành giúp cho chúng tôi có thể kết hợp
những cách nhìn dưới góc độ văn học, sử học, địa lí, dân tộc học, lễ hội, tín
ngưỡng dân gian,…nhằm chỉ ra các biểu hiện, các khía cạnh cụ thể của vấn đề.
Như vậy, phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp cho chúng tôi tìm ra được
các mã văn hóa về con số 3 và giải mã con số đó có cơ sở hơn và khả năng chính
xác sẽ cao hơn.
8

CỦA THẦN THOẠI, TRUYỀN THUYẾT, CỔ TÍCH TRONG VIỆC THỂ
HIỆN TÂM THỨC VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1. Giới thuyết chung về văn hóa và mã văn hóa
1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Trong chữ Hán từ văn hóa xuất hiện khá sớm. Quẻ Bí trong “Chu Dịch”
nói: “Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời biến; quan hồ thiên văn, dĩ hóa thành thiên
hạ”[45;30], có nghĩa là: quan sát thiên văn để xét sự đổi dời của bốn mùa; xem
văn vẻ của người để giáo hóa thiên hạ.
Theo giải thích của Khổng Dĩnh Đạt thời Đường, trong “Chu Dịch chính
nghĩa”, cái gọi là: “Nhân văn hóa thành” ở đây có hai nội dung là: (1) chỉ những
sách kinh điển như: Thi, Thư, Lễ,… (2) chỉ phong tục lễ nghĩa của con người.
Trong sách “Thuyết uyển – Chỉ vũ” của Lưu Hướng thời Tây Hán có câu:
“Thánh nhân chi trị thiên hạ dã, tiên văn đức nhi hậu vũ lực. Phàm vũ chi hưng,
vi bất phục dã, văn hóa bất cải, nhiên hậu gia tru” [45;30], nghĩa là: bậc thánh
nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm động đụng đến
võ là để đối phó với kẻ không chịu phục, giáo hóa bằng văn mà không chịu thay
đổi thì sau mới trừng phạt. Văn hóa ở đây chỉ sự giáo hóa, đối lập với vũ lực.
Gần với hàm nghĩa này có câu: “Văn hóa nội tập, vũ công ngoại dụ” nghĩa là:
giáo hóa bằng văn để hòa mục bên trong, dùng vũ công để dẹp yên bên ngoài,
được chép trong “Bổ vong thi” của Tấn Thúc Tích. Văn hóa, đó chính là chế độ
văn trị giáo hóa, lễ nhạc điển chương. Cách giải thích này được duy trì ở Trung
Quốc mãi đến thời cận đại.
Nghĩa ban đầu trong tiếng Hán, văn hoá có nghĩa là những nét xăm mình
qua đó người ta nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị
sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm lĩnh
10
quyền lực siêu nhiên. Theo lối chiết tự chữ Hán: “văn” là hoa văn, tức “đẹp đẽ”,
“hoá” là giáo hoá, tức là “làm cho hoá thành”. Tóm lại, văn hoá có nghĩa là làm

những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục
và tín ngưỡng” [8;14].
Năm 2002, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật
chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó
chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,
hệ thống giá trị truyền thống và đức tin” [8;14].
Cựu tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra một định nghĩa
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của
cuộc sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như
đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống
các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự
khẳng định bản sắc riêng của mình” [8;15].
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày quan điểm của mình về văn hóa như sau:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[26;13].
Tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa trong cuốn “Cơ
sở văn hóa Việt Nam” như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
[30;10].
Như vậy với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao
gồm thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những sáng
tạo của con người phải có tính giá trị, tính hệ thống, tính lịch sử thì mới được coi
là văn hóa.
12
Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, tác giả Phan

Có thể nói rằng mã văn hóa là những mã vừa mang đặc trưng của mã, vừa
mang những đặc trưng của văn hóa. Mã văn hóa là những tín hiệu, kí hiệu có
tính thẩm mĩ, tính đại diện, trong nó biểu hiện đặc điểm, giá trị văn hóa một
cộng đồng.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà “Mã văn hóa (cultural code) là kết tinh
của những giá trị văn hóa, là phần nổi trội nhất, cơ bản nhất, có tính ổn định
tương đối của cộng đồng. Nó biểu hiện ra ngoài bằng các tín hiệu văn hóa, biểu
tượng văn hóa, chìm sâu bên trong là vô vàn lớp nghĩa luôn đòi hỏi giải mã thì
mới có thể hiểu được con người và cộng đồng đó” [12;46].
Đầu lâu xương chéo là một mã nhưng chưa phải là một mã văn hóa vì nó
chỉ có giá trị thông tin mà hầu như không mang tính nghệ thuật, không thể hiện
chiều sâu tư tưởng và đặc điểm văn hóa, quan niệm một cộng đồng.
Mã văn hóa theo chúng tôi quan niệm bao gồm 3 dạng: kí hiệu, tín hiệu
văn hóa (cultural signs), biểu tượng văn hóa (cultural symbols) và mật mã văn
hóa (secret codes of culture)
a. Tín hiệu, kí hiệu văn hóa
Theo chúng tôi, để được coi là tín hiệu, kí hiệu văn hóa nó phải thỏa mãn
những điều kiện sau: đó là cái có thể cảm nhận được bằng các giác quan; phải có
tính thẩm mĩ gắn với đặc trưng văn hóa; có ý nghĩa, đại diện cho một yếu tố văn
hóa nào đó khác với chính nó; giữa tín hiệu và nội dung của nó có mối liên hệ
phổ biến, liên tục, dễ nhận diện, có thể lí giải được, thường lí giải một lần là
xong như kí hiệu âm dương, cờ lễ hội, thập ác;…nó phải nằm trong một hệ
thống kí tín hiệu văn hóa nhất định. Các tín hiệu văn hóa có thể là tín hiệu văn
hóa mang tính quốc tế như quyển sách mở và cái bút là tín hiệu của sự học tập
hoặc của riêng văn hóa một nước, một dân tộc như cờ cá chép được treo lên là
tín hiệu ngày hội dành cho con trai Nhật Bản, hay lá cờ đỏ sao vàng là quốc kì
của riêng Việt Nam,…
b. Biểu tượng văn hóa
Nghĩa gốc là một vật được chia làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa, khi
khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ.

khám phá biểu tượng càng phong phú và hấp dẫn.
15
Biểu tượng luôn mang tính quan niệm, bởi nó bắt nguồn từ tư duy hình
tượng. Nó có nhiều cấp độ xâm nhập với cái được biểu trưng, các cấp độ đó
phản ánh trình độ tư duy và quan niệm nghệ thuật của con người.
c. Mật mã văn hóa
Mật mã là một mã khóa bí mật, là cách duy nhất để lí giải cái không thể lí
giải bằng cách nào khác. Nó cần phải có chìa khóa để lí giải và không bao giờ có
thể giải thích một lần là xong. Nó là một không gian mở cho người ta có thể
khám phá liên tục mà không ai dám khẳng định là có thể giải mã hoàn toàn đúng
và khám phá hết bí mật.
Đối với việc nghiên cứu mã văn hóa, mật mã quá bí ẩn, khó có thể giải
mã được. Tín hiệu thì đơn giản, giải mã một lần là xong. Biểu tượng thì phong
phú và có chiều sâu hơn nhiều. Vì vậy, trong giải mã văn hóa thì giải mã biểu
tượng là có ý nghĩa hơn cả.
Thấu hiểu ý nghĩa của các biểu tượng, nói rộng ra là hiểu được hệ giá trị
văn hóa của một dân tộc được kết tinh lại trong biểu tượng tức là có thể hiểu đến
tận cùng con người và dân tộc ấy.
Nói về biểu tượng văn hóa, nhà ngôn ngữ, nhà văn hóa Levis Strauss cho
rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu
tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các nguyên tắc hôn nhân, các
quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” [40; 23].
Từ đó có thể thấy, muốn hiểu văn hóa, cách làm hữu ích nhất là tìm hiểu
qua các biểu tượng văn hóa.
Như đã nói ngay ở phần đầu, khi nghiên cứu văn hóa thì ta không thể bỏ
qua các mã và mã văn hóa. Trong văn hóa dân gian, hàng loạt các mã văn hóa đã
hòa nhập cùng với tín ngưỡng, hiển hiện ở phong tục, náu mình trong thần tích,
kí thác ở tâm linh, ẩn tàng trong nghệ thuật truyền thống và thể hiện khá rõ nét
trong kho tàng văn học dân gian. Với những giá trị nhân văn và khoa học không
thể phủ nhận, mã văn hóa được xem như một chiếc chìa khóa vạn năng để mở ra

nhau về quan niệm, có thể với dân tộc này con số đó mang một ý nghĩa linh
liêng, người ta tin nó mang lại những điều tốt lành cho bản thân và cộng đồng để
rồi tôn sùng nó; nhưng đối với dân tộc khác thì con số đó mang những ý nghĩa
17
ngược lại và hệ quả kéo theo đó là kiêng kị sự có mặt của chúng. Có hiện tượng
như vậy là do đâu? Phải chăng loại hình văn hóa, bản sắc văn hóa của một quốc
gia đã chi phối ít nhiều tới kiểu lựa chọn này. Nếu vậy thì thông qua các con số
đó ta có thể hình dung được diện mạo văn hóa của một cộng đồng, là hướng tiếp
cận tối ưu để có thể thấu hiểu lối nhận thức, tư duy cũng như tâm tư tình cảm
của con người chung sống trong cộng đồng đó một cách sâu sắc. Hay nói một
cách khác, các con số đó được xem như là các mật mã hay mã văn hóa, thậm chí
là biểu tượng văn hóa mà đi sâu vào kiến giải ta có thể cảm nhận được tâm thức
văn hóa của dân tộc đó một cách rõ nét nhất.
Để minh chứng cho điều đó, sau đây chúng tôi xin được đưa ra những
quan niệm về các con số từ các góc độ khác nhau và giữa các quốc gia với nhau
mà chúng tôi đã tổng hợp được từ các nguồn tư liệu khác nhau. [1], [13], [25],
[30], [31], [32], [40] , [54] …
Số 1
Theo dân gian, số 1 là căn bản của mọi sự biến hóa, là con số khởi đầu,
luôn đem lại những điều mới mẻ, tốt đẹp, đem tới một sinh linh mới, một sức
sống mới cho mọi người.
Còn thần số học phương Tây thì cho rằng số 1 tượng trưng cho sự hùng
mạnh, sự độc lập, sự lãnh đạo, lập trường vững chắc, ít thay đổi. Số 1 còn tiêu
biểu cho sự thông minh, sáng tạo, một ý chí sắc bén, tượng trưng cho nguyên lí
căn bản của đời sống.
Trong bài trí phong thủy, số 1 được coi là con số của thần thánh, của
hoành đồ. Được hiểu như là con trai của cõi trời. Số 1 tượng trưng cho cái đỉnh
tối thượng, đỉnh núi cao độc nhất không còn ai khác.
Số 2
Tượng trưng là một cặp, một đôi, một con số hạnh phúc và điều hành cho

Tứ phương: đông, tây, nam, bắc; thời tiết: có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông;
bốn cây tiêu biểu cho bốn mùa là mai, lan, cúc, trúc.
Về hiện tượng xã hội
19
Ngành nghề, theo quan niệm xưa có tứ dân sĩ, nông, công, thương. Về
nghệ thuật: cầm, kì, thi, họa. Về lao động: ngư, tiều, canh, mục. Tứ thư: đại học,
trung dung, luận ngữ, Mạnh Tử. Tứ bảo của trí thức: giấy, bút, mực, nghiên. Tứ
đại đồng đường: cha, con, cháu, chít.
Về con người:
Người ta quan niệm về trách nhiệm của một công dân: tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ. Về đạo đức con người: hiếu, lễ, trung, tín. Đối với người
phụ nữ: công, dung, ngôn, hạnh. Tứ bất tử: thần, tiên, phật, thánh. Tứ linh: long,
li, qui, phượng. Tứ đổ tường: tửu,sắc, tài, khí.v.v…
Số 5
Số 5 có ý nghĩa huyền bí xuất phát từ học thuyết ngũ hành. Mọi việc bắt
đầu từ năm yếu tố trời đất có ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; người quân tử
có ngũ đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; cuộc sống có ngũ phúc: phúc, lộc, thọ,
khang, ninh.
Theo thần số học phương Tây, số 5 tượng trưng cho một trực giác thiên
bẩm, tượng trưng cho uy quyền thiêng liêng, sự nhanh trí, hoạt động theo cảm
hứng, phiêu lưu, gan dạ, sự kết hợp của tinh thần và vật chất.
Số 5 còn tượng trưng cho sự trường thọ và bất diệt, cũng là con số tuyệt
vời dùng trong bài trí phong thủy.
Số 6
Số 6 theo người Trung Hoa thì sẽ đem tới sự thuận lợi về tiền bạc và vận
may cho người dùng nó, vì bên cạnh tục đoán mệnh của con người số 6 là số lộc,
thì lối viết số 6 với một nét cong vào thân ý như lộc sẽ luôn vào nhà.
Ngoài ra, lục giác còn được đánh giá là khối vững chãi nhất. Con ong
thường làm tổ theo khối lục giác, lục căn.
Trong phong thủy thì quan niệm rằng một sự bài trí dùng bất cứ đồ vật có 3,

đề phòng những tai nạn nguy hiểm, sự suy sụp và tàn phá.
Số 9
Từ xưa số 9 luôn được coi như là biểu trưng của sự quyền uy và sức
mạnh. Ngai vàng của vua thường đặt trên 9 bậc, vua chúa thường cho đúc cửu
đỉnh để minh họa cho quyền lực của mình. Đặc biệt hơn cả, số 9 được sùng bái,
21
tôn thờ và gần như trở thành một triết thuyết cho các triều đại ở Trung Quốc và
Việt Nam từ sự ảnh hưởng của Kinh Dịch là dựa trên thuật luận số. Số 9 tượng
trưng cho Trời, ngày sinh của Trời là ngày 9 tháng giêng, nên số 9 được ghép
cho ngôi vị hoàng đế. Tất cả đồ dùng trong cung đình cũng dùng số 9 để đặt tên
như cửu long bôi, cửu đào hồ, cửu long trụ. Hay nói cách biểu thị số nhiều như
cửu thiên, cửu châu, cửu đỉnh,…
Còn thần số học phương Tây thì quan niệm rằng số 9 thể hiện tình thương
vô bờ bến đối với nhân loại. Có ý nghĩa là phải sống khổ hạnh mới tìm ra chân lí
trong cuộc đời.
Không những thế, quan niệm về các con số còn ăn sâu vào tâm thức dân
gian của nhiều dân tộc. Có thể thấy trong tín ngưỡng phồn thực của người Việt
với những con số chẵn - lẻ, âm - dương được dân gian quan niệm khá phổ biến:
số 1 là con số khởi nguyên, bắt đầu của mọi sự bắt đầu; số 2 là cặp số lưỡng hợp
lưỡng phân, âm dương hợp đức mà sinh thành; số 3 là con số phát triển; số 4 là
con số thành, số 5 là con số có tỉ lệ cân bằng âm dương hợp lí hơn cả, là chính
giữa, trung tâm của mọi trung tâm, số 6 là số hoạch phát; số 7 là con số toàn hảo,
số 8 là số tài lộc - hoạch phát, số 9 là số toàn dương, con số thịnh dương nhất…
[13;106,107,108 ].
Như vậy có thể thấy rằng với mỗi một con số nếu nhìn nhận ở các góc độ
khác nhau cũng như đặt nó trong tương quan so sánh giữa quan niệm của các
nước với nhau thì dễ dàng nhận ra những ý nghĩa khác biệt và rất đa dạng trong
bản thân con số đó, thể hiện rõ nét cho lối tư duy, nhận thức của con người và
cộng đồng.
1.2.2. Mã văn hóa về con số 3

âm dương ngũ hành, tín ngưỡng,… để có thể xác định được đâu là số 3 ngẫu
nhiên và đâu là số 3 ẩn chứa những mã văn hóa cần phải đi sâu vào kiến giải.
Thứ hai: Căn cứ vào nội dung tác phẩm thể hiện và hình tượng nhân vật.
Có thể nói sẽ không phân loại mã văn hóa về con số 3 chính xác được nếu như
không nhìn nhận ý nghĩa của con số đó xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tác
phẩm cũng như ý nghĩa của các hình tượng nhân vật đó thể hiện. Bởi vì nếu xét
về câu chữ thì có rất nhiều số 3 tưởng chừng như là con số ngẫu nhiên và cứ làm
23
như vậy cho đến khi kết thúc tác phẩm thì có lẽ sẽ không tìm thấy được mã văn
hóa nào ẩn chứa trong đó.
Minh chứng rõ nét cho việc sử dụng tiêu chí này là con số 3 trong truyện
“Rắn báo oán” [3;452, 453], những số 3 lần lượt xuất hiện trong như sau: “Lần
này mặt u mày chau, lại còn dắt theo cả ba đứa con nữa”; “Người ấy năn nỉ
rằng xin thầy hãy đợi cho tôi ba năm nữa, các con tôi cứng cáp thêm tôi sẽ dọn
đi”; “Sáng hôm sau ông cho người đến báo với anh trưởng tràng nói với các
học trò hoãn việc làm nhà ba ngày nữa”; “…nên chúng con đã đánh chết ba
con con”; hoặc “có âm mưu ám hại nhà vua sẽ bị xử tội chết cả ba họ”; “Đúng
vào chữ Đại, lại ngấm đến cả tờ thứ ba”; “Thế rồi ngày 16 tháng 4 năm 1442
Nguyễn Trãi và cả ba họ đều bị hành hình”; “Và ba con rắn bị chết kia đã tu
luyện thành tinh”.
Trong truyện này, nếu không xét về nội dung mà tác phẩm thể hiện thì số
3 ở đây chỉ là một con số thông thường chỉ số đếm, thời gian, số lượng và thứ tự.
Nhưng điều đó không hợp lí vì thực hiện thao tác này thì ta không thể nhận thấy
mã văn hóa về con số 3 ở đây mà với truyện “Rắn báo oán” thông qua con số 3
chúng ta có thể một phần nào đó cảm nhận được cái tàn bạo khủng khiếp của chế
độ quân chủ chuyên chế đè nặng lên không phải một mà nhiều thế hệ phải gánh
chịu hậu quả. Như vậy xuyên suốt ý nghĩa của cả câu chuyện có thể thấy con số
3 ở đây ẩn chứa mã văn hóa về lịch sử rất cần được khai thác và làm sáng tỏ ý
nghĩa. Do đó chúng tôi thấy rằng sử dụng tiêu chí căn cứ vào nội dung tác phẩm
thể hiện và hình tượng nhân vật là rất cần thiết trong khi thực hiện đề tài này.

1.3.1. Tâm thức văn hóa
Tâm thức là từ chỉ chung cho các khía cạnh của trí tuệ (intellect) và ý
thức (conscicusness), thể hiện trong các kết hợp của tư duy, trí nhớ, cảm xúc, ý
muốn và trí tưởng tượng.
Tâm thức là dòng ý thức. Nó bao gồm tất cả các quá trình có ý thức của
bộ não. Đôi khi trong một số ngữ cảnh, nghĩa của từ tâm thức còn bao hàm
hoạt động của tiềm thức con người [40, 456].
25
Có nhiều học thuyết về tâm thức và hoạt động của nó. Các nghiên cứu cổ
xưa nhất được ghi nhận về tâm thức là của Đức Phật, Plato, Aristotle,
Adishankara và các triết gia Hy Lạp, Ấn Độ khác.
Các học thuyết tiền khoa học, dựa trên thần học, tập trung vào mối quan
hệ giữa tâm thức và linh hồn – cái được cho là tinh túy siêu nhiên thần thánh trời
cho của con người.
Các lý thuyết hiện đại dựa vào hiểu biết khoa học về bộ não, cho rằng tâm
thức là một hiện tượng của bộ não và đồng nghĩa với ý thức.
Tâm thức đôi khi được gọi tắt là tâm, theo Từ điển “Hán Việt Thiều
Chửu”, có nghĩa là tim, người xưa cho rằng tim là vật để nghĩ ngợi, cho nên cái
gì thuộc về tư tưởng, nhận thức, tư duy cũng như biểu hiện cảm xúc đều gọi là
tâm, ví dụ như tâm địa, tâm cảnh, tâm lý,…
Tâm thức văn hóa là một khái niệm chỉ trí tuệ, ý thức với các quan niệm,
các tinh hoa di sản văn hóa ẩn sâu trong tâm khảm và tiềm thức của nhân dân
nhiều thế hệ, nhiều thời đại thể hiện trong các kết hợp của tư duy, trí nhớ, cảm
xúc, tâm hồn, ý muốn và trí tưởng tượng do một cộng đồng sản sinh, sáng tạo và
nuôi dưỡng.
1.3.2. Vị trí vai trò của thần thoại, truyền thuyết và cổ tích
Đối với một quốc gia nông nghiệp trồng lúa nước như Việt Nam thì trong
các phương diện của đời sống hàng ngày, điển hình là trong kiến trúc điêu khắc,
mỹ thuật dân gian, hay phong tục và lễ hội đều thể hiện rất rõ tâm thức văn hóa
của dân tộc. Không chỉ có những phương diện đó mà kho tàng văn học dân gian


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status