BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ LÂM
TÍN HIỆU THẨM MỸ HOA VÀ ĐẶC TRƢNG TƢ DUY -
VĂN HÓA CỦA NGƢỜI VIỆT TRONG CA DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
khóa luận này.
Đồng thời em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Phòng Đào Tạo,
Thư viện trường Đại học Tây Bắc và tập thể lớp K51 ĐHSP Ngữ Văn.
Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì
vậy em kính mong các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên đóng góp ý
kiến để khóa luận hoàn thiện hơn nữa.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Hội đồng bảo vệ và chấm khóa luận.
Kính chúc thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện Lê Thị Lâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1. Mục đích 4
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5
5.1. Phương pháp nghiên cứu 5
5.2. Nguồn ngữ liệu 5
6. Đóng góp của khóa luận 5
7. Cấu trúc khóa luận…………………………………………………………….6
b. Những biến thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ hoa biểu thị thuộc tính của hoa 36
c. Những biến thể kết hợp chỉ hoạt động tác động đến hoa 43
2.3. Đặc trưng tư duy – văn hóa của người Việt qua tín hiệu thẩm mĩ “hoa”
trong ca dao 46
Tiểu kết chương 2 49
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tín hiệu thẩm mĩ là khái niệm không còn xa lạ với các nhà nghiên cứu và
kể cả đối với người đọc. Tín hiệu thẩm mĩ là một khái niệm có liên quan đến lí
thuyết tín hiệu học nói chung, lí thuyết ngôn ngữ học nói riêng, đặc biệt là
những tín hiệu thẩm mĩ có trong các tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ khi đi vào
thế giới thơ ca nghệ thuật đã được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, tín
hiệu thẩm mĩ ngôn ngữ hay còn là tín hiệu văn chương.
Tín hiệu thẩm mĩ là vấn đề được sự quan tâm của tất cả các ngành nghệ
thuật nói chung và của văn học nói riêng. Nghiên cứu, giải mã tín hiệu thẩm mĩ
là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều tâm sức của các nhà nghiên cứu và
cũng gây ra không ít tranh luận về vấn đề này. Trong văn học, nghiên cứu tín
hiệu thẩm mĩ tức là tiếp cận tác phẩm văn học từ phương diện ngôn ngữ học, từ
góc độ văn bản tác phẩm. Vì vậy mà sẽ cho chúng ta những nhận xét chính xác,
khách quan về tác phẩm văn học.
Theo GS. Đỗ Hữu Châu, ngôn ngữ văn học có thể được xem là một hệ
thống tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường và các tín hiệu thẩm mĩ. Tín
hiệu thông thường chỉ thực hiện chức năng tái tạo hiện thực (thực hiện chức
năng giao tiếp lí trí là chủ yếu). Các tín hiệu thẩm mĩ luôn chứa đựng những tư
tưởng, những ý nghĩ nào đó của tác giả thông qua quá trình khái quát hóa, biểu
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác cũng quan tâm đến vấn đề
này và chủ yếu được soi rọi dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại.
Khoa học nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương có thể
kể đến công trình của một số tác giả như: Trần Thị Thái với “Một số tín hiệu
thẩm mĩ trong thơ Tố Hữu”; Lê Thị Tuyết Hạnh với “Một số tín hiệu thẩm mĩ
trong thơ Xuân Quỳnh”; Đỗ Ngọc Thư với công trình “Khảo sát các tín hiệu
thẩm mĩ “Mùa xuân” và “Trái tim” trong thơ Xuân Diệu”; Lưu Văn Din với
nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm
mĩ”… Bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu quan
tâm đến tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao như: Phạm Thị Kim Anh với “Tín hiệu
thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam”; Nguyễn Thị Duyên với “Ý nghĩ
3
biểu trưng của hệ biểu tượng con số trong ca dao người Việt. Ngoài ra, “Ngôn
ngữ văn chương” của Hoàng Kim Ngọc (chủ biên) – Hoàng Trọng Phiến và
“Ngôn ngữ với văn chương” của Bùi Minh Toán cũng đề cập đến tín hiệu thẩm
mĩ trên cơ sở kế thừa những tác giả đi trước. Những công trình như đã kể trên
đều xuất phát từ cái nhìn của ngôn ngữ học hiện đại, chứng minh được rằng:
Ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đặc biệt. Nó chồng lên trên ngôn ngữ tự
nhiên. Tín hiệu thẩm mĩ chính là ngôn ngữ nghệ thuật như vậy. Khi ngôn ngữ tự
nhiên trở thành tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật hay tín hiệu văn chương thì nó là
phương thức diễn đạt nội dung nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ. Như vậy văn học
là nghệ thuật ngôn từ. Có thể thấy rằng, nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ trong văn
chương được quan tâm nghiên cứu nhiều và ngày càng tỏ ra rất có ưu thế.
Đặc biệt, tác giả Trương Thị Nhàn có công trình nghiên cứu “Sự biểu đạt
bằng ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao” cùng với công
trình “Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại” của tác
giả Bùi Trọng Ngoãn là hai công trình có đề cập về tín hiệu thẩm mĩ có giá trị
nhất. Những bài viết này khẳng định được ý nghĩa thực tiễn của hướng nghiên
cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học; đồng thời đã có những đóng góp bổ sung
văn học nước nhà.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu khái quát những vấn dề lí thuyết có liên quan đến đề tài: khái
quát về tín hiệu thẩm mĩ, mối quan hệ giữa tín hiệu - tín hiệu ngôn ngữ - tín hiệu
thẩm mĩ.
- Thu thập và khảo sát ngữ liệu
- Thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu
- Phân tích tìm ra nghĩa của từ theo ngữ cảnh sử dụng; tổng hợp các giá trị
chính của tín hiệu thẩm mĩ hoa dựa trên các nội dung ý nghĩa được thể hiện, các
giá trị về mặt dụng học để rút ra những kết luận khái quát về đặc trưng tư duy –
văn hóa của người Việt trong ca dao.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm:
a. Phương pháp thống kê, phân loại
Trước hết khóa luận tiến hành thống kê toàn bộ số lượng những câu ca
dao nói về hoa trong mọi hoàn cảnh xuất hiện của chúng – dưới dạng hằng thể,
biến thể và các yếu tố ngôn ngữ khác cùng xuất hiện với các tín hiệu thẩm mĩ
này. Đó là cơ sở khoa học cho những nhận định, kết luận của khóa luận. Qua kết
quả phân loại có thể rút ra những nhận xét một cách chính xác, khách quan và
khoa học.
b. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở của việc thống kê, phân loại khóa luận tiến hành phân tích diễn
ngôn và ngữ dụng học tức phân tích nghĩa của từ theo ngữ cảnh sử dụng,
dao” có cấu trúc gồm 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết.
Chương 2: Tín hiệu thẩm mĩ “hoa” và đặc trưng tư duy – văn hóa của
người Việt trong ca dao.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Khái quát về tín hiệu thẩm mĩ
Với tư cách là một phương tiện đặc thù nhằm truyền tải những thông tin
thẩm mĩ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương vừa được sử dụng như những tín
hiệu thẩm mĩ, vừa là cái biểu đạt cho các tín hiệu thẩm mĩ. Đến lượt mình, tác
phẩm văn chương cũng chính là tín hiệu thẩm mĩ. Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ
là một công việc cần thiết đối với người làm công tác nghiên cứu văn học nói
chung. Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương nghĩa là chúng ta đi tìm
ngoài hay về những cảm thụ nội tâm (những cảm xúc, những cảm thụ nghệ
thuật, một ý chí…)”.
Dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì khái niệm tín hiệu vẫn là một
khái niệm quan hệ, không phải là một khái niệm vật tự thân. Có nghĩa là một sự
vật (hay thuộc tính vật chất, hay hiện tượng) muốn trở thành tín hiệu phải nằm
trong quan hệ với những sự vật khác. Và bản chất của tín hiệu bao gồm hai mặt
hình thức và nội dung, hai mặt đó gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi
ra hình ảnh đều được coi là tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay
nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Chẳng hạn, khói báo hiệu
có lửa. Hay:
(1) “Chuồn chuồn bay thấp trời mưa
Bay cao trời nắng đập dừa em ăn.”
Sự vật chuồn chuồn có khả năng gợi ra “hình ảnh” về thời tiết. Chuồn
chuồn bay thấp gợi hình ảnh về cơn mưa, chuồn chuồn bay cao gợi hình ảnh về
ngày hôm sau nắng đẹp trong nhận thức của con người.
Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề
nghiệp hay một trạng thái tâm sinh lí… của người nói trong sự nhận thức của
người nghe. Trong ca dao, thông thường một cánh bướm nhỏ hiểu trong ý nghĩa
của người con trai; còn hoa được hiểu trong ý nghĩa của người con gái. Các nhà
nghiên cứu lí thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang “tin” (thông tin).
Các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang “nghĩa”…
9
Tác giả Đỗ Hữu Châu tổng hợp ý kiến của F. De. Saussure và Ch. W.
Morris, và đã có dịp trình bày một cách sáng tỏ, cụ thể hơn về những điều kiện
cơ bản để một “kích thích” (hình thức vật chất tác động) được coi là tín hiệu
theo cách hiểu trên, qua đó chỉ ra hướng xác định tín hiệu bởi bốn điều kiện sau:
1) Phải có một hình thức cảm tính (“cái biểu hiện”) ;
2) Phải có một nội dung ý nghĩa (“cái được biểu hiện”) ;
Ngôn ngữ đảm nhiệm những chức năng trọng đại trong đời sống con
người và xã hội loài người, trong đó có hai chức năng cơ bản là: chức năng tư
duy và chức năng giao tiếp. Để thực hiện được điều đó, ngôn ngữ đã được tổ
chức theo những nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tín hiệu và nguyên tắc hệ thống,
nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng và
tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con
người để con người nhận thức và lĩnh hội được một nội dung ý nghĩa cần thiết
về hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, hành động hay cảm xúc.
Hệ thống ngôn ngữ là hệ thống nhân tạo có chức năng quan trọng nhất là
chức năng giao tiếp. Tuy nhiên, ngôn ngữ không chỉ thần túy mang chức năng
giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tư duy, tổ chức xã hội, duy trì sự sống
con người, còn mang chức năng thi pháp… Tín hiệu ngôn ngữ vì vậy vừa là tín
hiệu giao tiếp, vừa có thể là tín hiệu nhận thức, tín hiệu biểu hiện…
Từ những khía cạnh chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý
nghĩa “tín hiệu” của chúng trên tất cả các đơn vị mang nghĩa (đơn vị hai mặt), từ
từ đến cụm từ, đến câu, đoạn, văn bản. Một từ, ngữ, câu nói nào đó có thể vừa
mang những thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc
điểm về địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lí của người nói… Qua
các từ “đi”, “mô”, “nỏ” trong câu ca dao:
(2) “Đi mô nỏ biết đi mô
Thắp đèn mà đợi, tim khô hao dầu.”
cho biết người nói là người miền trung xứ Nghệ.
(3) “Chồng chài, vợ lưới, con câu
Lân la khúc vịnh mặc dầu nổi trôi.”
câu ca dao cho nói về cuộc sống hạnh phúc, vô tư của gia đình sống bằng nghề
chài lưới:
11
(4) “Có bạc thời tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới, anh quên tôi rồi.”
tập trung theo một hệ thống thẩm mĩ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín
hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta.
Những tín hiệu này được kể đến một cách cụ thể hơn trong quan niệm của
M. B. Khrapchenco: Những nhân hóa, ẩn dụ cố định, phúng dụ, tượng trưng,
những hình tượng nghệ thuật đã được mài mòn và cố định hóa về mặt ý nghĩa
mà theo tác giả, phù hợp với điều kiện hoạt động chức năng quan trọng của kí
hiệu là phải có một cách hiểu thường xuyên được nhiều người biết đến. Khái
niệm tín hiệu thẩm mĩ được các nhà ngôn ngữ - phong cách học giới hạn trong
những tín hiệu nghệ thuật chìa khóa có giá trị tổ chức để biểu hiện tư tưởng tình
cảm của bài văn, hay những “thần cú”, những “nhãn tự”, những tín hiệu ngôn
ngữ mang phẩm chất thẩm mĩ: những từ ngữ, những đối thoại có tính thẩm mĩ
trong văn học.
Nói đến phương tiện của nghệ thuật, phải tính đến hai mặt: mặt thể chất và
mặt tinh thần. Trong đó mặt thể chất có thể dễ dàng nhận biết và phân định qua
sự nhận biết của các chất liệu (hình thức vật chất) được sử dụng trong mỗi
ngành nghệ thuật: đường nét, màu sắc trong hội họa, âm thanh có nhịp điệu
trong âm nhạc, ngôn ngữ trong văn học. Còn mặt tinh thần thì trừu tượng và
phức tạp, bao hàm nhiều loại nội dung, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng khái quát
hóa, trừu tượng hóa mang tính thẩm mĩ. Mặt tinh thần có thể gắn với hình thức
vật chất trong một nội dung hiện thực cụ thể nào đó, nhưng cái làm nên giá trị
nghệ thuật lại nằm ở sức khái quát của những nội dung hình tượng có thể đồ sộ
hơn rất nhiều so với ý nghĩa của bản thân thực tế, cuộc sống (dẫn theo [16; 18]).
Phương tiện và chất liệu trong nghệ thuật không thể đánh đồng với nhau,
cũng không thể phân định tín hiệu thẩm mĩ chỉ căn cứ trên chất liệu. Không thể
đồng nhất tín hiệu ngôn ngữ thông thường được dùng làm chất liệu trong tác
phẩm văn học với phương tiện của nghệ thuật là tín hiệu thẩm mĩ. Văn chương
nghệ thuật xây dựng tín hiệu thẩm mĩ bằng ngôn ngữ tự nhiên, bằng các tín hiệu
ngôn ngữ thông thường. Do đó, nhà văn cần sáng tạo các tín hiệu thẩm mĩ trên
cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên.
Nếu coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tín hiệu nguyên cấp (hệ thống tín
hiệu thứ nhất) thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ cấp (hệ thống tín
14
hiệu thứ hai). Hình thức ngữ âm và ý nghĩa sự vật – logic của ngôn ngữ tự nhiên
là cái biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật, còn cái được biểu hiện là các lớp ý
nghĩa hình tượng. Khi đó hệ thống thứ nhất sẽ làm bình diện thể hiện hoặc làm
cái biểu đạt cho hệ thống thứ hai.
Trong “Ngôn ngữ với văn chương” tác giả Bùi Minh Toán chỉ ra rằng tín
hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt
và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp. Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái
được biểu đạt, nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ (dẫn theo [25; 139]).
Từ những cách nhìn trên về tín hiệu thẩm mĩ, khóa luận chấp nhận cách
hiểu về tín hiệu thẩm mĩ như sau: tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các
phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố
của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những
cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các
yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, các yếu tố của chất liệu màu sắc
với hội họa; âm thanh có nhịp điệu với âm nhạc) được lựa chọn và sáng tạo
trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ (dẫn theo [16; 26 ] và [1; 23]).
1.3. Những đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về tín hiệu thẩm mĩ, cần trở lại với một
số đặc tính thường được nói tới của tín hiệu thẩm mĩ, bao gồm:
1.3.1. Tính đẳng cấu
Tính đẳng cấu được hiểu là sự giống nhau về quan hệ, về nội dung nhưng
khác nhau về hình thức biểu hiện. Đặc tính này được Đỗ Hữu Châu đề cập đến
khi nói tới tính thống nhất của ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ trong các ngành nghệ
thuật: Rất nhiều tín hiệu thẩm mĩ được sử dụng trong văn học, trong hội họa,
trong âm nhạc, trong điện ảnh… như những tín hiệu đồng nghĩa (có thể là đồng
mĩ ở hai cấp độ cơ bản:
*Cấp độ cơ sở: Tín hiệu thẩm mĩ ứng với một yếu tố, một chi tiết, một sự
vật hiện tượng thuộc thế giới khách quan: một con đò, một dòng sông, một nỗi
buồn,… Đó là các tín hiệu đơn (hay tín hiệu cơ sở) có chức năng tham gia cấu
tạo nên tín hiệu thẩm mĩ ở bậc cao hơn trong tác phẩm.
16
*Cấp độ xây dựng: Tín hiệu thẩm mĩ ứng với nhiều sự vật, hiện tượng…
được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của
phép cộng đơn giản những tín hiệu thẩm mĩ đơn. Loại tín hiệu phức được tạo ra
để biểu hiện những ý nghĩa thẩm mĩ mới trong tác phẩm văn chương. F. de.
Saussure đã chỉ ra rằng: “Thường chúng ta không nói bằng những tín hiệu riêng
lẻ mà bằng nhóm những tín hiệu, bằng khối có tổ chức cũng là tín hiệu (dẫn theo
[17; 153]). Cụ thể hơn, tín hiệu thẩm mĩ phức là tổ hợp của nhiều tín hiệu đơn
(mang ý nghĩa thẩm mĩ); đó có thể là những hình tượng văn học, hình tượng
nhân vật trong tác phẩm kể cả một tác phẩm đồ sộ.
Ví dụ: thành ngữ cá chậu chim lồng chỉ nói về cuộc sống tù túng, bó buộc,
mất tự do nhưng trong câu nói của Từ Hải, Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ
này bằng cách: đặt câu thành ngữ trong lời nói của Từ Hải cho thấy Từ Hải đã
biết tư cách của nàng không cam tâm làm gái lầu xanh tầm thường, mà chàng đã
có ý xem nàng là hồng nhan tri kỷ.
(9) “ Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi!”
1.3.3. Tính tác động
Theo cách nói của P. Guiraud, sự tác động của tín hiệu thẩm mĩ trong bản
chất của một kích thích vật chất tác động lên kí ức của chủ thể tiếp nhận tạo nên
hình ảnh của một kích thích khác
Tác giả Đái Xuân Ninh cũng nhận định, hiệu quả tác động của xung động
tín hiệu mang lại là gây nên một tình huống mới trong nhận thức và hành động
của chủ thể tiếp nhận theo hướng mà người phát mong muốn, làm mới, làm
câu thơ nói lên thời đại mà xã hội phong kiến Việt Nam mục nát, rơi vào khủng
hoảng trầm trọng, đầy bóng tối và khổ đau.
Theo F.de.Saussure: “… tín hiệu là một thực thể có hai mặt nội dung và
hình thức không tách rời nhau, trong đó dấu hiệu vật thể có vai trò rất quan trọng
đối với người tiếp nhận. Nếu không có nội dung thì không có gì để truyền đạt; và
nếu có nội dung nhưng không qua lời nói, chữ viết thì người tiếp nhận cũng
không thể biết được nội dung mà người nói muốn truyền đạt (dẫn theo [17; 105]).
Theo Đỗ Hữu Châu, tín hiệu thẩm mĩ phải ứng với một sự vật, hiện tượng
nào đó trong thế giới hiện thực, phải có vật quy chiếu trong thế giới hiện thực.
18
Mặt khác sự biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ còn liên quan đến quá trình liên
tưởng trong chủ thể tiếp nhận. Vì vậy, lượng thông tin biểu hiện trong tín hiệu
thẩm mĩ cũng không phải nhất thành bất biến.
1.3.5. Tính biểu cảm (tính bộc lộ)
Để trở thành tín hiệu của thông tin thẩm mĩ, các tín hiệu thẩm mĩ không
thể chỉ dừng lại ở nội dung mang tính tái hiện. Ngoài những thông tin miêu tả
(nội dung tái hiện hiện thực), tín hiệu thẩm mĩ phải bao hàm những thông tin về
cảm xúc, về thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ của người nghệ sĩ.
Chẳng hạn nhà thơ Xuân Diệu vì mang nặng tình yêu mùa xuân tha thiết nên
mặc dù nó chỉ mới sắp tới, nhưng nhà thơ đã ở trong tâm trạng lo sợ mùa xuân
đi qua mau, thời gian trôi qua mau vì đó là quy luật tất yếu của thời gian:
(12) “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.”
Trong tín hiệu thẩm mĩ, cảm xúc vốn là tình cảm chủ quan của chủ thể
sáng tạo đã được khách quan hóa thành một thành phần quan trọng trong cơ cấu
nghĩa của tín hiệu. Nói đến cảm xúc, cũng là nói đến những đặc điểm lịch sử, xã
hội, tâm lí… chi phối cảm xúc, sự nhận thức - tiếp nhận cảm xúc từ cả hai phía
chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận.
thẩm mĩ (dẫn theo [8; 559]). Nói đến truyền thống là nói đến tính cố định, tính
lặp lại, tính kế thừa, đến sự “có sẵn” của tín hiệu thẩm mĩ trong kho tàng nghệ
thuật của một dân tộc. Còn cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc
sử dụng tín hiệu thẩm mĩ của mỗi tác giả, mỗi tác phẩm. Không có cách tân, tín
hiệu thẩm mĩ sẽ trở nên bị mài mòn, mất giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc.
Ngược lại nếu không có truyền thống thì tín hiệu thẩm mĩ sẽ mất đi những điều
kiện nhất định về mặt liên tưởng giúp ích cho việc lĩnh hội tín hiệu thẩm mĩ
trong tác phẩm. Những câu thơ của Nguyễn Du phải bắt nguồn từ ca dao thì mới
có sức lay động lòng người đến như vậy:
(16) “Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.”
Nếu theo truyền thống thì ca dao chỉ diễn tả được quy luật như một lẽ
thường, đó là cảnh chia li xuôi ngược. Song Nguyễn Du đã cách tân ở chỗ dùng
20
lẽ thường ở đời đó mà khơi sâu được bi kịch tình yêu hết sức nghiệt ngã giữa
Thúy Kiều và Thúc Sinh, khi hai người chia tay nhau để chàng Thúc về quê thưa
chuyện với Hoạn Thư mong được lấy nàng Kiều. Đây cũng là cuộc chia tay
chưa biết ngày gặp lại, chưa biết sự thể sẽ thế nào nên nó thấm đẫm một màu sắc
tâm trạng.
Cái mới trong sử dụng tín hiệu thẩm mĩ của các tác giả có thể ở việc xây
dựng một tín hiệu thẩm mĩ hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân
tín hiệu thẩm mĩ, ở việc đổi mới các tín hiệu thẩm mĩ sẵn có trong truyền thống
đem lại cho chúng những ý nghĩa mới – những ý nghĩa chỉ có được thông qua sự
sáng tạo của tác giả trong chính hệ thống riêng mà tín hiệu thẩm mĩ tham gia.
1.3.8. Tính hệ thống
F. de. Saussure đã chỉ ra rằng: “Thường người ta không nói bằng tín hiệu
riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức vốn cũng là tín hiệu”
(dẫn theo [17; 107]). Và khi nói đến vấn đề có tổ chức ở lĩnh vực này, không thể
không nói đến tính hệ thống – một đặc tính làm nên bản chất tín hiệu của ngôn