BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ THU QUẾ TRƢỜNG TỪ VỰNG TÊN GỌI
ĐỘNG VẬT THỦY SINH VÀ CÁC TÍN HIỆU
THẨM MỸ ĐƢỢC TẠO NÊN TRONG CA DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Tiếng Việt và sự động viên giúp đỡ của nhiều người thân, bạn bè. Nhân dịp này, tôi
xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo, gia đình bạn bè.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân trọng cảm ơn Ths. Trần Thị Lan
Anh – người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em hoàn thành khóa luận.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Quế
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
sinh trong ca dao
2.1.2.3. Trường từ vựng các thuộc tính (hoạt động, trạng thái, tính chất) của
động vật thủy sinh trong ca dao
2.1.2.4. Trường từ vựng các hoạt động tác động lên động vật thủy sinh trong ca
dao
2.1.3. Nguồn gốc và kiểu cấu tạo của các đơn vị từ vựng thuộc trường tên gọi
các loài động vật thủy sinh trong ca dao
2.1.3.1. Nguồn gốc của tên gọi
2.1.3.2. Về kiểu cấu tạo của tên gọi
2.1.4. Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp ở lời ca dao của các đơn vị từ
vựng thuộc tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao…………………
2.1.4.1. Chủ ngữ
2.1.4.2. Vị ngữ
2.1.4.3. Bổ ngữ
2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh
trong ca dao
2.2.1. Ý nghĩa cụ thể
2.2.2. Ý nghĩa biểu trưng
2.2.2.1. Biểu trưng cho tình yêu, hạnh phúc, hôn nhân
2.2.2.2. Biểu trưng cho người phụ nữ
2.2.2.3. Biểu trưng cho những đức tính của con người trong xã hội
KẾT LUÂN
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học dân gian người Việt, ca dao dân ca là những sáng
tác được phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền, sức tác động mạnh mẽ vào
bậc nhất. Ca dao là mảnh đất nghệ thuật vô tận của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Người đầu tiên đề cập trực tiếp biểu tượng con vật trong ca dao là Vũ Ngọc
Phan tác giả của cuốn sách: “Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam”. Trong công
trình này tác giả nhấn mạnh: “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân
dân về cuộc đời: Đời người với đời con cò và con bống”, “Người lao động lấy
những con vật nhỏ bé để tượng trưng cho cuộc sống lam lũ của mình”, hay
“Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao
dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào nghệ
thuật, lấy cuộc đời của những con vật trên đây là tượng trưng vài nét đời sống
của mình” [35, 71]
Năm 1992 trong “Thi pháp ca dao”, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã dành hẳn
một chương để viết về các biểu tượng như con bống, con cò. Tác giả cho rằng:
“Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan thể hiện trong quan
điểm thẩm mĩ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả)
từng thời đại, từng dân tộc, từng khu vực” [26]
Trong cuốn “Ca dao Việt Nam và những lời bình”, tác giả Vũ Thị Thu
Hương đã tập hợp các bài viết về biểu tượng con vật, thiên nhiên trên các báo,
tạp chí khác nhau của nhiều tác giả: Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ, Đặng
Hiến, Phan Thị Thanh Nhàn …
Tác giả Mai Ngọc Chừ trong bài viết “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” cho rằng:
“Ngôn ngữ ca dao không chỉ mang chức năng thông báo thuần túy mà còn có
thông báo thẩm mĩ” [11,123]
Tác giả Đặng Hiến với bài viết “Hình tượng con cò trong ca dao và thơ” đã
kết luận cánh cò là mô típ quen thuộc của ca dao.
Tác giả cuốn “Những thế giới nghệ thuật trong ca dao” (Phạm Thu Yến) đã
nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian tương đối toàn diện, khẳng
định biểu tượng - yếu tố nghệ thuật đặc thù gắn với đặc trưng loại thể. Tuy
3
nhiên tác giả đi vào lí luận chung chứ không đi sâu vào các tín hiệu từ ngữ được
lựa chọn trở thành biểu tượng trong ca dao.
vựng “động vật”) cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Năm 1975, GS. Đỗ Hữu Châu trình bày cụ thể về khái niệm “Trường” và
việc nghiên cứu từ vựng trong cuốn “Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ
thống từ vựng”. Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng, căn bản cho đề tài của chúng
tôi. Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào những nội dung cơ bản trong cuốn “Từ
vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu - in lần thứ 2, 1996) để có được
khung lý thuyết vững chắc cho đề tài này.
Ở Việt Nam, đã có một số trường từ vựng - ngữ nghĩa được nghiên cứu
với nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, thể hiện qua những công trình sau:
Luận án PTS “Trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người” của Nguyễn
Đức Tồn năm 1988. Năm 1996, Nguyễn Thuý Khanh hoàn thành luận án PTS
“Đặc điểm Trường từ vựng- ngữ nghĩa tên gọi động vật”.
Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn thạc sĩ “Cấu trúc ngữ nghĩa
của vị từ thuộc trường thực vật” nhằm chỉ rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ nghĩa
hoặc sự chuyển nghĩa của các vị từ thuộc trường thực vật.
Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình “Tìm hiểu đặc trưng văn
hoá- dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những
dân tộc khác)”. Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của
trường tên gọi thực vật (chương thứ tám). Trong đó, tác giả đã trình bày cụ thể,
chi tiết về cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật, sự chuyển nghĩa
và ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ thực vật.
Như vậy có thể khẳng định: Thế giới động vật trong ca dao đã là những đề tài
nghiên cứu được các tác giả của nhiều công trình khoa học đề cập đến ở một số khía
cạnh khác nhau. Dù ở góc độ nào xu hướng nghiên cứu chung vẫn là xoay quanh
mối quan hệ giữa chúng và con người, những nhận thức của con người về chúng và
tác động ảnh hưởng của những yếu tố đó đến cuộc sống sinh hoạt con người.
Tuy nhiên các công trình, bài viết trên chưa đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu một
cách đầy đủ và cụ thể về các loài động vật thủy sinh xuất hiện trong kho tàng ca
dao người Việt. Vì thế đề tài của chúng tôi là sự kế tục những kêt quả nghiên
Chúng tôi chọn những danh từ gọi tên các loài động vật thuỷ sinh xuất hiện
6
trong ca dao để khảo sát, nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng tôi không thể tập trung
nghiên cứu toàn bộ các danh từ, danh ngữ gọi tên các loài động vật thuỷ sinh
trong ca dao mà chỉ đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá các tên gọi các loài động
vật thuỷ sinh tiêu biểu mang biểu tượng văn hoá (hay có vai trò là biểu tượng).
Việc giới han đối tượng nghiên cứu như trên đã tạo điều kiện để chúng tôi
đi sâu và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ của đề tài một cách thuận lợi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích dựa trên nguồn tư liệu
chính là tổng tập “Kho tàng ca dao người Việt” (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính,
Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), NXB Văn hoá - thông tin, Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê có định hướng từ 11825 câu
ca dao trong “Kho tàng ca dao người Việt” để tìm ra từ ngữ chỉ tên gọi các loài
động vật thủy sinh. Sau đó chúng tôi phân loại định hướng kết hợp với phân loại
định tính trên những đơn vị ngữ liệu chủ yếu
- Phương pháp phân tích và miêu tả: Để miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của
tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao phải dựa trên sự phân tích đặc
trưng cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của các từ đã thống kê và phân loại trên.
Chúng tôi còn phân tích đặc trưng cấu trúc của các từ ngữ để tìm ra nét
nghĩa biểu vật của chúng. Trên cơ sở đó chúng tôi phân lập và miêu tả các cấu
trúc ngữ nghĩa
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch, phương pháp hệ thống…( được sử dụng
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Khái niệm trƣờng từ vựng
Trường là khái niệm được dùng với nhiều nghĩa. Ngoài các nghĩa thông
thường như trường đua, trường bắn, quảng trường (chỉ khoảng đất rộng và bằng
phẳng, chuyên làm nơi tiến hành một loại hoạt động nhất định có đông người
tham gia), hay trường quốc tế, trường ngôn luận, trường danh lợi (chỉ nơi diễn ra
các hoạt động xã hội, chính trị sôi nổi)….còn có nghĩa chuyên môn trong toán
học, vật lí học, sinh học, tin học, ngôn ngữ học. [37.1057]
Trong từ vựng học ở nước ta hiện nay có ba thuật ngữ: Trường từ vựng -
ngữ nghĩa, trường nghĩa, trường từ vựng cùng chung một khái niệm. Tuy nhiên
ở nước ngoài và một số học giả Việt Nam gần đây lại có chủ chương phân biệt
trường nghĩa với trường từ vựng. Theo họ trường nghĩa là tập hợp từ đồng nhất
về ngữ nghĩa.
Chúng tôi chọn thuật ngữ trường từ vựng theo quan điểm của GS Đỗ Hữu
Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” làm cơ sở lí thuyết cho đề tài này
Trong thực tế vốn từ của một ngôn ngữ thường quá lớn và quá phức tạp
nên những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp
giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên. GS Đỗ Hữu Châu khẳng định:
“Những quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt các từ sẽ hiện ra khi
đặt được các từ (nói cho đúng là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con
thích hợp. Nói cách khác tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua
Từ hai dạng quan hệ là quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F.de.Sausuare
chỉ ra trong giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương”, giáo sư đã phân ra hai loại
trường nghĩa:
- Trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến)
- Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính).
Cơ sở để phân lập trường trực tuyến là căn cứ vào hai thành phần ý nghĩa:
ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm. Theo GS Đỗ Hữu Châu có thể phân ra hai
trường nghĩa: Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
10
+ Trưởng biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật
nào đó.
Để xác lập một trường biểu vật, chúng ta có thể chọn một danh từ rồi tìm
tất cả các là danh từ, động từ, tính từ cùng chung ý nghĩa biểu vật với từ đó.
Ví dụ 2:
Trường biểu vật “ người”
Người nói chung:
- Người nói chung xét về giới tính: nam, nữ, đàn ông, đàn bà.
- Người nói chung xét về tuổi tác: trẻ em, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên,
trung niên, cụ già.
- Người nói chung xét về nghề nghiệp: thầy giáo, giáo viên, công nhân,
nông dân….
- Người nói chung xét về chức vụ: giám đốc, hiệu trưởng, chủ tịch, chủ
nhiệm, tổ trưởng.
+ Trường biểu niệm là một tập hợp những từ có chung một cấu trúc biểu niệm.
Để xác lập một trường biểu niệm, chúng ta dựa vào nét nghĩa đồng nhất nào
đó trong nghĩa biểu niệm.
Ví dụ 3:
Dựa vào nét nghĩa năng lực của mắt chúng ta có lập một trường biểu niệm
gồm: đờ đẫn, lờ đờ, sắc, tinh, tốt, kém, toét, mù, lòa….
Nói chung các từ đi với một từ nào đấy nếu càng gần với nét nghĩa tận cùng
thì càng gần trung tâm của trường tuyến tính của một từ.
Như vậy để xác lập một trường tuyến tính chúng ta phải dựa hẳn vào cấu
trúc ngữ nghĩa của các từ. Cùng với trường nghĩa trực tuyến, trường nghĩa tuyến
tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ, phát hiện
những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ.
Vận dụng quan điểm về trường từ vựng (trường nghĩa) và sự phân chia,
phân lập trường nghĩa chúng tôi sẽ xác lập và phân loại trường từ vựng tên gọi
động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao theo
những tiêu chí ngữ nghĩa nêu trên.
12
1.2. Ca dao Việt Nam và thế giới động vật thủy sinh trong ca dao
1.2.1 Những hiểu biết chung về ca dao
Trong giới nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ ca dao được hiểu theo
ba nghĩa rộng hẹp khác nhau:
- Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến
trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng
nghĩa với dân ca.
- Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không
kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
- Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt
tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là một sáng tác
văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang
những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách. Và cao dao đã trở thành
một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.
Một số nguồn thông tin khác lại cho rằng thuật ngữ “ca dao” xuất hiện vào
khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX để chỉ những câu hát thôn dã đã được
Sự hiện diện của thiên nhiên trong ca dao phản ánh mối quan hệ gắn bó
giữa con người và môi trường cũng như vai trò của thiên nhiên trong tư duy
nghệ thuật của những sáng tác dân gian. Sự hiện diện này không chỉ thể hiện
lòng yêu mến quê hương đất nước của người dân, nét văn hóa đặc trưng của
từng vùng miền mà thông qua đó thiên nhiên còn là phương tiện diễn tả tình cảm
thể hiện triết lí quan niệm của con người về thế giới và cuộc sống.
Ngoài đặc điểm hình thức ngắn gọn, có vần điệu thì một trong những yếu tố
giúp ca dao có sức truyền cảm mạnh mẽ, dễ thuộc, đi vào lòng người chính là
việc ca dao sử dụng những yếu tố quen thuộc, gắn bó với cuộc sống của con
người như: cỏ, cây, hoa, lá, con tôm, con cua, con tép, con cá Làm phương
tiện thể hiện tư tưởng, tâm tư, tình cảm của con người. Khi đi vào ca dao những
sự vật bình dị đó đã được khái quát hóa và trở thành những biểu tượng có tín
hiệu thẩm mĩ cao, có những đặc điểm độc đáo riêng biệt.
Ví dụ 7:
Bấy lâu lên ngọn sông Tân
Muốn tìm cá nước phải lần trời mưa
14
Tiếc công anh đắp đập coi bờ
Để ai quảy đó, đem lờ đến đơm. [27, 285]
Ví dụ 8:
Buổi mai em xách cái giỏ
Em xuống dưới ao em bắt con cua
Em bỏ vô cái thõng, hắn kêu cái rỏng
Hắn kêu cái rảnh, hắn kêu một tiếng: Chàng ơi!
Chàng đã yên phận tốt đôi
Em nay lẻ bạn mồ côi một mình. [27, 326]
1.2.2.2. Thế giới động vật thuỷ sinh trong ca dao
Một số lượng không nhỏ những bài ca dao mang nghệ thuật gắn với việc
vật (động vật thủy sinh) cho nên trong con người Việt Nam đã hình thành một
nét tâm lý đặc trưng đó là yêu thích, sống gần gũi chan hòa với các loài động
vật. Bản thân các con vật như tôm, cua, cá, ốc, tép vốn chỉ có đời sống động
vật, không có cảm xúc nói năng nhưng con người Việt Nam đã thổi hồn vào
khiến chúng trở nên có tâm tư tình cảm của con người. Họ xem chúng là bạn, là
ân nhân, mang những đức tính tốt xấu đại diện cho hình ảnh chính bản thân
mình với những tình cảm tha thiết gắn bó. Thế giới động vật trở nên sống động,
thấm đượm hồn người và trở thành thế giới biểu tượng đầy ý nghĩa. Như vậy
hình ảnh các con vật (các loài động vật thủy sinh) đã trở thành biểu tượng của
cộng đồng. Đó là kết quả tất yếu của quá trình nhận thức tự nhiên.
Tìm hiểu về biểu tượng động vật thủy sinh, vấn đề then chốt của đề tài, đó
là chỉ rõ đặc điểm của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong
ca dao. Chũng tôi mong muốn đi sâu khám phá, tìm hiểu những đặc sắc của văn
hóa cộng đồng được thể hiện qua hình ảnh các loài động vật thuỷ sinh gần gũi,
gắn bó với đời sống con người trong ca dao. Bên cạnh đó chúng tôi còn mong
muốn tìm hiểu về đời sống riêng của các loài động vật thủy sinh và giá trị về
mặt vật chất cũng như tinh thần mà chúng đem lại trong nhận thức của người
Việt. Bởi lẽ một loài động vật có thể trở thành biểu tượng khi loài đó có nét
tương đồng nào với cuộc sống của con người.
16
Quan trọng hơn trong các trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy
sinh trong ca dao, dựa vào tần số xuất hiện và ý nghĩa biểu tượng của chúng ta
có thể dễ dàng giải đáp cho câu hỏi vì sao những loài vật này thường được được
đề cao ca ngợi.
1.3 . Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt
chẽ không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa
chứa đựng trong ngôn ngữ. Người ta nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của
vật thuỷ sinh để nói về văn hoá của cộng đồng, dân tộc mình.
Qua ca dao con người có thể hình dung được một bức tranh toàn cảnh về
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người, với những thế giới hình
ảnh phong phú, con vật, thực vật, đồ vật gắn bó gần gũi với cuộc sống của dân
tộc Việt.
18
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Chúng tôi xem xét trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh
trong ca dao và các tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao từ góc độ ngôn
ngữ văn hóa. Các loài động vật đã trở thành những phương tiện đắc lực trong
việc tạo lập ra các lời ca dao. Các loài động vật thuỷ sinh như: cá, tôm, cua,
tép đã được nhắc đến với tần số cao gắn liền với phong tục tập quán sinh hoạt
của người dân Việt Nam.
Tìm hiểu về đề tài: “Trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các
tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao” chúng ta sẽ chỉ ra cách, lối diễn
đạt, cách tư duy của con người lao động xưa nhằm nâng cao nhận thức và tư duy
văn hóa về thế giới tự nhiên nói chung và thế giới động vật nói riêng của con
người.
trắng, ……
Trong cấu tạo tên gọi các loài động vật thuỷ sinh có thể là kết hợp hai
danh từ với nhau, trong đó một danh từ là cái được xác định và danh từ kia đóng
20
vai trò là định ngữ, bổ sung ý nghĩa, làm cụ thể hóa ý nghĩa cho danh từ được
xác định.
Ví dụ 4:
Ốc vàng, tôm hùm, tôm càng, chim sẻ, anh vũ, rái cá, cá quả, cá chép, cá
khoai, cá trê,
Cũng có thể là kết hợp giữa danh từ và tính từ.
Ví dụ 5:
Cá trắm /đen, cá mè /hoa, cá trê/ vàng, trạch/ đỏ đuôi, báo/ gấm, cầy/ vằn,
quạ /khoang, sói /đỏ, mèo/ vàng, mèo/ mướp, mèo/ tam thể, chó/ đốm …
Tất cả các cách cấu tạo từ nêu trên đã tạo ra trong trường động vật hệ
thống các tên gọi khác nhau mang đậm dấu ấn, đặc điểm của loại hình ngôn ngữ
tiếng Việt.
Trong các loài động vật xuất hiện trong ca dao, các loài động vật thủy
sinh cũng chiếm một số lượng lớn, giữ vai trò quan trọng góp phần tạo nên sự
phong phú đa dạng của những lời ca dao. Đồng thời tên gọi những loài động vật
thủy sinh xuất hiện trong ca dao cũng có cấu tạo rất phong phú.
2.1.2 Đặc điểm cấu tạo của trường từ vựng tên gọi các loài động vật
thủy sinh trong ca dao
Có thể khẳng định rằng thế giới động vật thuỷ sinh tràn ngập trong ca
dao. Thế giới động vật thuỷ sinh ngoài đời phong phú, đa dạng như thế nào thì
đi vào ca dao nó cũng phong phú đa dạng như thế. Chúng để lại dấu ấn đậm nét
trong đời sống sinh hoạt, lao động của con người, đặc biệt là người nông dân
sống ở các làng quê Việt Nam.